Sáng hăm tám Tết, lão Sình đang lúi húi quét dọn gian phòng thờ, gian thờ nhà lão tọa lạc trên tầng năm của một ngôi nhà năm tầng to vật vã, to nhất thị trấn này cũng nên. Lão bố trí ba ban thờ tất cả. Trên cùng là một ban thờ nhỏ, trang trí quái dị, có lẽ là thờ thổ thần, âm binh hay ma xó gì đó. Giữa, ban nhỉnh hơn lão thờ ông Quan Công. Ban dưới cùng là nóc một chiếc tủ chạm trổ cầu kỳ. Đây là nơi lão thờ cúng gia tiên. Ban thờ này lớn nhất, hoành tráng nhất, và được lão Sình o bế, săm soi kĩ càng nhất.

Ngoài một số tấm ảnh cũ kỹ còn có cả mấy cái khung, trong lồng tấm giấy đỏ. Nổi bật hơn cả là tấm ảnh mầu chụp một bà già, trạc tuổi lão (khoảng trên dưới sáu muơi) mắt toét, đang cuời rất vô duyên. Lão Sình lau và mân mê tấm ảnh rất kĩ với vẻ trìu mến: “Tôi phong bà nà thánh, tôi thờ bà. Phật, Chúa, A-Na a noét rặt nà đám ngoại quốc, ông chả thèm …, người Việt chúng mình nà dân chủ nà đa nguyên từ trong máu, ai muốn phong ai nà thánh cũng được … hơ … hơ … hơ”. Lão lẩm bẩm và cười một mình, vô duyên không kém bà già mắt toét trong ảnh.

Bà già đó là vợ lão, bà ta chết cách đây ba năm. Dạo nhà còn túng bấn, bà lão lăn lộn bán bánh mỳ ngoài bến xe, vất vả thế mà cứ khoẻ phây phây. Từ khi rủng rỉnh tiền bạc, về nhà ngồi chơi xơi nước, ăn toàn đồ bổ, chả hiểu sao cứ quắt queo vào rồi chết.

Xếp ngay ngắn lại bộ lư đồng vừa đánh bóng lộn, hơi lùi lại, lão Sình ngắm nghía mâm ngũ quả với vẻ mãn nguyện. Xoa hai bàn tay, lão tiếp tục lẩm bẩm: “Nhanh thế, đã qua nễ ông Công mấy ngày rồi”. Rít hơi thuốc lào, lão lại lẩm bẩm: “Mẹ kiếp! chợ ta mà toàn đồ Tầu”. Lão Sình chả thèm dùng hàng Tầu. Kể cả mấy thứ đồ cúng lặt vặt. Chiều tối nay, thằng Quốc, thằng con thứ của lão đang định cư tại Nhật Bản, về nước. Nó sẽ bầy lên đó tinh hàng tư bản.

Có tiếng cửa sắt kéo duới nhà, lão Sình thò đầu ra ngoài ban công:

- Thằng Sỹ hở? Rửa xe chưa?

- Đang rửa! Tết nhất xe đông, đã thế mấy con đĩ dại cứ ra sức mà nôn mửa.

- Ờ, thì thế mày mới có cái mà niếm. Mà không thế thì hôm nay cũng phải rửa ráy cho sạch sẽ để đón em mày. Biết chửa?

Sỹ là con cả, học tới lớp năm, bỏ, làm bốc vác ngoài bến xe. Cách đây ba năm, hồi bà mẹ mới chết, thằng Quốc ôm về mớ to, xây nhà còn dư sắm chiếc xe hơi 24 chỗ. Xe đứng tên lão Sình, lão giao xe cho thằng Sỹ chạy khách tuyến Quảng Ninh-Hà Nội. Lái xe thuê. Thằng Sỹ làm lơ, thu tiền và săm soi xăng nhớt. Trừ chi phí, mỗi tháng chiếc xe thu về ngót bốn “vé” (1), lão và thằng Sỹ chia đôi. “Có cần câu cơm rồi, tôi đỡ gửi nặt vặt. Từ nay tôi chỉ đầu tư nớn” - thằng Quốc tuyên bố.

