1. Lời dẫn

Giáo dục, xét về hình thức, là quá trình truyền trao và tiếp thu tri thức; nhưng nếu xét riêng tri thức thì xuất xứ và điểm đến của nó lại chính là cuộc sống. Về thực chất, giáo dục là sinh hoạt tri thức và tư tưởng của cộng đồng người: có tranh đấu (tranh luận và đấu lý), thải loại, có phát triển nâng cao. Như vậy, giáo dục giống như mọi sinh hoạt khác của cuộc sống: thoáng mở và sống động; nếu có những khung khổ nào đó thì chỉ là do con người tạo ra cho nó và cũng chỉ mang tính thời gian, thời đại.

Công việc dạy và học, có thể nói, cũng xưa như loài người. Khi nhớ tưởng đến hình ảnh những già làng ngồi bên đống lửa bập bùng nơi hang động, kể cho toàn bộ tộc nghe những kinh nghiệm tìm săn con thú, kinh nghiệm vượt lũ, thoát hiểm rừng già, (1)... thì ta đã có những hình ảnh đầu tiên của việc dạy và học, hình ảnh đầu tiên của sinh hoạt thày-trò. Qua thời gian, xã hội tiến dần đến phân công lao động thì dạy trở thành một nghề trong khi đó học trở thành hoạt động suốt đời gắn chặt với những thói quen và những chủ đích cố hữu hay đổi thay nhiều ít của mỗi cá nhân. Ngày nay, khi văn minh nhân loại phát triển đến trình độ và tốc độ cao, việc học tập và rèn luyện trở thành đòi hỏi sống còn của con người; việc tìm hiểu và bàn thảo về giáo dục, do đó, cũng luôn sống động, đa dạng và chắc chắn không có điểm dừng. Mỗi ý kiến đưa ra trên một diễn đàn nào đó đều là một phần suy tư, trải nghiệm cá nhân, mong làm sáng tỏ, trước hết, cho bản thân và phần nào đóng góp cho nhận thức chung của cộng đồng. Những thiếu sót là không tránh khỏi và được tiếp thu những phê bình, bổ khuyết chắc chắn là mong đợi tâm can của người viết.

Trong phần kế tiếp, chúng tôi thử xem xét đề tài này từ việc quan sát hoạt động của người dạy (ông thày) cũng như quan hệ giữa hai thành tố của nó là thày và trò. Đây cũng là kết quả sau những lần luận bàn cùng bạn hữu; vậy trước hết xin ngỏ lời chân thành cảm ơn những người bạn cũ và mới, cũng xin cảm ơn bạn đọc đã cho cơ hội chia xẻ. Đặc biệt, người viết muốn ngỏ lời tri ân đến một bậc cao niên, xin được gọi là Thày Vũ Paris, là người đầu tiên đã kích lệ và hướng dẫn cách thức trình bày suy tư thành trang viết để hôm nay có được những dòng này; đây cũng là điều người học trò nên một lần nói ra.(2)

2. Thày cũ, trò xưa

Người dạy, ta thường gọi là "ông thày“, là những người qua nghiên cứu, tu tập tri thức rồi do nhu cầu của cuộc sống và lòng nhiệt thành mà đem kiến thức của mình truyền trao lại cho người khác. Dải phân tán (Spectrum, phổ) của khái niệm này khá rộng. Về mức thì có thể kể từ người rất ít "lên lớp“ (nhất tự vi sư, bán tự vi sư) đến người có cả ngàn trò; có người thâu lượm trò không kể hết số, nhưng có người không lên lớp ngày nào cũng vẫn được coi là "đại sư“. Về loại thì có người chỉ dạy, có người vừa dạy vừa đem thuyết của mình ra thực hành, nhưng có người chỉ tập trung trọn đời vào công việc hoàn chỉnh học thuyết; những thế hệ sau gọi họ là thày vì tiếp thu tư tưởng, học thuyết của họ để đem thực hành và ít nhiều bổ sung thêm ý kiến của mình vào học thuyết của thày.

