Về Việt Nam sống?
- Tác Giả Nguyễn-Khoa Thái Anh
- Đăng ngày 15.02.09
- Quan Điểm
Gần 20 năm nay từ lúc Việt Nam mở cửa và Mỹ bỏ cấm vận du lịch (1991), chuyện hồi hương về Việt Nam sống, xem ra là một đề tài đáng lưu ý, có nhiều hấp dẫn so với một số người Việt nước ngoài, nhưng cũng gây ra không ít tranh cãi xóc nổi với một thiểu số khác chung quanh vấn đề cai trị của Cộng sản. Nhất là vấn đề về sống luôn ở nơi chôn nhau cắt rốn của mình không những chỉ là một chuyện thiết thực đối với một số người đứng tuổi, lặng lẽ muốn tìm về cội nguồn để sống nốt quãng đời còn lại (ở đây người viết chưa nói đến những trường hợp nổi cộm như nhạc sĩ Pham Duy hoặc ông tướng Nguyễn Cao Kỳ) mà còn là một điểm hẹn, một nơi phiêu lưu, mạo hiểm thử thời vận cho một số người ''không lớn tuổi" khác. Có tìm ra được cội nguồn hay đường xưa lối cũ, có được như ý trong nếp sống mới hay không, có phát đạt trong chuyện làm ăn không, chắc phải còn chờ hạ hồi phân giải.
Nói chung, có nhiều nguyên do và động cơ thúc đẩy về Việt-Nam, chỉ xin nêu ra vài thí dụ điển hình: a) làm ăn, thử thời vận (do mình chủ động). b) về công tác do công ty hay nhiệm sở phái đi. c) về hưu, dưỡng già, gần gia đình và bạn bè. d) nghe lời bác Triết hứa hẹn ở Việt Nam có nhiều cô gái trẻ và xinh đẹp [1]. e) nhớ nhà, nghe tiếng gọi của quê hương, của con tim. f) thất bại, không tranh đấu nổi với cuộc sống Mỹ. g) muốn về làm chuyện thiện nguyện, giúp nước.
Tuy nhiên, mục đích bài tùy bút này không nhằm bài bác hay khuyến khích chuyện về Việt Nam. Người viết chỉ nói lên một hiện trạng của một đất nước phân ly - khi xưa Nam-Bắc, bây giờ: trong và ngoài nước - dân chủ và thiếu dân chủ - cố chấp và hiểu biết - che dấu và cởi mở. Thích sang Mỹ, thích về Việt Nam. Những điều viết ra đây chẳng qua chỉ là những trải nghiệm cá nhân, những tâm tình riêng tư của một người, mà không phải là một bài phân tích tường tận về một hiện tượng xã hội học, vì muốn được như vậy, những điều lợi hại, khả quan, tiêu cực hay tích cực trong chuyện về Việt Nam sinh sống, làm ăn phải được đối trọng với cuộc sống ở Mỹ.
Vì khi bàn về chuyện sống ở Việt Nam người ta không thể tách rời nó khỏi một xã hội mà đảng và nhà nước đang chi phối. Bởi lẽ cũng có một số người đã thề không đội trời chung với Cộng sản. Nhưng trong một không gian liên đới của thế kỷ (21) toàn cầu hóa này, thế nào là đội trời chung? Làm cách nào để tách bạch được sự trắng đen tuyệt đối? Bức màn sắt đã bị xụp đổ sau khi bức tường Bá Linh bị đập bỏ, chỉ còn lại bức màn tre, che đậy không kín những tàn tích đen tối của lịch sử, loang lổ cùng với thời đại đang được điểm tô bởi lớp son phấn kinh tế thị trường và sự thăng hoa của tư bản đỏ.
Có phải nước nhà đang trải qua một cơn sốt vỡ da? Có phải Việt Nam có nhiều triển vọng vượt lên trên tất cả mọi chướng ngại vật, để quê hương có thể trở thành miền đất hứa? Có phải trong ung thối Cộng sản đã nảy mầm xanh của dân chủ, hy vọng? Có phải trong sự đe dọa thống trị Bắc triều đã nối vòng tay lớn, liên hiệp trong và ngoài nước? Nhiều người đang chấp nhận xây dựng ngay từ trong đổ vỡ tan tác, trong cái xấu đè nén cái đẹp, cái ác trấn áp cái thiện ngay hôm nay. Nhiều người còn chê bai đất nước chưa gột rửa sạch cái tham tàn chuyên chính trước khi họ tìm về ngày mai tươi sáng. Nhưng người ta phải mãnh liệt tin rằng ở trong nước có những người đang vươn lên cho lý tưởng cao cả của họ, bất chấp những cực hình đày đọa bản thân, những ám chướng ngu muội đang trì trệ, kìm hãm quê hương. Có phải đây là những tâm hồn người ta đang tìm đến?