Lão Sình có bốn đứa con, toàn trai. Sau Sỹ và Quốc là thằng Thịnh. Thịnh cũng chỉ học đến lớp chín, mặc dù nhà đã khá giả nhưng nó không thích chữ. Thằng này có máu nghệ sỹ, nó cắp tráp theo một ban nhạc xóm, học đàn hát, thỉnh thoảng đi đánh đám cưới. Tiến là út, cu này học cao nhất, đã tốt nghiệp phổ thông, sau đó học tiếp lớp vi tính sáu tháng của trung tâm dậy nghề thị xã. Năm ngoái, lão Sình sang lại cho Tiến một cửa hàng làm dịch vụ internet, games… Cái cửa hàng oách phết, có cả khách là mấy ông Tây ba lô.

Như vậy là nhà lão Sình có đủ các thành phần cao cấp của xã hội. Tri thức này, nghệ sỹ này…Với nhân lực như vậy lại được sự đầu tư mạnh mẽ của thằng Quốc, làm gì nhà lão chả tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc.

- Mày gọi điện ra cửa hàng thằng Tiến, bảo nó đóng cửa về được rồi đấy” - lão Sình bảo Sỹ - còn thằng Thịnh nữa, cha sư bố nó, giờ này vẫn chưa vác mặt về. Mày có biết nó đi đâu không?

- Sáng lay núc ló đi ông phải dặn ló chứ, con chó dái lày mà đi thì biết đằng lào mà nần.

- Không dặn cũng phải tự mà biết chứ. Lão Sình lầu bầu.

Trước khi xuất ngoại, thằng Quốc chưa học xong lớp bốn, phần do nhà nghèo, nhưng chủ yếu vì nó thấy học chữ khó quá. Bỏ học, nó theo lão Sình đi làm “than thổ phỉ”, tức là nhẩy tầu than, ăn cắp. Được hơn một năm, vất vả quá, nó tụ tập với mấy thằng ma cà bông rồi rủ nhau vuợt biên. Sang Hồng Kông phải ở trại tỵ nạn sáu tháng, may mắn nó được nước Nhật tiếp nhận. Bọn chúng nó vào Nhật, được họ cho học tiếng, học nghề. Khốn nạn, chữ Việt bọn nó còn chả học nổi, huống hồ là chữ Nhật. Thế là chúng nó rủ nhau trốn ra ngoài, lang thang, rồi đi ăn cắp. Chúng nó ăn cắp trong các siêu thị. Người khôn của khó như Việt Nam nó còn ăn cắp được, đằng này siêu thị Nhật Bản cứ tênh hênh như mời ông xơi. Thế là bọn nó tha hồ tung hoành. Bọn nó mua cả xe ô tô để chở đồ ăn cắp, thuê cả kho chứa đồ ăn cắp. Bọn nó thành lập "Liên đoàn" ăn cắp siêu thị. Thỉnh thoảng cũng có đứa bị bắt, nhưng lại đươc thả ngay, vì cảnh sát Nhật coi là ăn cắp vặt.

Lần về nước năm ngoái, trong một bữa tiệc lão Sình tổ chức chiêu đãi quan chức địa phương, ông phó chủ tịch phường hỏi nó:

- Cậu Quốc ở bên đó làm công tác gì?

- Nàm đại diện niên đoàn. Thằng Quốc trả lời

Về nước lần này thằng Quốc găm được một mớ to, ngoài việc tiếp tục đầu tư, nó còn có ý định lấy vợ. Lão Sình đã chấm cho nó ba đám. Kể ra cho đủ thì người ta mối lái đến tám đám cơ, nhưng lão chọn có ba. Cô thứ nhất có nghề và cửa hiệu làm đầu, bà mẹ bán hàng khô ở chợ thị xã. Gia tài cũng được, có điều cô này hơi lùn, cả về kích thước lẫn học vấn. Lão không ưng lắm. Trong các tiêu chuẩn, lão rất quan tâm tới học vấn, càng cao càng hay, đại học càng tốt. Bởi vì nhà lão cũng có thành phần trí thức, nhưng chưa tới đại học.

Cô thứ hai, gia thế đề huề, con ông thiếu tá về hưu là chủ tịch hội cựu chiến binh phường. Cô này học vấn trung bình khá. Tốt ngiệp cao đẳng ngoại thương, đang làm việc tại công ty xuất nhập khẩu. Phải cái, răng hơi bị cải mả lại hôi nách nặng.

Cô thứ ba, tên Loan. Cô này lão ưng nhất. Đồng đều ba mũi giáp công: học vấn, gia thế, của nả. Liên học đại học nông nghiệp. Học hết năm thứ hai cô về phụ trách kỹ thuật cho trại lợn giống của bà mẹ. Trại lợn của hai mẹ con đã mấy lần đuợc đăng trên báo Nông nghiệp tỉnh.