- Trang Chủ
- Kinh Tế - Xã Hội
- Khủng hoảng kinh tế: câu chuyện sau gói kích cầu 787 tỷ của Mỹ
Khủng hoảng kinh tế: câu chuyện sau gói kích cầu 787 tỷ của Mỹ
- Tác Giả Đoàn Hưng Quốc
- Đăng ngày 16.02.09
- Kinh Tế - Xã Hội
Dự trù ngày thứ ba tuần này tổng thống Hoa Kỳ Obama sẽ ký thông qua gói kích cầu khổng lồ 787 tỷ Mỹ kim. Đây là biện pháp khẩn cấp bơm tiền để hồi sinh nền kinh tế nhưng sẽ mang lại những hệ luỵ lâu dài mà xã hội Mỹ phải giải quyết trong nhiều năm tới.
Người viết có thể xác định ngay từ bây giờ là việc quản lý và chi tiêu gói kích cầu trong vòng 2 năm tới sẽ quyết định cho hình ảnh của nhiệm kỳ Obama, tương tự như chiến tranh Việt Nam gắn liền với chính phủ Johnson, Iraq với Bush. Dân chúng, thị trường đầu tư và báo giới sẽ soi mói liệu tiền có bơm vào đủ nhanh mà lại không bị phí phạm để thúc đẩy nền kinh tế; liệu sẽ mang lại 2, 3 hay 4 triệu việc làm trong bao lâu? Câu trả lời sẽ giúp cho đảng Dân Chủ hay Cộng Hoà nắm đa số của Quốc Hội trong lần bầu cử vào năm 2010.
Nhưng ngay sau khi có kế hoạch để tiêu xài số tiền 787 tỷ, toà nhà trắng sẽ phải chú tâm giải quyết 3 vấn đề nghiêm trọng kế tiếp: ngoại thương, lạm phát và thiếu hụt ngân sách.
Ngoại thương, hay nói thẳng ra là bảo hộ mậu dịch, nhằm mục đích giữ tạo và giữ công ăn việc làm ở lại Hoa Kỳ mà không mất ra nước ngoài nhất là sang Đông-Á và Trung Quốc. Trong gần 20 năm sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt và các hàng rào mậu dịch được phá bỏ nền kinh tế Hoa Kỳ và thế giới phát triển ngoạn mục nhờ vào hai khuynh hướng:
1. Sản xuất chuyển từ Âu-Mỹ sang các khu vực nhân công rẻ để hạ thấp giá thành, nâng cao đời sống dân chúng mà không bị áp lực tiền mất giá, tức là lạm phát;
2. Tiền bạc thặng dư tạo ra từ khâu sản xuất tại Á Châu lại ký thác ngược vào hệ thống tài chánh công và tư của Tây Phương - vốn được xem là nơi an toàn và bảo đảm (!).
Tiền vào Mỹ dùng trong hai việc:
A. Chi phí quốc phòng để Hoa Kỳ giữ an ninh cho mậu dịch toàn cầu, nhất là tại các điểm “nóng” ở Trung Đông và Đông-Bắc Á.
B. Cung cấp tín dụng dồi dào cho dân Mỹ tiêu thụ hàng hoá sản xuất tại Đông-Á. Nhờ vậy hai thị trường tài chánh và địa ốc “bốc hoả” tạo ra công ăn việc làm bù đắp cho các mất mát trong khu vực sản xuất. Nói chung bên nào cũng có lợi trong hoàn cảnh mậu dịch tự do.
Nhưng đến năm 2007 các chênh lệch trong cách thức dàn xếp đó bắt đầu hiện rõ:
i. Thế giới lo ngại về khả năng lãnh đạo của Hoa Kỳ vì tốn 1 ngàn tỷ, phạm nhiều sai lầm mà vẫn không giải quyết các vấn đề với Hồi Giáo (Iraq, Iran, Do Thái-Palestine, Pakistan, Afghanistan) và Bắc Hàn. Hai cường quốc quân sự là Trung Quốc và Nga lại phát triển kinh tế nên không còn muốn Hoa Kỳ độc quyền về an ninh như trước [1].
ii. Tiền của không do mình làm ra, lại được cho vay mượn rộng rãi nên dễ dàng lạm dụng dẫn đến tình trạng quả bóng kinh tế và tài chánh thổi phồng cho đến khi vỡ tung tạo cuộc khủng hoảng kinh tế hiện giờ.
