Mới từ đầu năm 2009 tới nay, mà riêng tại miền thủ đô Washington DC, tôi đã mất đi đến hai người bạn thân quý. Đó là anh Nguyễn Tự Cường mất vì tai nạn ở Thái Lan vào giữa tháng Giêng, mới ở tuổi 60. Và mới đây vào giữa tháng Hai, thì là anh Phó Bá Long từ giã cõi đời ở tuổi 87. Anh Cường là người rất tích cực tham gia trong công cuộc tranh đấu cho Nhân quyền từ nhiều năm nay. Anh luôn giữ thái độ khiêm tốn, âm thầm làm việc, nên được sự mến chuộng của nhiều người ở vùng thủ đô nước Mỹ.

Còn anh Phó Bá Long, thì là người bạn thân thiết với tôi từ gần 50 năm qua, vào hồi đầu thập niên 1960 ở Sai Gòn. Ngay từ hồi tôi còn là sinh viên theo học tại Đại học Luật khoa vào giữa thập niên 1950, thì khá đông các anh Hùynh Văn Lang, Nguyễn Ngọc Linh, Phó Bá Long, Trần Long, Nguyễn Thái, Bùi Kiến Thành, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Văn Mừng, Nguyễn Văn Thơ, và các Chị Phan Nguyệt Minh, Phan Ngọc Quới, Nguyễn Thị Quýt, Phạm thị Thu, Vũ Nhất Thanh, Phạm Thị Ngọ v.v…mới du học ở Mỹ lần lượt về miền Nam Việt nam. Các anh chị là những chuyên viên trẻ ở tuổi “tam thập nhi lập”, đã đem lại một luồng sinh khí mới, rất năng động, tháo vát và phóng khoáng trong lãnh vực hoạt động văn hóa xã hội, vào những năm đầu của chế độ Việt nam Cộng hòa. Cụ thể như Trường Bách Khoa Bình Dân, Tạp chí Bách Khoa, Hội Việt Mỹ, Cơ Quan Viện Trợ Mỹ (USOM), Phái Bộ Đại Học Michigan v.v… là những cơ sở do các anh chị sáng lập, điều hành, hoặc tham gia tích cực chung với giới chức Mỹ trong ngành văn hóa xã hội… Có thể nói đây mới chính là cách thể hiện đúng cái “phong cách sống theo lối Mỹ” (the American way of life), mà các anh chị đã tiếp thu được trong thời gian du học tại Hoa kỳ.
 
Giáo sư Phó Bá Long (bên phải). Nguồn: giadinhthunhan.com

Vào năm 1960-61, tôi cũng được đi du học tu nghiệp ở Mỹ, nên có điều kiện học hỏi, quan sát cụ thể về lề lối sinh hoạt tại quốc gia, mà trước đó tôi chỉ được biết đến qua sách vở báo chí. Vào năm 1961, sau khi ở Mỹ về, thì tôi có dịp tham gia sinh hoạt với Nhóm Trí Thức Công Giáo Pax Romana, và qua đó thì quen biết gần gũi với nhiều bậc đàn anh đàn chị mà phần đông đã du học ở Âu châu hay Mỹ trở về. Anh Phó Bá Long là một trong những thành viên hoạt động khá tích cực của Nhóm. Hồi đó, anh Long làm việc tại hãng xăng dầu Esso tại đường Thống Nhất Saigon. Năm 1962, vào tuổi 40, anh Long mới làm lễ thành hôn với chị Đặng Trung Nghĩa. Tôi có được mời tham dự đám cưới của hai anh chị, nhưng lúc đó tôi lại đang phải theo học tại trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức, nên đã không thể có mặt trong ngày vui này được.

Anh chị có căn nhà khá rộng rãi, thoáng mát gần với trường huấn luyện sĩ quan trừ bị Thủ Đức và nhóm Pax Romana chúng tôi đã được nhiều lần tới sinh họat tại ngôi nhà có vườn cây và cả hồ bơi này. Vào các năm sau 1963, anh Long thường được mời tham dự vào Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội cùng với nhiều vị giáo sư của tôi tại trường luật như Giáo sư Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Cao Hách. Có thời anh còn được mời làm Bộ trưởng Bộ Lao Động. Nhưng phần nhiều, anh làm việc trong lãnh vực kinh tế, ngân hàng là ngành chuyên môn của anh, kể từ khi anh theo học về “Quản trị kinh doanh“ (Business Administration) tại Đại học Harvard vào giữa thập niên 1950.

Sau này, anh Long chuyển hẳn sang ngành giáo dục, và là một vị giáo sư nòng cốt của Phân Khoa Chính Trị và Kinh Doanh thuộc Trường Đại Học Đà Lạt. Và anh tỏ ra say mê, thích thú với công việc này, khi đã vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”.

