Mối sầu của Marx
- Tác Giả Nguyễn Hữu Liêm
- Đăng ngày 12.12.08
- Quan Điểm
Từ bên trái
Từ thuở Tiên đi, sầu cũng nhỏ
Nhân gian thôi nhớ chuyện trên trời.
Đại bàng vỗ cánh muôn năm trước
Đâu biết trời kia rộng mấy khơi. (HC)
2008 www.danchimviet.com
Nhân gian thôi nhớ chuyện trên trời.
Đó là hai câu thơ của Huy Cận trong lời mở đầu của Bùi Văn Nam Sơn về bản dịch "Hiện Tượng Học Tinh Thần" của G. W. F. Hegel. Khi trích dẫn hai câu thơ này, chàng học giả họ Bùi muốn nói đến một không khí triết học đã trở nên trống vắng và không còn mang cao vọng lớn lao sau tác phẩm này của Hegel. "Tiên" ở đây không phải là nàng tiên, hay là tiên sinh, mà là một nhà tiên tri cho thời đại và nhân loại. Khi nhà tiên tri đã ra đi, con người trần gian không còn màng đến việc tày trời. Họ chỉ còn biết chuyện của trái đất, của cuộc sống thuần vật chất. Nhìn lại lịch sử thế giới trong gần một trăm năm qua, từ "duy tâm luận" của Hegel, nhân loại hăm hở chạy theo "duy vật chủ nghĩa" của Marx để rồi hệ quả là con người càng lún sâu vào cõi vật thể. Không còn ai nhìn lên cao để "nhớ chuyện trên trời". Ngay cả nỗi sầu muôn năm nay cũng nhỏ.
Khi con người đã bỏ lại đằng sau mình hai thời quán giáo điều của tôn giáo và ý thức hệ của chủ thuyết chính trị thì hắn không còn gì siêu hình để tin vào, không còn lý tưởng vượt trần gian để sống và chết cho. Lịch sử nay đã không còn cứu cánh tính; cuộc đời cá nhân không còn cưu mang nội dung bản thể, hắn cũng mất luôn niềm xác tín vào ý nghĩa hiện hữu. Đây là thời điểm mà hắn bỏ rơi tôn giáo và chính trị để ra đi.
Khi thoát khỏi thần linh và ý hệ, ở giai đoạn đầu, con người cảm thấy bị chấn thương và bơ vơ. Nhưng nay, thì nỗi cô đơn cũng đã không còn - khi ý thức lịch sử cũng đã biến mất. Tất cả nhân loại này, từ đông sang tây, từ giàu đến nghèo, nay đã trở nên những chiếc máy thuần kinh tế. Những con người cách mạng oai hùng và huy hoàng thế kỷ trước nay chỉ còn là những con vật loay hoay với những ván bài tiền của. Họ đã bỏ quên trời đất ngoài kia để chỉ còn say sưa trong bóng tối với chính mình. Đó là những đứa con hoang lạc loài và tha hóa của Marx.
Gần hai thế kỷ trước, khi Marx đọc cuốn sách "Hiện Tượng" này của Hegel, chàng ta muốn chuyển ngược biện chứng tinh thần thành ra quy luật kinh tế. Gốc rễ của con người, thước đo cho nhân loại, không phải đến từ trời cao hay thần linh, mà là con người chính hắn. Marx muốn mang nhân gian này ra khỏi "vương quốc thiết yếu" vốn chỉ biết bận tâm về nhu cầu vật chất, đến với "cõi tự do" nơi mà cá nhân và tập thể được dung thông trong hòa hợp giữa nhu cầu và khả năng. Chàng muốn giải phóng con người ra khỏi "vọng tưởng duy tâm" của Hegel, vốn là "thượng tầng cấu trúc" của thực tế vật chất, để đem nhân loại trở về với thực tại trần đời, để làm người thế gian thuần kinh tế. Nhân loại hãy thôi hoang phí năng lực vào ước vọng siêu hình để mà đem hết sức mình lo chuyện áo cơm bằng phương trình lịch sử.
