Danchimviet - http://danchimviet.com
Suy nghĩ về việc học và những người Thày
http://danchimviet.com/articles/703/1/Suy-ngh-v-vic-hc-va-nhng-ngi-Thay/Page1.html
Bùi Tân Phong

 
Tác Giả Bùi Tân Phong
Đăng/Published on 26.12.08
 
...về văn hoá Việt Nam, chúng tôi có cảm nhận rằng những gì cha ông để lại thường là trong dạng thức giản đơn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa. Đối với việc học, có thể dẫn ra hai câu: Không có thày đố mày làm nên, và Học thày không tày học bạn.

1. Lời dẫn

Giáo dục, xét về hình thức, là quá trình truyền trao và tiếp thu tri thức; nhưng nếu xét riêng tri thức thì xuất xứ và điểm đến của nó lại chính là cuộc sống. Về thực chất, giáo dục là sinh hoạt tri thức và tư tưởng của cộng đồng người: có tranh đấu (tranh luận và đấu lý), thải loại, có phát triển nâng cao. Như vậy, giáo dục giống như mọi sinh hoạt khác của cuộc sống: thoáng mở và sống động; nếu có những khung khổ nào đó thì chỉ là do con người tạo ra cho nó và cũng chỉ mang tính thời gian, thời đại.

Công việc dạy và học, có thể nói, cũng xưa như loài người. Khi nhớ tưởng đến hình ảnh những già làng ngồi bên đống lửa bập bùng nơi hang động, kể cho toàn bộ tộc nghe những kinh nghiệm tìm săn con thú, kinh nghiệm vượt lũ, thoát hiểm rừng già, (1)... thì ta đã có những hình ảnh đầu tiên của việc dạy và học, hình ảnh đầu tiên của sinh hoạt thày-trò. Qua thời gian, xã hội tiến dần đến phân công lao động thì dạy trở thành một nghề trong khi đó học trở thành hoạt động suốt đời gắn chặt với những thói quen và những chủ đích cố hữu hay đổi thay nhiều ít của mỗi cá nhân. Ngày nay, khi văn minh nhân loại phát triển đến trình độ và tốc độ cao, việc học tập và rèn luyện trở thành đòi hỏi sống còn của con người; việc tìm hiểu và bàn thảo về giáo dục, do đó, cũng luôn sống động, đa dạng và chắc chắn không có điểm dừng. Mỗi ý kiến đưa ra trên một diễn đàn nào đó đều là một phần suy tư, trải nghiệm cá nhân, mong làm sáng tỏ, trước hết, cho bản thân và phần nào đóng góp cho nhận thức chung của cộng đồng. Những thiếu sót là không tránh khỏi và được tiếp thu những phê bình, bổ khuyết chắc chắn là mong đợi tâm can của người viết.

Trong phần kế tiếp, chúng tôi thử xem xét đề tài này từ việc quan sát hoạt động của người dạy (ông thày) cũng như quan hệ giữa hai thành tố của nó là thày và trò. Đây cũng là kết quả sau những lần luận bàn cùng bạn hữu; vậy trước hết xin ngỏ lời chân thành cảm ơn những người bạn cũ và mới, cũng xin cảm ơn bạn đọc đã cho cơ hội chia xẻ. Đặc biệt, người viết muốn ngỏ lời tri ân đến một bậc cao niên, xin được gọi là Thày Vũ Paris, là người đầu tiên đã kích lệ và hướng dẫn cách thức trình bày suy tư thành trang viết để hôm nay có được những dòng này; đây cũng là điều người học trò nên một lần nói ra.(2)