Ngày nay, chủ thuyết kinh tế cộng sản và tư bản đã hoán ngôi. Ngay cả con gái của thủ tướng Cộng sản Việt Nam Nguyễn tấn Dũng cũng lấy một đại tư bản Việt kiều Mỹ. Trên nhiều bình diện, lãnh đạo Cộng Sản Trung quốc và Việt Nam, hơn cả tư bản Hoa Kỳ, đặt ưu tiên cho động lực lợi nhuận cá nhân, vinh thân phì gia, quan trọng hơn việc xây dựng một "xã hội công bằng, dân chủ và văn minh", đánh mất đi cơ bản định hướng "xã hội" của mình. Đương nhiên, khi về Việt Nam sống, một số công dân Mỹ gốc Việt nếu không hoàn toàn chú trọng vào chuyện làm giàu thì cũng mong được hưởng một cuộc sống an nhàn sung túc do chính cuộc sống hiện đại của kinh tế thị trường ồ ạt mang lại.
Họ hy vọng với sự khác biệt giữa mức thu nhập (Mỹ) cá nhân và vật giá thị trường Việt Nam (mà ngày nay nhiều món cũng đã tăng cao không kém gì ở Mỹ) sẽ bảo đảm cho mức sống ưu tú của mình. Thêm vào đó, nếu chủ thể của chuyện làm ăn là một công ty Hoa Kỳ hay quốc tế, được bảo vệ bởi hiệp ước song thương WTO, thì ít ra người ta còn cậy vào các điều khoản pháp lý nhằm chế tài các vụ vi phạm của Việt Nam. Ngoài những quy chế thương mại song thương, một khi về nước, tuy không chính thức trên pháp lý, nhà nước Việt Nam cho rằng công dân Việt-Mỹ đã gián tiếp nhìn nhận mình là người Việt. Do đó vẫn có sự nhập nhằng giữa vấn đề song quốc tịch, quyền lợi và pháp luật không đồng nhất giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
[1] Ngày 22 tháng 6, 2007, chủ tịch Nguyễn Minh Triết trong bài diễn văn với Hội Á Châu (Asia Society) tại New York mời người ngoại quốc đến Việt Nam "vì Việt Nam có nhiều gái đẹp, mặc áo dài dễ thương..." Đúng ra nhiều người đàn ông hải ngoại, chẳng chờ đến lời chiêu dụ của ông Triết, đã về Việt nam cởi mở con tim, trút bầu nhiệt huyết với các cô trẻ đẹp từ lâu.
Nói chung, có nhiều nguyên do và động cơ thúc đẩy về Việt-Nam, chỉ xin nêu ra vài thí dụ điển hình: a) làm ăn, thử thời vận (do mình chủ động). b) về công tác do công ty hay nhiệm sở phái đi. c) về hưu, dưỡng già, gần gia đình và bạn bè. d) nghe lời bác Triết hứa hẹn ở Việt Nam có nhiều cô gái trẻ và xinh đẹp [1]. e) nhớ nhà, nghe tiếng gọi của quê hương, của con tim. f) thất bại, không tranh đấu nổi với cuộc sống Mỹ. g) muốn về làm chuyện thiện nguyện, giúp nước.
Tuy nhiên, mục đích bài tùy bút này không nhằm bài bác hay khuyến khích chuyện về Việt Nam. Người viết chỉ nói lên một hiện trạng của một đất nước phân ly - khi xưa Nam-Bắc, bây giờ: trong và ngoài nước - dân chủ và thiếu dân chủ - cố chấp và hiểu biết - che dấu và cởi mở. Thích sang Mỹ, thích về Việt Nam. Những điều viết ra đây chẳng qua chỉ là những trải nghiệm cá nhân, những tâm tình riêng tư của một người, mà không phải là một bài phân tích tường tận về một hiện tượng xã hội học, vì muốn được như vậy, những điều lợi hại, khả quan, tiêu cực hay tích cực trong chuyện về Việt Nam sinh sống, làm ăn phải được đối trọng với cuộc sống ở Mỹ.
