Danchimviet - http://danchimviet.com
Ý kiến về đình công và giải pháp mong muốn của Công Đoàn Việt Nam
http://danchimviet.com/articles/875/1/Y-kin-v-inh-cong-va-gii-phap-mong-mun-ca-Cong-oan-Vit-Nam/Page1.html
Nguyễn Quang Nhàn

 
Tác Giả Nguyễn Quang Nhàn
Đăng/Published on 20.02.09
 
Việt Nam không đa nguyên công đoàn; Công Đoàn Việt Nam “một mình một chợ”, đã có quá trình lịch sử gần 80 năm vì sao hiện nay vẫn không mạnh, không có khả năng lãnh đạo người lao động đình công đúng pháp luật?

I. Đình công tại Việt Nam vẫn là vấn đề đang làm cho Đảng “của giai cấp công nhân”, Quốc hội, công đoàn VN nhiều “vất vả” và đang loay hoay tìm giải pháp… Đã có nhiều cuộc Hội thảo, đề tài nghiên cứu để tìm lối ra, kể cả nhiều lần sửa đổi Bộ luật lao động, và sắp tới, cả Luật Công Đoàn (CĐ). Nhưng “vấn đề” cũng đang là “vấn đề”….   
        
Qua đề tài "Nghiên cứu về đình công ở Việt Nam và đề xuất giải pháp của Công Đoàn" do TS Dương Văn Sao - Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Tổng liên đoàn làm chủ nhiệm đã nêu ra được những thực trạng và nguyên nhân đình công của công nhân thời gian qua, đó là “không chỉ xuất phát từ sự vi phạm pháp luật của người sử dụng Lao Động (LĐ) mà đình công ngày càng bắt nguồn nhiều hơn từ xung đột trực tiếp về lợi ích giữa người sử dụng Lao Động và Người Lao Động; từ chỗ đình công thụ động đến chủ động đình công nhằm tăng cường lợi ích của Người Lao Động; là do sự “khác biệt về văn hoá”, có thể đúng trong khu vực đầu tư nước ngoài, song chỉ là "giọt nước tràn ly"; là do cơ cấu Ban Chấp Hành. Công Đoàn Cơ Sở, chủ tịch công đoàn là “những Cán Bộ quản lý của doanh nghiệp; do năng lực, trình độ cán bộ công đoàn trong “thương lượng, đàm phán” có những yếu kém nên  người lao động “chưa thực sự tin tưởng vào năng lực của Cán Bộ Công Đoàn”…. (Báo Lao Động số 15 Ngày 19/01/2009 ) 

Qua ý kiến Hội thảo “Hoàn thiện Luật Công Đoàn và pháp luật Lao Động, góp phần xây dựng quan hệ Lao Động hài hoà, ổn định” do Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam phối hợp với Uỷ ban về các Vấn Đề Xã Hội (VĐXH) của Quốc hội tổ chức, các ý kiến đề cập nguyên nhân về pháp luật. Luật “Lao Động và Công Đoàn” còn một số điểm chưa phù hợp với thực tiễn, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung; một số thiết chế hỗ trợ cho quan hệ Lao Đông chưa hiệu quả”; "Trình tự thủ tục do luật pháp quy định hiện nay có thể quá phức tạp để Người Lao Động tuân theo tổ chức một cuộc đình công đúng luật”; “Việc sửa đổi Chương 14 của Bộ Luật Lao Động đã đưa ra được một số cải thiện, tuy chưa được hoàn hảo. Thậm chí, sau khi Chương 14 được sửa đổi, tất cả các cuộc đình công xảy ra sau đó vẫn là tự phát”; do “cơ chế ba bên“ kém phát triển, không hiệu quả cả về phương diện pháp lý và thực tiễn…”; “năng lực hạn chế của đội ngũ Cán Bộ Lao Động, nhất là Công Đoàn Cơ sở”; vai trò và trách nhiệm của Công Đoàn cấp trên Công Đoàn Cơ Sở trong quan hệ Lao Động lại khá mờ nhạt”; (Báo Lao Động số 25, Ngày 06/02/2009)

Những ý kiến được nêu trên về thực trạng, không sai nhưng vấn đề mọi người quan tâm là  giải pháp nào để giải quyết vấn đề? Theo TS Dương Văn Sao,” Xét cả về lý luận và thực tiễn, giải pháp căn bản, bền vững là tự thân Công Đoàn Cơ Sở, mỗi Cán Bộ Lao Động phải tạo được cho mình thực lực hoặc ít nhất là những khả năng thực tế để có thể "độc lập" trong đại diện, bảo vệ quyền lợi tập thể Người Lao Động, tiếp đó mới đến việc sửa đổi cơ chế, chính sách...”; ”Công Đoàn phải tạo sức mạnh từ chính Người Lao Động!" Công Đoàn phải tự khẳng định vị thế của mình ngày càng mạnh hơn để thực sự bảo vệ được lợi ích của Người Lao Động”…

Những vấn đề trên, theo tôi, là đáng bàn.