Chúng tôi xem xét một số trường hợp điển hình là Khổng (tử) Khâu, Vương Hủ và Karl Marx. Hai vị Khổng tử và Marx đều là những nhân vật lịch sử và nổi tiếng đến mức không cần giải thích thêm. Riêng trường hợp Vương Hủ, được biết nhiều với tên Quỷ cốc tiên sinh (học sỹ hang quỷ) có thể xem là một sáng tạo văn học của Tàu, nhưng nếu coi văn học là tinh chất mang hình bóng và ấp ủ ước mơ cuộc sống thì câu chuyện về vị này cũng có giá trị để suy gẫm. Đối với tất cả các vị này, chúng tôi chỉ lược ghi những điều quan trọng và cố gắng dẫn nguồn để tiện tham khảo.

2.1. Khổng Khâu

Về Khổng tử, có nhiều sách đã viết. Tài liệu tôi có là cuốn "Khổng tử“ của cụ Nguyễn Hiến Lê: sưu tầm, trích dẫn, phân tích nhiều và dài.(3) Mới đây trong Nho giáo đại cương, tác giả Nguyễn Ước có phác thảo chân dung Khổng tử tuy giản lược nhưng cũng rõ ràng: "nghiêm nghị nhưng thích đàn, mê thơ, học rộng. Ngài triển khai Nho học, hệ thống hóa thành một học thuyết mà bản thân ngài vừa nỗ lực tìm cách ứng dụng vừa hết lòng truyền dạy cho môn đồ.“. Ở đây chỉ bàn chung về các môn học và đôi điều nhận xét về ngài.

Các môn học Khổng tử nghiên cứu và truyền dạy – "lục nghệ: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số“ – hầu như đã đi vào nền nếp tới thời của ngài. Xuất xứ và ứng dụng của các môn học (tri thức thiết yếu cho những người muốn tham chính - làm quan) xin tham khảo các tài liệu đã dẫn, chỉ xin nhận xét rằng khối tri thức mà Khổng tử để lại là khá hoàn chỉnh. Khi xem quan hệ thày-trò Khổng tử ta thấy sinh hoạt trí thức thời đó rất lý thú: không chỉ có việc người thày thuyết giảng, mà việc học trò đặt câu hỏi cũng đóng góp cho sự phát triển tư tưởng của Khổng tử; chưa kể công sức các trò ghi chép lại lời thày. (Trường hợp này cũng xảy ra đối với Cakya Mouni - Bút-đa, Bụt - khi các đệ tử kết tập kinh tạng). Sau đây xin đi sâu vào môn "nhạc“ (môn học đứng hàng thứ 2, tiếp liền "lễ“) là thứ Khổng tử rất say mê.

Khổng tử say mê nghiên cứu lễ nhạc từ nhỏ. Năm 516 trước Công Nguyên, ông tránh nạn sang Tề; "Ở Tề ông nghe nhạc Thiều của vua Thuấn, thích quá, tới nỗi ba tháng không biết mùi thịt; khen là "tận mỹ, tận thiện“, hơn hẳn nhạc Võ của Võ vương chỉ tận mỹ chứ không tận thiện.“(4). Năm 489 trước CN, thày trò Khổng tử bị người Trần, Thái (Sái) vây ở giữa cánh đồng; "bị tuyệt lương, nhiều môn sinh đau ốm liệt giường, trong khi Khổng tử vẫn thản nhiên đọc sách và gẩy đàn“(5). Đây là hoàn cảnh nguy khốn của thày trò, Khổng tử đã phải nói chuyện với từng người và đặt câu hỏi trực tiếp với họ: "Đạo của ta sai chăng?“ rồi với những dẫn dụ thích hợp, ông cố gắng làm họ bình tĩnh xét suy để giữ niềm tin. Cuối đời, ông tập trung vào việc sắp đặt tài liệu, viết sách và san định Kinh Nhạc. Ông bàn về nhạc với nhạc quan nước Lỗ (6): "Có thể biết được phép tấu nhạc: Mới đầu các âm thanh phấn khởi nhiệt liệt; rồi tới lúc khai phóng thì các âm thanh thuần nhiên điều hoà, rõ ràng, lại liên tục nhau, như vậy là thành một khúc“. Nhờ công đính chính của ông, "nhạc Nhã và Tụng được diễn tấu đúng âm luật“.