2. Thày cũ, trò xưa

Người dạy, ta thường gọi là "ông thày“, là những người qua nghiên cứu, tu tập tri thức rồi do nhu cầu của cuộc sống và lòng nhiệt thành mà đem kiến thức của mình truyền trao lại cho người khác. Dải phân tán (Spectrum, phổ) của khái niệm này khá rộng. Về mức thì có thể kể từ người rất ít "lên lớp“ (nhất tự vi sư, bán tự vi sư) đến người có cả ngàn trò; có người thâu lượm trò không kể hết số, nhưng có người không lên lớp ngày nào cũng vẫn được coi là "đại sư“. Về loại thì có người chỉ dạy, có người vừa dạy vừa đem thuyết của mình ra thực hành, nhưng có người chỉ tập trung trọn đời vào công việc hoàn chỉnh học thuyết; những thế hệ sau gọi họ là thày vì tiếp thu tư tưởng, học thuyết của họ để đem thực hành và ít nhiều bổ sung thêm ý kiến của mình vào học thuyết của thày.

Chúng tôi xem xét một số trường hợp điển hình là Khổng (tử) Khâu, Vương Hủ và Karl Marx. Hai vị Khổng tử và Marx đều là những nhân vật lịch sử và nổi tiếng đến mức không cần giải thích thêm. Riêng trường hợp Vương Hủ, được biết nhiều với tên Quỷ cốc tiên sinh (học sỹ hang quỷ) có thể xem là một sáng tạo văn học của Tàu, nhưng nếu coi văn học là tinh chất mang hình bóng và ấp ủ ước mơ cuộc sống thì câu chuyện về vị này cũng có giá trị để suy gẫm. Đối với tất cả các vị này, chúng tôi chỉ lược ghi những điều quan trọng và cố gắng dẫn nguồn để tiện tham khảo.

2.1. Khổng Khâu

Về Khổng tử, có nhiều sách đã viết. Tài liệu tôi có là cuốn "Khổng tử“ của cụ Nguyễn Hiến Lê: sưu tầm, trích dẫn, phân tích nhiều và dài.(3) Mới đây trong Nho giáo đại cương, tác giả Nguyễn Ước có phác thảo chân dung Khổng tử tuy giản lược nhưng cũng rõ ràng: "nghiêm nghị nhưng thích đàn, mê thơ, học rộng. Ngài triển khai Nho học, hệ thống hóa thành một học thuyết mà bản thân ngài vừa nỗ lực tìm cách ứng dụng vừa hết lòng truyền dạy cho môn đồ.“. Ở đây chỉ bàn chung về các môn học và đôi điều nhận xét về ngài.

Các môn học Khổng tử nghiên cứu và truyền dạy – "lục nghệ: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số“ – hầu như đã đi vào nền nếp tới thời của ngài. Xuất xứ và ứng dụng của các môn học (tri thức thiết yếu cho những người muốn tham chính - làm quan) xin tham khảo các tài liệu đã dẫn, chỉ xin nhận xét rằng khối tri thức mà Khổng tử để lại là khá hoàn chỉnh. Khi xem quan hệ thày-trò Khổng tử ta thấy sinh hoạt trí thức thời đó rất lý thú: không chỉ có việc người thày thuyết giảng, mà việc học trò đặt câu hỏi cũng đóng góp cho sự phát triển tư tưởng của Khổng tử; chưa kể công sức các trò ghi chép lại lời thày. (Trường hợp này cũng xảy ra đối với Cakya Mouni - Bút-đa, Bụt - khi các đệ tử kết tập kinh tạng). Sau đây xin đi sâu vào môn "nhạc“ (môn học đứng hàng thứ 2, tiếp liền "lễ“) là thứ Khổng tử rất say mê.