Việt Nam không đa nguyên công đoàn; Công Đoàn Việt Nam “một mình một chợ”, đã có quá trình lịch sử gần 80 năm vì sao hiện nay vẫn không mạnh, không có khả năng lãnh đạo người lao động đình công đúng pháp luật? Các cuộc đình công của công nhân vì sao đều “tự phát”, không có sự lãnh đạo của công đoàn? Vì sao  người lao động thiếu tin tưởng công đoàn và cán bộ công đoàn? Cán bộ công đoàn hiện nay là của ai? Có phải là người đại diện, bảo vệ các quyền, lợi ích người lao động hay là của ai khác? “Thực lực” của công đoàn là ở đâu? Vì sao công đoàn chưa có thực lực mà nay phải cần tạo thực lực? Vì sao lâu nay Công Đoàn chưa  độc lập và nay cần những khả năng thực tế “để có” độc lập ”trong đại diện, bảo vệ quyền lợi tập thể lao động?”... Nguyên nhân sâu xa của nó là gì?  

II. Trong tư duy, nhận thức của không ít cán bộ công đoàn Việt Nam hiện nay chưa thoát ra khỏi tư duy công đoàn trong cơ chế bao cấp và cơ chế đảng lãnh đạo; chưa độc lập tư duy để nhận thức đúng bản chất và vai trò của tổ chức công đoàn trong nền kinh tế thị trường. Không ít cán bộ công đoàn không phân biệt rõ ràng những tính chất và lợi ích khác nhau của 2 thành phần lao động trong doanh nghiệp, dù tất cả đều thực hiện ký kết Hợp đồng lao động với Chủ doanh nghiệp. Một là lao động quản lý và phục vụ quản lý, phục vụ cho lợi ích của chủ doanh nghiệp và một là lao động của người công nhân bị quản lý, lực lượng hình thành nên quan hệ lao động tại doanh nghiệp... Trong doanh nghiệp nhà nước tất cả đều là đoàn viên công đoàn, kể cả giám đốc doanh nghiệp. Mô hình ấy được vận dụng vào mô hình doanh nghiệp các thành phần kinh tế khác! Chủ tịch công đoàn đại đa số là cán bộ quản lý của doanh nghiệp vì cho rằng, chủ tịch công đoàn là công nhân lao động thì không có trình độ, khả năng để “tham gia quản lý”, “bảo vệ Người Lao Động”; Hoặc, Giám đốc doanh nghiệp cũng là người làm thuê cho Chủ doanh nghiệp, nếu giám đốc doanh nghiệp là đoàn viên công đoàn thì sẽ “quan tâm, hỗ trợ” cho công đoàn hoạt động tốt hơn(!). Trong thực tế xây dựng, thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, Chủ tịch, ủy viên Ban chấp hành công đoàn là kết quả của sự “thương lượng”, “thỏa thuận” trước giữa công đoàn cấp trên với Giám đốc doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp nhà nước đó là “sự phân công” của cấp ủy đảng... 

1. Nếu xét về “trình độ, năng lực”, người quản lý, phục vụ bộ máy quản lý của doanh nghiệp, trình độ (quản lý) tất nhiên hơn người lao động nhưng hơn là để “quản lý công nhân, phục vụ lợi ích của Chủ doanh nghiệp chứ đâu phải là “sống cùng khổ”, có “cùng lợi ích” với người lao động! Trình độ cán bộ công đoàn là người lao động có phải là thấp kém và hạn chế? Bản chất của công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích của người lao động để tự bảo vệ mình chứ đâu  phải là để ”giáo dục” công nhân; “tham gia quản lý”, “tham mưu” cho doanh nghiệp. Trong thực tế trình độ công nhân có những “hạn chế” nhưng “cha nó lú, chú nó khôn”. Nếu công đoàn thực sự là của giai cấp công nhân và người lao động thì vẫn có nhiều cách để giải quyết, còn như công đoàn trong “cơ chế” như hiện nay dù có tăng cường cán bộ công đoàn là “chuyên trách” tại doanh nghiệp, hưởng lương chuyên trách công đoàn hẳn hoi chứ không phải của giới chủ, không phải là cán bộ của ông chủ (như trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước(!)…thì cán bộ công đoàn cũng không thể phát huy được vai trò; Cán bộ ấy cũng chỉ là cán bộ công chức nhà nước công đoàn, chưa phải là người của công nhân, đại diện của người lao động... 
 