Và như ai cũng đã biết rồi. Cơn mơ nào cũng phải được tỉnh thức. Chủ nghĩa Marx đã thất bại như là một ý thức hệ chính trị. Nhưng Marx đã tiên tri đúng về thân phận của con người thế gian này. Tất cả chúng ta nay chỉ là những con vật kinh tế. Không còn ai tin vào các "thượng tầng cấu trúc" của thế giới tư bản nữa. Thần linh biến mất. Trời cao không còn. Thượng đế đã chết. Bạn biết sao không? Cái điều nghịch ngẫu nằm ở chỗ rằng dù cho con người thế gian hôm nay, trên bình diện chính trị, họ đều chống Marx; nhưng tất cả chúng ta, trên bình diện kinh tế, đều là những đứa con ngoan của Marx.
Hãy nhìn lại. Lịch sử, theo Hegel, là sự "khai mở Tinh thần vào thời gian," cũng như "Vũ trụ là sự trương mở Tinh thần vào không gian". Thế giới, theo Hegel, là một hiện tượng tinh thần, mà trong đó, cá nhân tính chỉ là một hình thái tha hóa đang vươn mình tìm về lại chân lý vốn đang chờ đón ở cuối hành trình lịch sử. Cứu cánh tính của lịch sử và nhân loại là Tự do. "Lịch sử thế giới là một tiến trình trong ý thức Tự do", Hegel tuyên bố. Trên cơ bản cá nhân, tự do là sự giác ngộ về "bản lai diện mục." Trên cơ bản nhân loại, tự do là sự dung thông của ý chí cá thể với thực tế lịch sử. Đây là một con đường đầy gian truân, "một xa lộ đầy bi kịch", mà Tinh thần tạo hóa, như là một nhà đạo diễn đầy thủ đoạn - "the cunning of Reason" - nhưng với thiện ý, đầy đoạ nhân gian như là những trừng phạt của cha mẹ dành cho con cháu trong nhà nhằm cho chúng mở mắt ra để trưởng thành và lớn lao lên mà biết đến đường về.
Đối với Hegel thì bản chất tha hóa của con người là nguyên nhân cho địa ngục trần gian. Trong khi đó, Marx thì cho rằng sự tha hóa của con người là hệ quả từ bản chất cấu trúc kinh tế vật chất có sẵn của xã hội. Marx muốn xem thế gian và lịch sử là đối tượng để chinh phục và đổi mới. "Chính ta sẽ dẫm trên đống gạch vụn lịch sử để đứng lên như là một thượng đế mới," Marx viết. Con người và lịch sử như là một tiền đề và phản đề, soi gương lẫn nhau để mà biến thái lẫn nhau.
Một nửa nhân loại của thế giới, trong suốt hầu hết thế kỷ 20, đã nghe lời Marx như thế, để chủ ý thay đổi lịch sử nhằm chuyển hóa con người. Con người kinh tế sẽ phải được phủ định khi nhu cầu thiết yếu của vật chất không còn là mối bận tâm. Những con chiên Marxists không còn phải chỉ lo về chính mình. Mà trái lại. Hắn muốn hy sinh đời sống riêng tư bằng ý chí tự phủ định cho cứu cánh lịch sử. Từ đó, lịch sử là chủ thể của ý chí mà cá nhân phải phục tòng. Con người từ giã tính tha hóa cá nhân bằng cách hòa mình vào ý chí tập thể trong cứu cánh tính tự do. Muốn được giải phóng, hắn phải trước hết tự trói chặt chính mình vào cơ năng tổ chức. Chỉ còn có con người lịch sử chứ không còn cá thể riêng tư. Và thảm họa phát xuất từ đó.
Ở cuối thế kỷ 20, những con chiên Marxists mới thấy được rằng những cá nhân trong ý chí lịch sử duy vật, vừa đánh mất tự do của chính mình để rồi đồng lúc nô lệ hóa tha nhân. Khi Marxism không còn ai tin vào, nhân loại bỏ vất luôn khả năng lý tưởng. Khi cá nhân hết tin vào lịch sử, hắn cũng mất luôn niềm tin vào chính mình. Nhìn đâu, con người thời đại cũng chỉ còn thấy những thây ma thối rửa của thần linh, của tiên tri, của giáo điều, chủ nghĩa, của tổ chức, của đảng. Từ khi nhà tiên tri Karl Marx đã ra đi, thần đế cuối cùng trong thế gian này đã chết. Nhân gian từ nay đã hết mơ nói chuyện trên trời.