![]() |
| Nhà của một Việt kiều ở Tam Đảo. Ảnh: Tác giả |
Vì khi bàn về chuyện sống ở Việt Nam người ta không thể tách rời nó khỏi một xã hội mà đảng và nhà nước đang chi phối. Bởi lẽ cũng có một số người đã thề không đội trời chung với Cộng sản. Nhưng trong một không gian liên đới của thế kỷ (21) toàn cầu hóa này, thế nào là đội trời chung? Làm cách nào để tách bạch được sự trắng đen tuyệt đối? Bức màn sắt đã bị xụp đổ sau khi bức tường Bá Linh bị đập bỏ, chỉ còn lại bức màn tre, che đậy không kín những tàn tích đen tối của lịch sử, loang lổ cùng với thời đại đang được điểm tô bởi lớp son phấn kinh tế thị trường và sự thăng hoa của tư bản đỏ.
Có phải nước nhà đang trải qua một cơn sốt vỡ da? Có phải Việt Nam có nhiều triển vọng vượt lên trên tất cả mọi chướng ngại vật, để quê hương có thể trở thành miền đất hứa? Có phải trong ung thối Cộng sản đã nảy mầm xanh của dân chủ, hy vọng? Có phải trong sự đe dọa thống trị Bắc triều đã nối vòng tay lớn, liên hiệp trong và ngoài nước? Nhiều người đang chấp nhận xây dựng ngay từ trong đổ vỡ tan tác, trong cái xấu đè nén cái đẹp, cái ác trấn áp cái thiện ngay hôm nay. Nhiều người còn chê bai đất nước chưa gột rửa sạch cái tham tàn chuyên chính trước khi họ tìm về ngày mai tươi sáng. Nhưng người ta phải mãnh liệt tin rằng ở trong nước có những người đang vươn lên cho lý tưởng cao cả của họ, bất chấp những cực hình đày đọa bản thân, những ám chướng ngu muội đang trì trệ, kìm hãm quê hương. Có phải đây là những tâm hồn người ta đang tìm đến?
![]() |
| Về nơi hoang dã. Ảnh: Tác giả |
Ngày nay, chủ thuyết kinh tế cộng sản và tư bản đã hoán ngôi. Ngay cả con gái của thủ tướng Cộng sản Việt Nam Nguyễn tấn Dũng cũng lấy một đại tư bản Việt kiều Mỹ. Trên nhiều bình diện, lãnh đạo Cộng Sản Trung quốc và Việt Nam, hơn cả tư bản Hoa Kỳ, đặt ưu tiên cho động lực lợi nhuận cá nhân, vinh thân phì gia, quan trọng hơn việc xây dựng một "xã hội công bằng, dân chủ và văn minh", đánh mất đi cơ bản định hướng "xã hội" của mình. Đương nhiên, khi về Việt Nam sống, một số công dân Mỹ gốc Việt nếu không hoàn toàn chú trọng vào chuyện làm giàu thì cũng mong được hưởng một cuộc sống an nhàn sung túc do chính cuộc sống hiện đại của kinh tế thị trường ồ ạt mang lại.
Họ hy vọng với sự khác biệt giữa mức thu nhập (Mỹ) cá nhân và vật giá thị trường Việt Nam (mà ngày nay nhiều món cũng đã tăng cao không kém gì ở Mỹ) sẽ bảo đảm cho mức sống ưu tú của mình. Thêm vào đó, nếu chủ thể của chuyện làm ăn là một công ty Hoa Kỳ hay quốc tế, được bảo vệ bởi hiệp ước song thương WTO, thì ít ra người ta còn cậy vào các điều khoản pháp lý nhằm chế tài các vụ vi phạm của Việt Nam. Ngoài những quy chế thương mại song thương, một khi về nước, tuy không chính thức trên pháp lý, nhà nước Việt Nam cho rằng công dân Việt-Mỹ đã gián tiếp nhìn nhận mình là người Việt. Do đó vẫn có sự nhập nhằng giữa vấn đề song quốc tịch, quyền lợi và pháp luật không đồng nhất giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
[1] Ngày 22 tháng 6, 2007, chủ tịch Nguyễn Minh Triết trong bài diễn văn với Hội Á Châu (Asia Society) tại New York mời người ngoại quốc đến Việt Nam "vì Việt Nam có nhiều gái đẹp, mặc áo dài dễ thương..." Đúng ra nhiều người đàn ông hải ngoại, chẳng chờ đến lời chiêu dụ của ông Triết, đã về Việt nam cởi mở con tim, trút bầu nhiệt huyết với các cô trẻ đẹp từ lâu.