Về vai trò của công đoàn, hiện nay Công Đoàn Việt Nam vẫn cứ theo “kinh điển” là “cầu nối liền” giữa đảng Cộng Sản và người lao động; hoặc là “cầu nối liền giữa doanh nghiệp và người lao động” như ý kiến của lãnh đạo Liên hiệp công đoàn Hàn quốc làm việc với lãnh đạo Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam (Lao Động số 241 Ngày 18/10/2008 ), trong khi tỷ lệ đình công trong các doanh nghiệp Hàn Quốc là cao nhất. Vả lại, công đoàn Việt Nam chỉ quen làm “cầu” nên đã quên đi, mất ý thức vai trò “đại diện, bảo vệ” người lao động của mình. Vai trò công đoàn đã xác định không đúng bởi Công Đoàn Việt Nam đứng “nhầm chổ”, sai vị trí thì làm sao có “vị thế”! Công Đoàn Việt Nam đứng về phía Đảng, nhà nước, Chủ doanh nghiệp chứ đâu phải đứng về phía người lao động. “Vị thế”, “chổ đứng” của Công Đoàn Việt Nam là đứng cùng với những kẻ nắm quyền lực lãnh đạo nhân danh giai cấp công nhân chứ đâu phải sống với công nhân, đứng về một phía với giai cấp công nhân, đâu có cùng nhìn một hướng, sống cùng lợi ích với công nhân, người lao động, và  như vậy, làm sao công đoàn có thể ”tạo sức mạnh từ chính Người Lao Động”; “đại diện” người lao động và cán bộ công đoàn có thể “đứng”, tạo “thực lực”, có niềm tin ở người lao động? Cho nên, vấn đề  là công đoàn phải xác định đúng vị trí, vai trò của mình là “tổ chức của công nhân lao động, sống và đứng cùng một phía với công nhân lao động, tất cả vì lợi ích của công nhân lao động chứ không thể mãi làm cây chùm gửi như hiện nay…


2. Mô hình tổ chức công đoàn hiện nay là công đoàn nhà nước, chủ yếu là để quản lý công nhân-lao động. Chủ trương của Công Đoàn Việt Nam là tăng cường xây dựng công đoàn cấp Huyện. Tăng cường vai trò Công Đoàn cấp Huyện chính là để tăng cường vai trò từng cấp ủy đảng để lãnh đạo công đoàn, quản lý công nhân. Lợi ích, sức mạnh của công đoàn là ở ngành nghề và mô hình cần phải tổ chức để phát huy sức mạnh của người công nhân lao động chính là mô hình công đoàn ngành (nghiệp đoàn) nhưng lãnh đạo Công Đoàn Việt Nam cố tình xem nhẹ, và có những lãnh đạo của Tổng Liên Đoàn Lao Đông Việt Nam hô hào cần phải xóa bỏ mô hình tổ chức công đoàn Ngành(!). Những quan điểm ấy có phải vì tổ chức công đoàn và người lao động hay là một ý đồ chính trị, vì một lợi ích nào khác?!

Đảng, Nhà nước, công đoàn Việt Nam vừa muốn tổ chức công đoàn mạnh nhưng lại sợ sức mạnh của tổ chức công đoàn. Biết rằng hệ thống tổ chức công đoàn cần phải tổ chức theo mô hình ngành nghề; công đoàn phải là tổ chức  độc lập thuộc xã hội dân sự chứ không phải là tổ chức trong hệ thống tổ chức chính trị - xã hội nhà nước như hiện nay. Nếu tổ chức công đoàn theo mô hình công đoàn ngành nghề (nghiệp đoàn) thì vai trò của cấp ủy đảng sẽ mờ nhạt và không còn; quy mô và tính chất tổ chức, hoạt động phạm vi cả nước chứ không phải chỉ thu hẹp trong phạm vị cơ sở doanh nghiệp, nhất là trong tổ chức lãnh đạo đình công… công đoàn ngành, cấp trên cơ sở doanh nghiệp là người lãnh đạo đình công chứ không phải là công đoàn cơ sở. Muốn vậy, Bộ luật lao động phải sửa đổi - đình công không thể trong phạm vi doanh nghiệp và cũng không thể có những doanh nghiệp không được phép đình công. Công đoàn là tổ chức đại diện; hệ thống tổ chức công đoàn là hệ thống đại diện và thỏa ước tập thể ngành phải có giá trị thực tế trong toàn ngành, trong đó có cả quyền lãnh đạo đình công trong phạm vị toàn ngành.…