Khi con người đã bỏ lại đằng sau mình hai thời quán giáo điều của tôn giáo và ý thức hệ của chủ thuyết chính trị thì hắn không còn gì siêu hình để tin vào, không còn lý tưởng vượt trần gian để sống và chết cho. Lịch sử nay đã không còn cứu cánh tính; cuộc đời cá nhân không còn cưu mang nội dung bản thể, hắn cũng mất luôn niềm xác tín vào ý nghĩa hiện hữu. Đây là thời điểm mà hắn bỏ rơi tôn giáo và chính trị để ra đi.
![]() | |
Marx năm 21 (1839) và 64 tuổi (1882). Nguồn: marxists.org
Khi thoát khỏi thần linh và ý hệ, ở giai đoạn đầu, con người cảm thấy bị chấn thương và bơ vơ. Nhưng nay, thì nỗi cô đơn cũng đã không còn - khi ý thức lịch sử cũng đã biến mất. Tất cả nhân loại này, từ đông sang tây, từ giàu đến nghèo, nay đã trở nên những chiếc máy thuần kinh tế. Những con người cách mạng oai hùng và huy hoàng thế kỷ trước nay chỉ còn là những con vật loay hoay với những ván bài tiền của. Họ đã bỏ quên trời đất ngoài kia để chỉ còn say sưa trong bóng tối với chính mình. Đó là những đứa con hoang lạc loài và tha hóa của Marx.
Gần hai thế kỷ trước, khi Marx đọc cuốn sách "Hiện Tượng" này của Hegel, chàng ta muốn chuyển ngược biện chứng tinh thần thành ra quy luật kinh tế. Gốc rễ của con người, thước đo cho nhân loại, không phải đến từ trời cao hay thần linh, mà là con người chính hắn. Marx muốn mang nhân gian này ra khỏi "vương quốc thiết yếu" vốn chỉ biết bận tâm về nhu cầu vật chất, đến với "cõi tự do" nơi mà cá nhân và tập thể được dung thông trong hòa hợp giữa nhu cầu và khả năng. Chàng muốn giải phóng con người ra khỏi "vọng tưởng duy tâm" của Hegel, vốn là "thượng tầng cấu trúc" của thực tế vật chất, để đem nhân loại trở về với thực tại trần đời, để làm người thế gian thuần kinh tế. Nhân loại hãy thôi hoang phí năng lực vào ước vọng siêu hình để mà đem hết sức mình lo chuyện áo cơm bằng phương trình lịch sử.
Và như ai cũng đã biết rồi. Cơn mơ nào cũng phải được tỉnh thức. Chủ nghĩa Marx đã thất bại như là một ý thức hệ chính trị. Nhưng Marx đã tiên tri đúng về thân phận của con người thế gian này. Tất cả chúng ta nay chỉ là những con vật kinh tế. Không còn ai tin vào các "thượng tầng cấu trúc" của thế giới tư bản nữa. Thần linh biến mất. Trời cao không còn. Thượng đế đã chết. Bạn biết sao không? Cái điều nghịch ngẫu nằm ở chỗ rằng dù cho con người thế gian hôm nay, trên bình diện chính trị, họ đều chống Marx; nhưng tất cả chúng ta, trên bình diện kinh tế, đều là những đứa con ngoan của Marx.
Hãy nhìn lại. Lịch sử, theo Hegel, là sự "khai mở Tinh thần vào thời gian," cũng như "Vũ trụ là sự trương mở Tinh thần vào không gian". Thế giới, theo Hegel, là một hiện tượng tinh thần, mà trong đó, cá nhân tính chỉ là một hình thái tha hóa đang vươn mình tìm về lại chân lý vốn đang chờ đón ở cuối hành trình lịch sử. Cứu cánh tính của lịch sử và nhân loại là Tự do. "Lịch sử thế giới là một tiến trình trong ý thức Tự do", Hegel tuyên bố. Trên cơ bản cá nhân, tự do là sự giác ngộ về "bản lai diện mục." Trên cơ bản nhân loại, tự do là sự dung thông của ý chí cá thể với thực tế lịch sử. Đây là một con đường đầy gian truân, "một xa lộ đầy bi kịch", mà Tinh thần tạo hóa, như là một nhà đạo diễn đầy thủ đoạn - "the cunning of Reason" - nhưng với thiện ý, đầy đoạ nhân gian như là những trừng phạt của cha mẹ dành cho con cháu trong nhà nhằm cho chúng mở mắt ra để trưởng thành và lớn lao lên mà biết đến đường về.