Khổng tử say mê nghiên cứu lễ nhạc từ nhỏ. Năm 516 trước Công Nguyên, ông tránh nạn sang Tề; "Ở Tề ông nghe nhạc Thiều của vua Thuấn, thích quá, tới nỗi ba tháng không biết mùi thịt; khen là "tận mỹ, tận thiện“, hơn hẳn nhạc Võ của Võ vương chỉ tận mỹ chứ không tận thiện.“(4). Năm 489 trước CN, thày trò Khổng tử bị người Trần, Thái (Sái) vây ở giữa cánh đồng; "bị tuyệt lương, nhiều môn sinh đau ốm liệt giường, trong khi Khổng tử vẫn thản nhiên đọc sách và gẩy đàn“(5). Đây là hoàn cảnh nguy khốn của thày trò, Khổng tử đã phải nói chuyện với từng người và đặt câu hỏi trực tiếp với họ: "Đạo của ta sai chăng?“ rồi với những dẫn dụ thích hợp, ông cố gắng làm họ bình tĩnh xét suy để giữ niềm tin. Cuối đời, ông tập trung vào việc sắp đặt tài liệu, viết sách và san định Kinh Nhạc. Ông bàn về nhạc với nhạc quan nước Lỗ (6): "Có thể biết được phép tấu nhạc: Mới đầu các âm thanh phấn khởi nhiệt liệt; rồi tới lúc khai phóng thì các âm thanh thuần nhiên điều hoà, rõ ràng, lại liên tục nhau, như vậy là thành một khúc“. Nhờ công đính chính của ông, "nhạc Nhã và Tụng được diễn tấu đúng âm luật“.

Tại sao chúng tôi tách riêng và xem xét hoạt động của Khổng tử về bộ môn nhạc? Ngoài việc nhạc đi liền với các hình thức lễ hội, những nghiên cứu mới đây cho biết vai trò to lớn của âm nhạc đối với cuộc sống con người cũng như trong giáo dục. Thời Khổng tử tất nhiên chưa có những nghiên cứu thực nghiệm; nhưng qua kinh nghiệm mà người xưa đã nắm bắt tác dụng của ca nhạc và ứng dụng vào đời sống như thế thì thật là điều đáng ngạc nhiên. Nghiên cứu bộ não, ngày nay ta biết mỗi vùng của nó liên quan đến một phần nhất định của cơ thể và hoạt động của phần này. Con người luôn gảy đàn bằng tay phải và nhấn nốt bằng tay trái vì não bộ có hai vùng điều phối âm thanh và nhịp điệu khác nhau. Xét toàn thể, thì khi một vùng hưng phấn, những vùng khác (chi phối các hoạt động khác) bị ức chế. Chẳng hạn khi hát lên, ta thấy cảm giác sợ hãi giảm thiểu; đó chính là do hoạt động của vùng "âm nhạc“ đã lấn át vùng "âu lo“. Trong hoàn cảnh bị vây giữa đồng mà Khổng tử vẫn gảy đàn là đang thực hành kinh nghiệm đó chăng? Tác dụng này, ngày nay, còn được ứng dụng cho nhiều trị liệu và cả trong việc học ngoại ngữ bằng cách nghe băng phát trong lúc ngủ, vân vân.(7) 

Phần Khổng tử xin chỉ được trình bày đủ để chứng tỏ ông là nhà nghiên cứu, học rộng và sâu, một ông thày tận tâm với nghề và người, đồng thời sinh hoạt học thuật của thày-trò cũng thật là khoáng đạt và dân chủ; còn việc cố gắng thực hành của ông thì cụ Nguyễn Hiến Lê đã viết và bình rất sâu sắc.

(1) Tất nhiên từ "những bài học trong trường“ như vậy đến khi những đứa trẻ của bộ lạc có được kinh nghiệm và thành thạo trong những cuộc chiến sinh tồn thực sự còn là con đường dài cần rất nhiều học hỏi và chiêm nghiệm; nhưng những sự khởi đầu này là rất cơ bản và gần gũi với cái ngày nay ta gọi là "giáo dục và đào tạo“.
(2) Trong giòng hoài niệm, người viết kính cẩn ghi nhớ hình ảnh những người Thày đầu tiên của mình như vị trưởng lão nho học trong làng đã đảm trách công việc gõ vào đầu thế hệ mình những chữ a-bê-xê-... cùng cách ghép chữ, đánh vần; ghi nhớ công lao của thày Tạ Quang Bửu mà không có tư duy của thày thì lớp học sinh nghèo chúng tôi đã khó có cơ hội học tiếp và học thêm.