Mô hình công đoàn Huyện chỉ là mô hình áp đặt, triệt tiêu sức mạnh công đoàn, mục đích là chia cắt lực lượng công nhân trong từng phạm vi doanh nghiệp; quản lý theo từng địa bàn; tăng cường hệ thống chính trị - xã hội (chuyên chính) theo từng địa bàn để dễ dập tắt “đám cháy” trong công nhân. Bởi vậy, Bộ luật lao động mới quy định - đình công chỉ trong phạm vi doanh nghiệp; Công đoàn, cơ quan lao động, công an, nhà nước, đoàn thanh niên CS…là người “phòng” và “chống cháy”; “cháy” nơi nào “dập tắt” nơi ấy…Bởi vậy, Tổng Liên Đoàn Lao Đông Việt Nam đã chia cắt công đoàn giáo dục - từ trường cấp 2 trở xuống về cho Liên Đoàn Lao Động huyện; Khối cán bộ công chức  Huyện, kể cả xã, phuờng không nằm trong hệ thống Công đoàn viên chức VN; các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn giao cho công đoàn Huyện quản lý…. Nếu người lao động, doanh nghiệp ngành nghề nào tổ chức theo ngành nghề ấy, công đoàn Huyện sẽ không thể tồn tại… Bản thân cán bộ, công đoàn cấp Huyện không đủ khả năng, trình độ, năng lực để “đại diện”, đáp ứng các yêu cầu của công nhân lao động trong giải quyết các tranh chấp lao động; là cán bộ của cấp ủy đảng cử, nếu có, chỉ có thể “quản lý công nhân” theo sự lãnh đạo của từng cấp uy đảng và quyền của công nhân lao động chỉ trong phạm vị cơ sở theo quy chế thực hiện dân chủ cơ sở. Đình công, đối với công nhân lao động là vũ khí, là biện pháp cuối cùng của người lao động để tự bảo vệ mình nhưng với đảng, nhà nước, công  đoàn thì đó là những đám cháy cần phải dập tắt bằng những hình thức xoa dịu, hợp pháp hóa để giữ “ổn định chính trị” của sự lãnh đạo, độc quyền cai trị của đảng…

Cho nên, vấn đề là, công đoàn cần phải được tổ chức theo mô hình công đoàn ngành nghề (nghiệp đoàn) mới phù hợp quyền, lợi ích người lao động, phát huy sức mạnh tập thể ngành nghề của người lao động. Người lao động phải là chủ thể, là gốc của tổ chức và từ đó mới có quan điểm đúng để sửa đổi luật pháp - Luật lao động, công đoàn; xây dựng và thực hiện cơ chế ba bên; đảm bảo thực hiện đầy đủ vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn độc lập trong tổ chức, hoạt động và các quyền lãnh đạo đình công của công đoàn trong tất cả các ngành nghề, trong phạm vi cả nước, không có vùng cấm, và không chỉ trong phạm vi doanh nghiệp…

III. Cơ chế “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là cơ chế triệt tiêu sức mạnh, quyền dân chủ của nhân dân, công nhân lao động. Cơ chế ấy chì là cơ chế áp đặt, chuyên chế, quản lý nhân dân lao động trong một hệ thống nhà nước chuyên chính, tước đoạt quyền dân chủ của nhân dân chứ không phải là cơ chế dân chủ, phát huy quyền dân chủ của nhân dân và người lao động. Khi chủ thể tổ chức công đoàn thay đổi; Công nhân lao động là chủ thể; Công đoàn là tổ chức độc lập của công nhân lao động; Cán bộ công đoàn không phải là cán bộ công chức nhà nước mà là người đại diện của tập thể công nhân; Công đoàn tổ chức theo mô hình công đoàn ngành nghề, là tổ chức hoạt động độc lập thuộc xã hội dân sự chứ không phải là nhà nước đoàn thể… lúc đó công đoàn mới có sức mạnh từ người lao động; công đoàn mới là tổ chức của người lao động; công đoàn mới có khả năng lãnh đạo đình công; Công nhân lao động mới tin tưởng cán bộ và tổ chức công đoàn, lúc đó công đoàn mới có sức mạnh từ người lao động, mới có “thực lực” của mình và người lao động mới là người bảo vệ cán bộ công đoàn hiệu quả nhất …Nếu tổ chức công đoàn như hiện nay, với mong muốn “tự thân Công Đoàn CS, mỗi Cán bộ Công Đoàn phải tạo được cho mình thực lực hoặc ít nhất là những khả năng thực tế để có thể "độc lập" trong đại diện, bảo vệ quyền lợi tập thể Người Lao Động”, dù chỉ là “có thể độc lập” thôi cũng… chỉ là không tưởng!

© 2009 Đàn Chim Việt