![]() |
| Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) |
Một nửa nhân loại của thế giới, trong suốt hầu hết thế kỷ 20, đã nghe lời Marx như thế, để chủ ý thay đổi lịch sử nhằm chuyển hóa con người. Con người kinh tế sẽ phải được phủ định khi nhu cầu thiết yếu của vật chất không còn là mối bận tâm. Những con chiên Marxists không còn phải chỉ lo về chính mình. Mà trái lại. Hắn muốn hy sinh đời sống riêng tư bằng ý chí tự phủ định cho cứu cánh lịch sử. Từ đó, lịch sử là chủ thể của ý chí mà cá nhân phải phục tòng. Con người từ giã tính tha hóa cá nhân bằng cách hòa mình vào ý chí tập thể trong cứu cánh tính tự do. Muốn được giải phóng, hắn phải trước hết tự trói chặt chính mình vào cơ năng tổ chức. Chỉ còn có con người lịch sử chứ không còn cá thể riêng tư. Và thảm họa phát xuất từ đó.
Ở cuối thế kỷ 20, những con chiên Marxists mới thấy được rằng những cá nhân trong ý chí lịch sử duy vật, vừa đánh mất tự do của chính mình để rồi đồng lúc nô lệ hóa tha nhân. Khi Marxism không còn ai tin vào, nhân loại bỏ vất luôn khả năng lý tưởng. Khi cá nhân hết tin vào lịch sử, hắn cũng mất luôn niềm tin vào chính mình. Nhìn đâu, con người thời đại cũng chỉ còn thấy những thây ma thối rửa của thần linh, của tiên tri, của giáo điều, chủ nghĩa, của tổ chức, của đảng. Từ khi nhà tiên tri Karl Marx đã ra đi, thần đế cuối cùng trong thế gian này đã chết. Nhân gian từ nay đã hết mơ nói chuyện trên trời.
***
Một ngày mùa đông cuối năm 2008 ở vùng bắc California này, trời âm u mây chiều, trong không khí giá lạnh, tôi thấy từng đoàn xe cộ, người ta lũ lượt đi mua sắm trong tiếng nhạc Noel quen thuộc. Tôi thấy một nhân gian tất bật lo lắng thuần về kinh tế. Trong hơi men tàn của cơn say lý tưởng từ thế kỷ trước, có ai đó trong tôi đang thấy rằng đây là một hoạt cảnh nhàm chán loay hoay của một khối nhân loại không còn tôn giáo, không còn lịch sử.
Thượng đế đã chết. Hegel bị lãng quên. Marx nay rơi vào sọt rác. Không còn ai xứng đáng là kẻ tiên tri cho thời đại. Những đứa con rơi thuần duy vật của Marx nay đã mất hồn lịch sử. Mối sầu kim cổ lớn lao của nhân loại đi đâu mất rồi!
Thượng đế đã chết. Hegel bị lãng quên. Marx nay rơi vào sọt rác. Không còn ai xứng đáng là kẻ tiên tri cho thời đại. Những đứa con rơi thuần duy vật của Marx nay đã mất hồn lịch sử. Mối sầu kim cổ lớn lao của nhân loại đi đâu mất rồi!
Đại bàng vỗ cánh muôn năm trước
Đâu biết trời kia rộng mấy khơi. (HC)
2008 www.danchimviet.com
Rỉ Tai
6 Responses to "Mối sầu của Marx" 
|
said this on 12 Dec 2008 1:14:49 PM EST
Thượng Đế đã chết. Nhưng hơi thở cuả con người là sự hiện hữu cuả Thượng Đế. Sự sống và tồn tại cuả con người được trưởng dưỡng không ngừng từ Thượng Đế. Thượng Đế không là gì cả, nhưng tất cả không thể vượt khỏi Thượng Đế. Thượng Đế không thể hiện hữu ở một nơi nào, nhưng không ở đâu là không có mặt Thượng Đế. Trong Thượng Đế không có một vật gì, nhưng không có một vật gì vượt ra ngoài Thượng Đế.