(3) Khổng tử, Nguyễn Hiến Lê, nxb. Văn Hoá 1996
(4) Khổng tử, sđd, trang 42-3
(5) Khổng tử, sđd, từ trang 67
(6) Khổng tử, sđd, trang 81
(7) Một kỷ niệm: Trong giờ ngoại khoá về âm thanh học ở trường đại học, một giáo sư vật lý nói: Những hợp âm là hoà hợp giữa các âm loại với tần số có tỷ lệ nhất định với nhau. Các âm cao thấp thể hiện sự đối nghịch là cơ sở cho phát triển, như quan điểm của Marx. Bao giờ sau những đối kháng âm tần là đến giai đoạn âm thanh hoà hợp; nó là cái về sau này được đưa lên thành quy luật cấu tạo một bản nhạc: T-D-T, tức là Tonic (thuận nhạc) – Dissonnance (Nghịch nhạc) – rồi lại quay về Tonic (thuận nhạc) [VTH]. Nghĩ lại điều này, tôi luôn ngạc nhiên về việc rút ra liên hệ giữa những cái ... xa lắc xa lơ (âm nhạc - chủ nghĩa Marx) mà không phải không có lý!


2.2. Vương Hủ

Quỷ Cốc tiên sinh (8) có mấy thứ học vấn:

1. Số học: nhật nguyệt tượng vĩ thu cả trong lòng bàn tay; xem trước đoán sau, nói gì cũng linh nghiệm;
2. Binh học: lục thao tam lược biến hoá vô cùng, bày trận hành binh quỷ thần không biết;
3. Du (thuyết) học – (Rhetorik): nhớ rộng nghe nhiều, hiểu rõ lý thế; buông lời hùng biện, muôn miệng khôn đương;
4. Xuất thế học: giữ toàn chân tinh, luyện thuốc nuôi mình; không ốm không chết, đắc đạo thành tiên.

Mục đích dạy học của tiên sinh là "gây dựng một số nhân tài giúp việc cho 7 nước“, nhưng tối hậu là "siêu độ cho mấy người đệ tử thông minh, cùng về tiên cảnh“ (Lên tiên cảnh cũng sợ buồn, mong có bạn; đúng là chuyện Tàu!). Học trò nổi tiếng gồm: Tôn Tẫn, Bàng Quyên học binh pháp; Trương Nghi, Tô Tần học du thuyết. Diễn tiến công việc học hành được kể rất hay, xin không vụng về ghi lại. Người viết chỉ dẫn ra để chỉ rằng có những "tuỳ chọn“ (option) mà người học trò hướng vào tuỳ căn cơ của mình. Thí dụ Bàng Quyên: học hơn 3 năm đã cho là giỏi, nghe nước Nguỵ cầu hiền thì muốn xuống núi tỏ tài, "cầu lấy giầu sang“. Tôn Tẫn do được thày thấu tỏ "lòng trung hậu“ nên được trao 13 thiên binh pháp là cuốn sách tiên sinh "chưa từng cẩu thả giao cho ai“. Đây là hai trò đồng môn và thân thiết; tuy nhiên khi vào đời, vì ganh ghét mà họ đã tàn sát nhau khốc liệt. Xem ngẫm gương này, Quỷ Cốc tiên sinh dặn dò Tô Tần, Trương Nghi trước khi xuống núi:

- Ta xem hai trò Tôn, Bàng thế không dung nhau được, tất sẽ có việc làm hại nhau. Còn hai trò mai sau tưởng cũng nên nhường nhịn để thành danh dự và giữ toàn cái tình đồng học ngày nay.

