- Trang Chủ
- Truyện Ngắn
- Giáng sinh ngày xưa
Giáng sinh ngày xưa
- Tác Giả Trương Phú Thứ
- Đăng ngày 18.12.08
- Truyện Ngắn
Mùa Giáng Sinh năm 1957, gia đình tôi vừa mới tạm yên ổn nơi ăn chốn ở tại miền đất mịt mùng có tên gọi là Cái Sắn, ngay gần cuối cái đuôi khoằm khoằm trên bản đồ nước Việt Nam có hình chữ S. Khu định cư Cái Sắn thuộc tỉnh Kiên Giang là đất tạm dung của dân miền Bắc, những người vào năm 1954 đã phải rứt ruột bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, mồ mả tổ tiên chạy vào miền Nam lánh nạn cộng sản. Hầu hết dân di cư ở Cái Sắn đều là những người đã một đời bầu bạn với con trâu cái cầy và là dân "có đạo". Kiểu cách ăn nói thông thường của người miền Bắc ngày xưa gọi những người theo đạo Công giáo là người "có đạo" và những người theo các tín ngưỡng khác hoặc không theo một tôn giáo nào là dân "ngoại đạo". Người "có đạo" hay dân "ngoại đạo" chẳng ai suy bì hay thắc mắc về cái tên gọi đời thường đã trở nên quen miệng và được mọi người mặc nhiên chấp nhận. Cả vùng định cư Cái Sắn mênh mông với trời nước bạt ngàn cũng thi thoảng có một gia đình "ngoại đạo" hoặc một ít người đã từng sinh sống ở nơi đô thị của các tỉnh miền Bắc, được gọi là dân tỉnh thành. Sau này vùng Cái Sắn trở nên trù phú với ruộng lúa chạy dài đến tận chân trời, tôm cá đầy kinh rạch thì những người "ngoại đạo" cũng đã hết thảy trở thành "có đạo" và dân tỉnh thành cũng đã biến mất khỏi nơi ruộng đồng chân lấm tay bùn.
Gia đình tôi đến lập nghiệp ở Cái Sắn từ một vùng quê miền duyên hải Bắc Việt. Dòng họ nội ngoại từ ông cố ông sơ cho đến thế hệ ăn không biết no, ngủ không biết chán chúng tôi chỉ biết bám chặt vào mảnh vườn sào ruộng đắp đổi khoai sắn sống qua ngày. Quê tôi nghèo lắm. Cả làng chỉ có dăm ba cái nhà ngói còn toàn là nhà tranh vách đất. Ruộng đồng thì phèn chua nước mặn, cầy cấy mùa được mùa mất nên nhà nào cũng chỉ tiệm tạm đủ ăn. Thế nhưng làng tôi lại có một ngôi nhà thờ "kiểu Tây" bề thế nhất vùng. Cho đến bây giờ, cũng đã đến cả nửa thế kỷ rồi, tôi vẫn còn nhớ đến từng chi tiết ngôi thánh đường mà dòng họ tôi đã một lòng rau cháo qua ngày nhưng nhất định phải xây một đền thờ xứng đáng là nơi Chuá ngự. Tôi đã được đi thăm nhiều nhà thờ to lớn nổi tiếng trên thế giới nhưng lại chẳng có một cảm xúc nào với những kiến trúc đồ sộ và những công trình mỹ thuật vô tiền khoáng hậu qua nhiều thời đại. Bao nhiêu tâm tình mến thương, tình nghĩa chất ngất dạt dào tôi đã để lại nơi tháp chuông của ngôi nhà thờ làng tôi. Chẳng biết ngày xưa làm thế nào mà cha ông chúng tôi chỉ với hai bàn tay gầy guộc và chiếc thang tre yếu ớt đã lại có thể xây được cái tháp chuông cao vút ngaọ nghễ dưới trời xanh. Ngọn tháp