Sa tăng ác quỉ là bộ mặt trái cuả Thượng Đế. Bộ mặt thật cuả Thượng Đế thì vô hình vô ảnh, không thể thấy cũng không thể hiểu và biết là được là có. Sa tăng và ác quỉ là những cái bóng được vẽ nên từ Thượng Đế. Khi Thượng Đế hiện hữu thì những cái bóng đó chỉ là những ảo ảnh hoang tưởng. Duy tâm duy vật duy lý duy linh, tất cả chỉ là quan niệm về Thượng Đế, mà không là Thượng Đế. Bởi vì không thể quan niệm về Thượng Đế là Thượng Đế. A Men A La hay A Di Đà Phật ; tất cả đều bắt đầu bằng A. A là điểm uyên nguyên khởi đầu cuả Thượng Đế. Cho dù bắt đầu khởi điểm như nhau, nhưng tất cả cũng không phải là Thượng Đế, nhưng Thượng Đế lại có trong tất cả. Thế giới nhân loại đang tiến dần đến sự huỷ diệt nhân danh hoà bình. Nhân danh hoà bình chỉ để huỷ diệt lẩn nhau, mà không thực sự là vì hoà bình cho nhơn loại. Cũng như họ muốn nhân danh dân tộc để huỷ diệt dân tộc, nhân danh tự do để giết chết tự do cuả người khác mà thôi. Nhân danh bình đẳng mà thực sự là muốn tạo dựng một tương quan bất bình đẳng giưã người và người ở khiá cạnh khác. Thế giới ngày nay là thế giới cuả ngày huỷ diệt không hơn không kém. Đó mới đúng như là Thượng Đế đã chết. Ngôn ngữ vô tính vì chỉ là những xão ngữ không thật. Những cái được gọi là lý tưởng thực sự chỉ là những hàm cá mập, những chiếc răng đỏ loét máu tươi cấu xé lẩn nhau mà thôi. Ngôn ngữ hôm nay là ngôn ngữ lưà đảo bịp bợm không thực, sự vong tính để tiến đến hố sâu tự huỷ trong tương lai, không thể dừng cũng không thể cứu chưả. Tiếng vọng từ sa mạc hoang dã, Ánh hồng quang thăng hoá điểm khai. Lòng trong dạ sạch miệt mài !!! Xin trân trọng. |
|
said this on 12 Dec 2008 4:38:45 PM EST
Tạt thăm ông Mác trong nghĩa trang Cao Môn
================================ Chiều cuối tuần lang thang Luân Đôn Cao Môn (1) bao người gởi xác hồn Kiến trúc lạ kỳ đường Gô tíc Tượng đầu râu tóc vẫn lồm xồm « Công nhân thế giới đoàn kết lại!» Động đất bức tường Bá Linh chôn Gió mới Đông Âu cơn bão lốc Hồng quân Liên xô có sinh tồn ??? Nguyễn Hữu Viện Inrergraph - London, tàn thu 1990 1. Highgate Cemetery. |
|
said this on 12 Dec 2008 5:10:46 PM EST
Thân chúc tác giả Nguyễn Hữu Liêm và bạn đọc một Mùa Chúa Chào Đời trong yên bình ...