Vì lời đó của thày chăng, mà Tô Tần, Trương Nghi sau này không hại nhau tàn khốc? Và có phải vì nhân tình như thế, "sau đó vài hôm, tiên sinh cũng bỏ Quỷ Cốc đi mất. Có người nói là tiên sinh đã thành tiên xa lánh cõi trần“? Nếu thật như thế thì "lên tiên“ thực ra là do thất vọng và thất bại! (9)

Như vậy, từ cách dạy kinh điển (trực tiếp) của 2 vị này ta thấy ngoài việc trao truyền tri thức, quan hệ thày-trò gần gũi có ảnh hưởng đến tư cách rất lớn. Cũng do hiểu nhân cách học trò, người thày còn có những giáo chỉ hướng nghiệp cụ thể cho từng người. Cách học này đã phát huy hết công năng hiệu dụng của giáo dục vậy! Tuy nhiên càng về sau, việc "định hướng tuỳ chọn“ càng được ưa dùng. Do muốn đi sâu và nhanh một chuyên môn để sớm ứng dụng mà thâu lợi? Do căn cốt tầm thức mỗi người? Sự định hướng lớn nhất chính là chuẩn hoá Nho học từ đời nhà Tống để môn này không còn như nguyên thuỷ của nó.

2.3. Karl Marx (10)

Karl Heinrich Marx là nhà triết học và nhà kinh tế quốc dân (Nationalökonom) - người sáng lập chủ nghĩa Marx (Marxismus), sinh tại Trier ngày 5 tháng 5 năm 1818; mất tại London ngày 14 tháng 3 năm 1883. Bố mẹ của Marx, cả hai người đều xuất thân từ những gia đình Rabbiner (11) truyền thống; cha Marx, Heinrich Marx, là luật sư; năm 1824 cùng với gia đình của mình nhập giòng Tin lành. Sau khi hoàn thành chương trình đại học tại Berlin, Marx đi sâu vào nghiên cứu triết học Hegel. Các năm 1842-3 ông làm chủ bút tờ "Báo Sông Ra-in (Rhein)“ cho tới khi tờ này bị đình bản (cấm); lúc này, ông có quan hệ với A. Ruge, L. Feuerbach, M. Hess. Năm 1843 ông thành hôn với Jenny von Westphalen. Do ảnh hưởng của Feuerbach, ông từ bỏ Hegel và triết học duy tâm và từ năm 1843 (xuất bản „niên giám Đức-Pháp“ tại Paris trong sự quen thân với Heinrich Heine), ông chuyển sang nghiên cứu chủ nghĩa xã hội. Cũng trong thời gian này, ông quen thân và cộng tác với F. Engels. Sau khi bị trục xuất khỏi Paris, Marx chuyển đến Brussel. Sau cuộc luận chiến với Feuerbach, Hegel và những khuynh hướng xã hội chủ nghĩa tự do vô chính phủ của những thành phần tân-Hegel và những nhà xã hội chủ nghĩa Đức, Marx cùng Engels xây dựng "chủ nghĩa xã hội khoa học“ thành nền tảng cho học thuyết sau này của ông; ông tham gia cuộc đấu tranh chính trị của phong trào công nhân và, năm 1847, gia nhập "liên minh những người cộng sản“; bản "tuyên ngôn cộng sản“ được ông cùng Engels viết cho liên minh này. Năm 1848, bị trục xuất khỏi Brussel, ông trở về sống một thời gian ngắn tại Cô-lô-nhơ (Köln); tại đây ông biên tập "báo sông Ra-in mới“ (1848-49). Marx sống ở London từ năm 1849 đến lúc qua đời.