có ba quả chuông mua từ bên Tây về. Mỗi ngày ba lần tiếng chuông vang lên mời gọi con cái "chạy vội" về nhà Chúa kinh nguyện sớm tối. Tiếng chuông đánh thức dân làng thức dậy sau giấc ngủ miệt mài, người nào người nấy vội vơ cái áo đi mau ra nhà thờ cho kịp lễ. Những buổi trưa bận rộn công việc nhà cửa đồng áng không đến nhà thờ được nhưng khi vừa nghe tiếng chuông đổ hồi, mọi người đều nghỉ tay đồng áng đứng lên quay mặt về phía nhà thờ để cùng hợp lòng hợp ý đọc kinh nguyện rất sốt sắng. Tiếng chuông ngân nga vào mỗi buổi chiều lúc dân làng quang gánh về nhà sau một ngày làm lụng vất vả. Nhiều người chỉ kịp chạy ào xuống dưới cầu ao giũ quàng bùn đất rồi vội vàng vào nhà thờ bắt đầu buổi kinh chiều. Tiếng kinh trầm bổng lãng vãng trên rặng soan già bay cao vút lên chín tầng mây, âm vang vọng xa tới những cánh đồng xanh mầu mạ non con gái chạy dài đến tận chân trời. Lời kinh sốt sắng lan toả ra như hương trầm từ bao tấm lòng cung kính nguyện cầu xin cho sống đời bình an. Nhà thờ làng tôi là địa chỉ cư trú thứ hai của dân làng, là nơi ẩn náu của những ngày loạn lạc và cũng là nơi hội hè đình đám trong những ngày lễ tết quanh năm. Nghe tin Việt Minh về đến gần làng là mọi người già trẻ lớn bé chạy vào nhà thờ đóng chặt cửa lại rồi xướng kinh cầu nguyện xin Chúa giữ gìn. Nếu chết thì cả làng cùng chết. Chết trong nhà Chúa. Chết an lành trong tay Chúa. Kỳ diệu thay là Việt Minh cũng đã về đến làng nhưng chẳng đứa nào dám phá cửa nhà thờ để bắt "bọn phản động". Mọi người vẫn bình an dưới sự che chở của Chúa. Ngày Tết thì vui biết bao, những trò chơi và đám múa sư tử đều lấy cái sân thượng ngay cuối nhà thờ như là nơi mở hội. Sáng ngày mùng Một Tết tiếng trống của đội múa sư tử ngay khi thánh lễ đầu năm vừa xong là một đợi chờ náo nức của bọn trẻ chúng tôi. Sau ngày mùa, dân làng cười nói vui vẻ mừng Xuân đón Tết dưới bóng nhà thờ, đầm ấm yêu thương như nụ hoa đang độ xuân thì.
Nhà tôi chỉ cách nhà thờ một quãng đường. Từ cổng nhà tôi đi ngang con đường làng, qua cái ao lềnh bềnh những mảng bèo trôi chậm chạp là đã đến cuối nhà thờ. Con đường quá quen thuộc, tôi có thể nhắm mắt đi cũng chẳng sợ ngã xuống ao. Đã mấy năm rồi tôi học chữ quốc ngữ, học giáo lý ở gian nhà phía hông trái nhà thờ. Suốt ngày tôi chỉ quanh quẩn ở ngoài nhà thờ. Mỗi lần nghe tiếng chuông là tôi chạy vội vào nhà thờ ôm chặt cái sợi giây thừng to tướng mà ông bõ vóc người gầy ốm nhỏ thó đang cố đu cả thân mình lên để giật chuông. Nhiều lần người bõ già này chỉ bám vào giây để giữ nhịp cho hồi chuông. Lần nào được giật chuông tôi cũng khoe với u tôi để nhìn nụ cười dịu hiền với chút hãnh diện cuả bà mẹ suốt đời hy sinh, nhịn ăn nhịn mặc cho con cái.