Hàng tỷ kiếp cừu non kinh tế ===================== Giáo đường chuông nguyện khai Thời gian Thần trí mở khung trời tiếng đàn Mùa Giáng Sinh lại về băng tuyết Trần gian điên dại khắp không gian Guồng máy quay điệu buồn kinh tế Thân phận nô lệ vui chẳng than Thượng đế chết rồi giây hiện hữu Mùa Đông bất tận thuở Hồng hoang ! Nguyễn Hữu Viện |
|
said this on 13 Dec 2008 3:47:59 AM EST
Theo thiển ý của tôi,không chắc là ông NHLiêm hiểu rõ nhóm chữ
Thượng Đế đã chết mà triết gia Nietzche thường nhắc đi nhắc lại trong luận thuyết của ông.TĐĐC.không phải có nghĩa đen như là ông Liêm hiểu rồi bàn ra tán vào...nhì nhằng bắt qua 2 triết gia khác ! Ý chính của triết gia là cần chấm dứt nương tựa vào bất cứ chân lý nào mà là chính mình phải bứt phá để lập thuyết mới ! |
|
said this on 19 Dec 2008 5:00:19 PM EST
"Một ngày mùa đông cuối năm 2008 ở vùng bắc California này, trời âm u mây chiều, trong không khí giá lạnh, tôi thấy từng đoàn xe cộ, người ta lũ lượt đi mua sắm trong tiếng nhạc Noel quen thuộc. Tôi thấy một nhân gian tất bật lo lắng thuần về kinh tế. Trong hơi men tàn của cơn say lý tưởng từ thế kỷ trước, có ai đó trong tôi đang thấy rằng đây là một hoạt cảnh nhàm chán loay hoay của một khối nhân loại không còn tôn giáo, không còn lịch sử."
Tôi nhận thấy "cái thấy" của ông Liêm rõ là đơn điệu, lạc hậu (đặc biệt là từ cái nhìn thuộc phạm trù tiết học). Vì, nói chung, Duy Tâm hay Duy Vật cũng đã được triết học hiện đại thừa nhận là những cái nhìn cực đoan nông nỗi của từng giai đoạn lịch sử đã qua. Sự xung khắc giữa Tâm và Vật ngày nay có thể nói là không đáng kể. Qua bài viết này, tôi thiết tưởng ông Liêm đang sống trong thời kỳ nửa đầu thế kỷ 20 của thiên niên kỷ thứ 2. |
|
said this on 25 Dec 2008 9:48:44 PM EST
Marx và những con chiên Marxists đã hô to khẩu hiệu "Chính ta sẽ dẫm trên đống gạch vụn lịch sử để đứng lên như là một thượng đế mới," Điều gì sẽ xảy ra cho chủ nghĩa anh hùng này, hay chỉ là sự đau khổ, lo lắng và bất an kéo dài... Đến lúc tỉnh thức nhìn lại đằng sau chỉ là chết chóc, gông cùm, xiềng xích nô lệ! Kho tàng lịch sử Kinh tế, Chính trị của chủ nghĩa vô sản nhưng vọng sản đó chỉ còn lại một nắm xương khô co quắp bất an sau thập niên10 của thế kỷ XXI. Khi Marx dọn ra chủ nghĩa duy vật biện chứng, biến thái kinh tế qua nhiều trạng huống thống khổ, bi ai! Một số Triết gia trí năng cao có thể nhận thức: Triết lý Marx chỉ là tri thức sai biệt dành cho lớp người thiếu tiến hóa, cưu mang đau khổ lẫn nhau của nghiệp quả trần tục. Đó cũng là nhân duyên tương tác gắn kết giữa tri thức ngây thơ, đối với sự tiến hóa khác của vạn vật. Nên không có gì để chúng ta luận bàn? Học thuyết của Marx chưa thể hòa nhập tầng lớp sơ cấp nhất của Phật giáo. Vì những con chiên Marxists phải trải qua nhiều lần sinh tử bởi vọng tâm chủ nghĩa vô sản, vì nó đã chuyển hóa nghịch lý luật tự nhiên của vạn vật tiến hóa. Đến khi những con chiên Marxists nhận thức rõ chủ nghĩa đó chỉ là ảo mộng cuồng tín. Nhân duyên của nghiệp quả đó vẫn còn kéo dài sự thống khổ tận cùng của lịch sử tối tăm, mới đánh thức được trí tuệ những con chiên Marxists có thể liểu ngộ để chuyển hóa.
Trong giới luật Phật giáo không cho phép giới tử chuyên tu tạo tác Kinh tế. Nhưng Phật giáo không tách rời Kinh tế và thế gian pháp, cũng không bị gò bó lệ thuộc Kinh tế. Vì vậy Triết học Kinh tế chỉ là một pháp phương tiện trong các pháp phương tiện ở thế gian . Nên việc mở rộng kinh tế để lập “hạnh bố thí” của bậc Bồ tát thường thông biến bởi trí tuệ tự chứng. |




Author/Admin)