Ghi chú:
[1] So sánh với thập niên 1980 khi Nhật Bản dù cạnh tranh kinh tế nhưng không hề có ý muốn thoát khỏi bao che về quân sự của Hoa Kỳ. Trái lại Trung Quốc và Nga nếu không là đối thủ thì ít nhất cũng muốn ngang hàng với Mỹ trên kinh tế, chính trị và quân sự.
Người viết có thể xác định ngay từ bây giờ là việc quản lý và chi tiêu gói kích cầu trong vòng 2 năm tới sẽ quyết định cho hình ảnh của nhiệm kỳ Obama, tương tự như chiến tranh Việt Nam gắn liền với chính phủ Johnson, Iraq với Bush. Dân chúng, thị trường đầu tư và báo giới sẽ soi mói liệu tiền có bơm vào đủ nhanh mà lại không bị phí phạm để thúc đẩy nền kinh tế; liệu sẽ mang lại 2, 3 hay 4 triệu việc làm trong bao lâu? Câu trả lời sẽ giúp cho đảng Dân Chủ hay Cộng Hoà nắm đa số của Quốc Hội trong lần bầu cử vào năm 2010.
Nhưng ngay sau khi có kế hoạch để tiêu xài số tiền 787 tỷ, toà nhà trắng sẽ phải chú tâm giải quyết 3 vấn đề nghiêm trọng kế tiếp: ngoại thương, lạm phát và thiếu hụt ngân sách.
Ngoại thương, hay nói thẳng ra là bảo hộ mậu dịch, nhằm mục đích giữ tạo và giữ công ăn việc làm ở lại Hoa Kỳ mà không mất ra nước ngoài nhất là sang Đông-Á và Trung Quốc. Trong gần 20 năm sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt và các hàng rào mậu dịch được phá bỏ nền kinh tế Hoa Kỳ và thế giới phát triển ngoạn mục nhờ vào hai khuynh hướng:
1. Sản xuất chuyển từ Âu-Mỹ sang các khu vực nhân công rẻ để hạ thấp giá thành, nâng cao đời sống dân chúng mà không bị áp lực tiền mất giá, tức là lạm phát;
2. Tiền bạc thặng dư tạo ra từ khâu sản xuất tại Á Châu lại ký thác ngược vào hệ thống tài chánh công và tư của Tây Phương - vốn được xem là nơi an toàn và bảo đảm (!).
Tiền vào Mỹ dùng trong hai việc:
A. Chi phí quốc phòng để Hoa Kỳ giữ an ninh cho mậu dịch toàn cầu, nhất là tại các điểm “nóng” ở Trung Đông và Đông-Bắc Á.
B. Cung cấp tín dụng dồi dào cho dân Mỹ tiêu thụ hàng hoá sản xuất tại Đông-Á. Nhờ vậy hai thị trường tài chánh và địa ốc “bốc hoả” tạo ra công ăn việc làm bù đắp cho các mất mát trong khu vực sản xuất. Nói chung bên nào cũng có lợi trong hoàn cảnh mậu dịch tự do.
Nhưng đến năm 2007 các chênh lệch trong cách thức dàn xếp đó bắt đầu hiện rõ:
i. Thế giới lo ngại về khả năng lãnh đạo của Hoa Kỳ vì tốn 1 ngàn tỷ, phạm nhiều sai lầm mà vẫn không giải quyết các vấn đề với Hồi Giáo (Iraq, Iran, Do Thái-Palestine, Pakistan, Afghanistan) và Bắc Hàn. Hai cường quốc quân sự là Trung Quốc và Nga lại phát triển kinh tế nên không còn muốn Hoa Kỳ độc quyền về an ninh như trước [1].
ii. Tiền của không do mình làm ra, lại được cho vay mượn rộng rãi nên dễ dàng lạm dụng dẫn đến tình trạng quả bóng kinh tế và tài chánh thổi phồng cho đến khi vỡ tung tạo cuộc khủng hoảng kinh tế hiện giờ.
Ghi chú:
[1] So sánh với thập niên 1980 khi Nhật Bản dù cạnh tranh kinh tế nhưng không hề có ý muốn thoát khỏi bao che về quân sự của Hoa Kỳ. Trái lại Trung Quốc và Nga nếu không là đối thủ thì ít nhất cũng muốn ngang hàng với Mỹ trên kinh tế, chính trị và quân sự.