Gia đình tôi đến lập nghiệp ở Cái Sắn từ một vùng quê miền duyên hải Bắc Việt. Dòng họ nội ngoại từ ông cố ông sơ cho đến thế hệ ăn không biết no, ngủ không biết chán chúng tôi chỉ biết bám chặt vào mảnh vườn sào ruộng đắp đổi khoai sắn sống qua ngày. Quê tôi nghèo lắm. Cả làng chỉ có dăm ba cái nhà ngói còn toàn là nhà tranh vách đất. Ruộng đồng thì phèn chua nước mặn, cầy cấy mùa được mùa mất nên nhà nào cũng chỉ tiệm tạm đủ ăn. Thế nhưng làng tôi lại có một ngôi nhà thờ "kiểu Tây" bề thế nhất vùng. Cho đến bây giờ, cũng đã đến cả nửa thế kỷ rồi, tôi vẫn còn nhớ đến từng chi tiết ngôi thánh đường mà dòng họ tôi đã một lòng rau cháo qua ngày nhưng nhất định phải xây một đền thờ xứng đáng là nơi Chuá ngự. Tôi đã được đi thăm nhiều nhà thờ to lớn nổi tiếng trên thế giới nhưng lại chẳng có một cảm xúc nào với những kiến trúc đồ sộ và những công trình mỹ thuật vô tiền khoáng hậu qua nhiều thời đại. Bao nhiêu tâm tình mến thương, tình nghĩa chất ngất dạt dào tôi đã để lại nơi tháp chuông của ngôi nhà thờ làng tôi. Chẳng biết ngày xưa làm thế nào mà cha ông chúng tôi chỉ với hai bàn tay gầy guộc và chiếc thang tre yếu ớt đã lại có thể xây được cái tháp chuông cao vút ngaọ nghễ dưới trời xanh. Ngọn tháp có ba quả chuông mua từ bên Tây về. Mỗi ngày ba lần tiếng chuông vang lên mời gọi con cái "chạy vội" về nhà Chúa kinh nguyện sớm tối. Tiếng chuông đánh thức dân làng thức dậy sau giấc ngủ miệt mài, người nào người nấy vội vơ cái áo đi mau ra nhà thờ cho kịp lễ. Những buổi trưa bận rộn công việc nhà cửa đồng áng không đến nhà thờ được nhưng khi vừa nghe tiếng chuông đổ hồi, mọi người đều nghỉ tay đồng áng đứng lên quay mặt về phía nhà thờ để cùng hợp lòng hợp ý đọc kinh nguyện rất sốt sắng. Tiếng chuông ngân nga vào mỗi buổi chiều lúc dân làng quang gánh về nhà sau một ngày làm lụng vất vả. Nhiều người chỉ kịp chạy ào xuống dưới cầu ao giũ quàng bùn đất rồi vội vàng vào nhà thờ bắt đầu buổi kinh chiều. Tiếng kinh trầm bổng lãng vãng trên rặng soan già bay cao vút lên chín tầng mây, âm vang vọng xa tới những cánh đồng xanh mầu mạ non con gái chạy dài đến tận chân trời. Lời kinh sốt sắng lan toả ra như hương trầm từ bao tấm lòng cung kính nguyện cầu xin cho sống đời bình an. Nhà thờ làng tôi là địa chỉ cư trú thứ hai của dân làng, là nơi ẩn náu của những ngày loạn lạc và cũng là nơi hội hè đình đám trong những ngày lễ tết quanh năm. Nghe tin Việt Minh về đến gần làng là mọi người già trẻ lớn bé chạy vào nhà thờ đóng chặt cửa lại rồi xướng kinh cầu nguyện xin Chúa giữ gìn. Nếu chết thì cả làng cùng chết. Chết trong nhà Chúa. Chết an lành trong tay Chúa. Kỳ diệu thay là Việt Minh cũng đã về đến làng nhưng chẳng đứa nào dám phá cửa nhà thờ để bắt "bọn phản động". Mọi người vẫn bình an dưới sự che chở của Chúa. Ngày Tết thì vui biết bao, những trò chơi và đám múa sư tử đều lấy cái sân thượng ngay cuối nhà thờ như là nơi mở hội. Sáng ngày mùng Một Tết tiếng trống của đội múa sư tử ngay khi thánh lễ đầu năm vừa xong là một đợi chờ náo nức của bọn trẻ chúng tôi. Sau ngày mùa, dân làng cười nói vui vẻ mừng Xuân đón Tết dưới bóng nhà thờ, đầm ấm yêu thương như nụ hoa đang độ xuân thì.
Nhà tôi chỉ cách nhà thờ một quãng đường. Từ cổng nhà tôi đi ngang con đường làng, qua cái ao lềnh bềnh những mảng bèo trôi chậm chạp là đã đến cuối nhà thờ. Con đường quá quen thuộc, tôi có thể nhắm mắt đi cũng chẳng sợ ngã xuống ao. Đã mấy năm rồi tôi học chữ quốc ngữ, học giáo lý ở gian nhà phía hông trái nhà thờ. Suốt ngày tôi chỉ quanh quẩn ở ngoài nhà thờ. Mỗi lần nghe tiếng chuông là tôi chạy vội vào nhà thờ ôm chặt cái sợi giây thừng to tướng mà ông bõ vóc người gầy ốm nhỏ thó đang cố đu cả thân mình lên để giật chuông. Nhiều lần người bõ già này chỉ bám vào giây để giữ nhịp cho hồi chuông. Lần nào được giật chuông tôi cũng khoe với u tôi để nhìn nụ cười dịu hiền với chút hãnh diện cuả bà mẹ suốt đời hy sinh, nhịn ăn nhịn mặc cho con cái.