Tại sao chúng tôi tách riêng và xem xét hoạt động của Khổng tử về bộ môn nhạc? Ngoài việc nhạc đi liền với các hình thức lễ hội, những nghiên cứu mới đây cho biết vai trò to lớn của âm nhạc đối với cuộc sống con người cũng như trong giáo dục. Thời Khổng tử tất nhiên chưa có những nghiên cứu thực nghiệm; nhưng qua kinh nghiệm mà người xưa đã nắm bắt tác dụng của ca nhạc và ứng dụng vào đời sống như thế thì thật là điều đáng ngạc nhiên. Nghiên cứu bộ não, ngày nay ta biết mỗi vùng của nó liên quan đến một phần nhất định của cơ thể và hoạt động của phần này. Con người luôn gảy đàn bằng tay phải và nhấn nốt bằng tay trái vì não bộ có hai vùng điều phối âm thanh và nhịp điệu khác nhau. Xét toàn thể, thì khi một vùng hưng phấn, những vùng khác (chi phối các hoạt động khác) bị ức chế. Chẳng hạn khi hát lên, ta thấy cảm giác sợ hãi giảm thiểu; đó chính là do hoạt động của vùng "âm nhạc“ đã lấn át vùng "âu lo“. Trong hoàn cảnh bị vây giữa đồng mà Khổng tử vẫn gảy đàn là đang thực hành kinh nghiệm đó chăng? Tác dụng này, ngày nay, còn được ứng dụng cho nhiều trị liệu và cả trong việc học ngoại ngữ bằng cách nghe băng phát trong lúc ngủ, vân vân.(7) 

Phần Khổng tử xin chỉ được trình bày đủ để chứng tỏ ông là nhà nghiên cứu, học rộng và sâu, một ông thày tận tâm với nghề và người, đồng thời sinh hoạt học thuật của thày-trò cũng thật là khoáng đạt và dân chủ; còn việc cố gắng thực hành của ông thì cụ Nguyễn Hiến Lê đã viết và bình rất sâu sắc.

(1) Tất nhiên từ "những bài học trong trường“ như vậy đến khi những đứa trẻ của bộ lạc có được kinh nghiệm và thành thạo trong những cuộc chiến sinh tồn thực sự còn là con đường dài cần rất nhiều học hỏi và chiêm nghiệm; nhưng những sự khởi đầu này là rất cơ bản và gần gũi với cái ngày nay ta gọi là "giáo dục và đào tạo“.
(2) Trong giòng hoài niệm, người viết kính cẩn ghi nhớ hình ảnh những người Thày đầu tiên của mình như vị trưởng lão nho học trong làng đã đảm trách công việc gõ vào đầu thế hệ mình những chữ a-bê-xê-... cùng cách ghép chữ, đánh vần; ghi nhớ công lao của thày Tạ Quang Bửu mà không có tư duy của thày thì lớp học sinh nghèo chúng tôi đã khó có cơ hội học tiếp và học thêm.

(3) Khổng tử, Nguyễn Hiến Lê, nxb. Văn Hoá 1996
(4) Khổng tử, sđd, trang 42-3
(5) Khổng tử, sđd, từ trang 67
(6) Khổng tử, sđd, trang 81
(7) Một kỷ niệm: Trong giờ ngoại khoá về âm thanh học ở trường đại học, một giáo sư vật lý nói: Những hợp âm là hoà hợp giữa các âm loại với tần số có tỷ lệ nhất định với nhau. Các âm cao thấp thể hiện sự đối nghịch là cơ sở cho phát triển, như quan điểm của Marx. Bao giờ sau những đối kháng âm tần là đến giai đoạn âm thanh hoà hợp; nó là cái về sau này được đưa lên thành quy luật cấu tạo một bản nhạc: T-D-T, tức là Tonic (thuận nhạc) – Dissonnance (Nghịch nhạc) – rồi lại quay về Tonic (thuận nhạc) [VTH]. Nghĩ lại điều này, tôi luôn ngạc nhiên về việc rút ra liên hệ giữa những cái ... xa lắc xa lơ (âm nhạc - chủ nghĩa Marx) mà không phải không có lý!