Những năm đầu tiên ở London còn mang dấu ấn của cuộc luận chiến với cách mạng; Marx cho xuất bản tại Paris "tạp chí sông Ra-in mới“ (đăng tác phẩm "những cuộc chiến giai cấp ở Pháp“) và viết nhiều bài cho tờ "Diễn đàn New York“ về chính trị và kinh tế thế giới. Sau thời gian đó, Marx trước tác những tác phẩm cơ bản trong hệ thống học thuyết khoa học thực sự của riêng mình: "Góp phần phê phán chính trị kinh tế học“ (1859) và trên hết là tác phẩm "Kapital – Luận về Tư bản“ (tập 1 xuất bản năm 1867; các tập 2 và 3 do F. Engels xuất bản vào các năm từ 1885 đến 1894). Một số văn bản của Marx được công bố sau khi ông mất: "Bản thảo kinh-triết“ (1932), viết năm 1844; "Cơ sở phê phán chính trị kinh tế học“, sơ thảo 1857-58 và sau đó đưa đến những diễn giải mới.

Marx giữ vai trò chủ chốt trong Quốc tế thứ nhất là tổ chức có ảnh hưởng đến trào lưu dân chủ xã hội (Sozialdemokratie) Đức thuở đầu. Marx phê phán mạnh mẽ chương trình Gô-tha của phong trào này và ông năng nổ đấu tranh chống các trào lưu trong phong trào công nhân (Bakunin). Các tác phẩm của Marx được tái bản nhiều lần trong nhiều ngôn ngữ và nguồn chính xuất phát từ viện Marx-Lenin ở Moskwa. Năm 1953, nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức sáng lập huân chương Karl Marx.

Các tác phẩm chính của Marx gồm:

Góp phần phê phán triết học tả khuynh Hegel (1843/44);
Gia đình thần thánh, hay: Phê phán sự phê phán có tính chất phê phán (1845, viết cùng Engels);
Hệ tư tưởng Đức (1845, ...);
Sự bần cùng của triết học (1847);
Lao động làm công và tư bản (1849);
Lý thuyết giá trị thặng dư (khởi thảo 1861-64, xuất bản 1905-10).

Từ những điều rất cô đọng về Karl Marx trên đây (giản yếu hành trạng) ta có thể thấy Marx là một nhà nghiên cứu và hành động với bộ óc và sức làm việc vĩ đại. Trái với một số nhận định quá đáng về học thuyết của ông (như "đã bị lịch sử đào thải, vứt vào sọt rác“, v.v.), trong thực tế các tác phẩm của ông vẫn được nghiên cứu, bàn thảo. Ở nước Đức, trong mấy năm gần đây, ông vẫn đứng trong "top ten“ những nhân vật lớn. Vậy chúng ta có thể và có quyền đánh giá về ông như thế nào?

Có nhiều nhân vật lớn tự nhận và cũng được tôn vinh là "học trò của Marx“; như Lênin hay Mao Trạch Đông, etc. Những người này có nhiều tác phẩm lớn được gọi là "đóng góp vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Marx“; nhưng trong thực tế thì những việc ứng dụng học thuyết (nhà nước sowjet chuyên chính vô sản với tập thể hoá, chính quyền công nông với đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa, v.v.) chỉ là những thử nghiệm với kết quả không mấy tốt đẹp. Trong khi đó, chủ nghĩa tư bản (là đối tượng phê phán của Marx) đã tiếp thu sự phê phán đó (với tinh thần phê phán!) và tự chỉnh sửa để có tính nhân bản hơn. Với chúng tôi, nhìn nhận từ góc độ một nhà nghiên cứu và tác dụng học thuyết của ông đối với thế giới, cũng có thể coi Marx là một ông thày lớn của nhân loại.