Năm 1975, anh Long đưa cả gia đình qua Mỹ. Mãi đến năm 1989, tôi mới gặp lại anh ở Hà Nội trong dịp anh dẫn Linh mục Khoa trưởng của Đại học Georgetown ở Mỹ để đàm phán về việc mở các khóa học về Quản trị kinh doanh ở Việt nam.Tôi cũng gặp cả người em gái là Phó Thị Thanh Liêm về Hà Nội để thăm viếng bà cụ ở với anh Phó Bá Doanh là người em kế với anh Long. Rồi khi trở về Sài Gòn, thì tôi gặp lại cả chị Nghĩa với anh Long nữa. Anh Long cũng tìm cách đến thăm Đức Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình, Luật sư Nguyễn Văn Huyền và nhiều bạn hữu xưa. Anh cho biết hồi mới qua Mỹ, vì các cháu còn nhỏ, nên anh chị rất bận rộn, phải làm đủ thứ nghề, có khi làm đến 2-3 job, thì mới có thể lo lắng chăm sóc chu đáo cho cả lũ 6 đứa con được.

Sau đó, vào đầu năm 1990 thì tôi bị đi tù. Mãi tới năm 1996, gia đình tôi mới được qua định cư ở California. Và chỉ đến năm 2007, thì tôi mới gặp lại anh chị tại vùng thủ đô Washington DC. Nhiều lần, tôi đã đến sinh sống ít ngày tại nhà anh chị ở thành phố Mclean nằm sát với thủ đô. Vào tuổi 85-86, anh đã yếu nhiều, không còn lái xe được nữa. Nhưng đầu óc thì vẫn minh mẫn sáng suốt. Anh có rất nhiều sáng kiến, gợi ý cho tôi nên làm việc này chuyện nọ; và chúng tôi đã có rất nhiều thời giờ để đàm đạo trao đổi với nhau trong sự thông cảm, tâm đầu ý hợp, rất ư là tương đắc. Anh chị dành cho tôi mọi sự dễ dãi, tiện nghi để tôi theo đuổi việc nghiên cứu của tôi tại Thư viện Quốc hội Mỹ. Và tôi thật thoải mái sử dụng computer và máy in tại phòng làm việc riêng của anh. Buổi chiều anh thường dẫn tôi ra vườn sau đi bộ trên lối đi do anh sắp xếp gạch đá, lót thảm và cả cầu gỗ, lối đi dọc theo bờ tường sát với nhà hàng xóm. Anh nói đây là “chặng đường thánh giá” để cho anh vừa đi vừa suy gẫm, đọc kinh và gợi nhớ lại biết bao kỷ niệm của những người thân thương với anh trong suốt một cuộc đời nhiều biến động của anh.

Đặc biệt anh Long kể lại cho tôi nghe về mối liên hệ mật thiết của anh với Linh mục Pacific Nguyễn Bình An hồi xưa là Tuyên úy của Pax Romana, mà tôi cũng rất gần gũi, gắn bó khi chúng tôi cùng sinh hoạt chung với nhau hồi thập niên 1960 ở Sài Gòn. Anh tâm sự: Cha An quả là một vị tu sĩ thánh thiện và uyên bác. Nhờ cha mà đời sống đức tin của anh được tăng cường bền vững hơn. Cha thuộc dòng Phanxico khó nghèo, luôn sống đơn sơ, khổ hạnh, mà lại hết lòng phục vụ tha nhân. Cả gia đình mấy em của anh cũng đều quý mến cha, ngay từ những năm 1951 ở Pháp, cha đã tận tình giới thiệu cho anh và các em được trú ngụ tại nhà của những người bạn Pháp của cha,  để mà theo đuổi chuyện học tập trước khi được chuyển qua bên nước Mỹ. Và sau này ở Sài Gòn, thì anh lại có duyên gặp lại cha thường xuyên, nhất là những ngày cha lâm trọng bệnh và qua đời tại tu viện kế sát với nhà anh ở Thủ Đức. Các chi tiết như thế này, anh đã ghi lại rất cảm động trong 2 tập của cuốn hồi ký tự thuật bằng tiếng Anh nhan đề là: “On the Long Way Home”. Cuốn sách tự thuật in ấn khiêm tốn đơn giản chỉ cốt để phổ biến hạn chế này, cháu Đoàn Chính Trực là con trai út của tôi đã say mê đọc hết, và cháu coi đó là cuốn hồi ký hay nhất mà cháu được biết. Mặc dầu cháu chưa hề có dịp được gặp Bác Long.