Nhìn chung, các tư tưởng, học thuyết mà con người tạo dựng thật là nhiều và đa dạng. Xem thày, xét trò cũng là sự cần thiết trong học hỏi. Chọn cho mình một tư tưởng để đi theo luôn là điều quan trọng; lại càng khó khăn khi đó là lựa chọn cho một cộng đồng lớn như quốc gia, dân tộc.(12)

(8) Đông chu liệt quốc, nxh Tp. HCM, 1989 T.VI, từ trang 113
(9) Nguyễn Khuyến:
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên....
(10) Có nhiều tài liệu về Karl Marx, kể cả trên những trang web rất dễ tiếp cận. Phần kế tiếp, chúng tôi dịch từ mục "Karl Marx“ trong Bách khoa toàn thư Brockhaus tiền tập, tập 3/5, trang 496-7; bản tiếng Đức.
(11) Jüd. Prediger und Seelsorger: đạo thuyết gia và cha chăn (chăm nom phần hồn) dòng Do-thái.

(12) Có một nhận xét cần suy nghĩ: Chủ nghĩa Mác, đối với chúng ta cũng giống như một chiếc cẩm nang cho người đi đường... (người viết hiện không có tài liệu chính xác nên không dẫn nguồn cụ thể, nhưng tin rằng nhận xét nổi tiếng này được nhiều người biết). "cẩm nang“ có thể được hiểu là những giải pháp cấp kỳ, chiến thuật chứ không phải thứ "nhất thành bất biến“.

3. Đôi điều tạm kết

Như đã trình bày: "giáo dục là sinh hoạt tri thức và tư tưởng của cộng đồng người; bàn thảo về giáo dục luôn sống động, đa dạng“; để tạm kết, người viết muốn nêu lên suy nghĩ về mấy điểm người nghiên cứu và tìm học có thể cần lưu tâm.

Người Việt thường mang tâm lý yếm thế rằng nền văn hoá, văn minh Việt tộc là thành phẩm giáo hoá của người Tàu. Có nhiều nỗ lực chứng minh văn hoá Việt tộc (hiểu là các dân tộc trên đất nước Việt Nam) có nguồn riêng và thậm chí còn là nơi phát tích của văn minh Trung hoa; nhưng cái tâm lý yếm thế nói trên vẫn ám ảnh đến mức tách biệt ngôn ngữ, văn tự của ta thành phần Hán hay Nôm để so đo bình giải, v.v. Vậy chúng ta nhìn vấn đề này thế nào cho hợp tình hợp lý?

Ta biết tư duy tri thức lấy ngôn ngữ làm công cụ và trong ngôn ngữ thì chữ viết là ký tự hiển thị cho nó. Nếu người Việt cổ chưa có được chữ viết riêng (tự hào và tự tin thêm một chút để cho rằng tổ tiên ta đã có chữ viết nhưng đã bị mai một đi) thì cái gốc là tư duy tri thức vẫn muôn đời hiện hữu. Trong tiến trình lịch sử, nếu trong trường hợp cụ thể mà ta dùng loại ký tự nào đó làm công cụ tư duy và lưu trữ trí thức thì hoàn toàn không phải ta không có hoặc đánh mất cái gọi là "bản lai diện mục“. Thực tế là chúng ta đã dùng chữ Hán rất tốt trong khi sáng tạo chữ Nôm để ghi lại một cách sát hợp hơn những công trình thơ văn, ca ngữ. Ngày nay ký tự chính thức ta dùng là chữ latin dạng (version) việt ngữ. Trong tất cả những dạng ký tự đó, chúng ta vẫn thấy rõ những giá trị tư tưởng và văn hoá đặc thù của văn hiến Việt Nam. Như vậy việc tiếp thu những di sản như chữ Hán, chữ Pháp là điều hiển nhiên không cần có chút bận tâm; việc đó chỉ làm phong phú thêm cho văn hoá của ta mà thôi.(13)

Điều thứ hai là: tri thức là tài sản của toàn thể nhân loại, việc tiếp thu những thành trựu tri thức và văn hoá của toàn nhân loại là như cầu và đòi hỏi của mỗi con người và từng dân tộc. Con người giao lưu tranh đấu với nhau nhưng cũng học hỏi nhau rất nhiều; có thể nói giao lưu để học hỏi và giao lưu cùng với học hỏi là điều kiện để tồn tại và phát triển. Nếu châu Âu, qua các thày tu Thiên chúa giáo, không tiếp thu con số "không“ của Ấn độ thì khoa học khó có thể tiến tới ngày nay; nếu Heinrich-Hải-hành-gia của Bồ đào nha không học cách chế thuyền buồm chạy ngược gió của ngư dân A-ráp để có được những chuyến thám hiểm bờ tây châu Phi (1418) đầu tiên thì thế giới không thể rộng mở để các vùng miền vẫn cứ như giếng nhỏ giam hãm con người; vân vân. Chính cha ông chúng ta từng để lại những bài học giản dị và thấm thía:

Ở đời muôn sự là chung,
Hơn nhau ở chữ anh hùng mà thôi!

"Anh“ là trí tuệ và "hùng“ là sức mạnh. Không có trí tuệ thì không có sức mạnh và sức chỉ mạnh khi biết gồm thâu trí tuệ muôn người. Cha ông ta cũng dạy:

Mạnh, là mạnh cả bè,
Mạnh chi cây nứa le te một mình.

Để sức mạnh "cây nứa“ đạt tới sức mạnh của "bè“ cần có sự kết nối bằng trí tuệ vậy! (14) Nghĩa là điều quan trọng là chúng ta cần tiếp thu tất cả các nguồn tri thức của nhân loại để gom thành sức mạnh cộng đồng hầu sống còn trong thế giới cạnh tranh khốc liệt ngày nay. Ý nghĩa của việc dạy và học là như vậy; công của thày (lập thuyết và diễn giải thuyết), sức của trò (tiếp thu, thực hành, phát triển) cũng chỉ nhằm đến mục đích ấy mà thôi!

Cuối cùng, về văn hoá Việt Nam, chúng tôi có cảm nhận rằng những gì cha ông để lại thường là trong dạng thức giản đơn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa. Đối với việc học, có thể dẫn ra hai câu: Không có thày đố mày làm nên, và Học thày không tày học bạn. Chúng tôi hiểu ý nghĩa những lời đó là nhân loại cần có những người nghiên cứu đúc kết tư tưởng và truyền trao chúng (thày); nhưng trong quá trình học hỏi, con người cần suy nghĩ và trao đổi (với bạn) để lý thuyết trở thành tư tưởng sống động của cộng đồng. "Khư khư tự buộc lấy mình vào trong“ (Kiều) một lý thuyết nào đó thì cũng là một dạng thức của nô lệ và sẽ khó xoay trở trong tiến trình lịch sử.


(13) Có thể tham khảo thêm bài viết mới đây về đóng góp của đạo Thiên chúa (chữ quốc ngữ) trong phát triển văn hoá Việt Nam, Hội nghị Việt Nam học 3, Hà Nội 2008; nguồn BBC Việt ngữ.
(14) Từ triết lý giản đơn này có thể suy luận và rút ra nhiều điều. Người phương tây có câu tương tự:
A unique System so much more than the Sum of its Parts.
Ein System ist mehr als Summe allen Elementen.
Sự nối kết các thành tố để tạo tính cố kết (Solitarität, kết đoàn) có thể thông qua 2 hình thức: dính/bám kết (Adhäsion) và liên kết (Kohäsion) trong đó nối/dính kết có tính bề ngoài còn liên kết có liên hệ nội tại. Về mặt xã hội, kết đoàn theo hình thức thứ nhất mang tính cơ hội và rất dễ tan rã - điều thường thấy ở người Việt Nam. Nối kết nội tại (trên cơ sở mục tiêu, lý tưởng) là bản chất các hội đoàn và đạt được trong những xã hội dân chủ có nền văn hoá cao. Trong các hội đoàn, con người có điều kiện trưởng thành (về mặt xã hội) nhiều hơn; qua các hội đoàn mạnh, quốc gia có sức mạnh lớn hơn.


© 2008 www.danchimviet.com