"In the beginning was the Word." (John I)

Ở đầu thế kỷ trước, con người ngôn ngữ tây phương, như là hiện tượng nhân văn sau cùng, được khai sinh.  Ở giờ phút bắt đầu đó, hắn tuyên bố rằng tất cả các vấn nạn tôn giáo và triết học chỉ là vấn đề của ngôn ngữ.  Không hề có vấn đề chân lý tự bản chất - những câu hỏi và khúc mắc siêu hình, nhìn kỹ ra, chẳng qua là sự hiểu lầm về ngôn từ.  Ngôn ngữ bắt đầu tất cả.  Và cũng chính ngôn ngữ sẽ chấm dứt toàn diện các hiện tượng nhân văn.

Chúng ta hãy nhìn lại.  Con người xưa cũ mang ý chí lập danh, nay hắn chỉ muốn lập ngôn.  Hắn thấy được rằng nhân loại sống chết theo ngôn từ.  Nói như Foucault thì con người chỉ biết yêu sau khi đọc văn chương về yêu đương. Văn thơ làm say đắm, tạo nên hình ảnh, thần tượng.  Những thế hệ kế tiếp viết tuyên ngôn và xách động cách mạng.  Biết bao tầng lớp thanh niên đã bỏ nhà, gia đình bà con thân thích, lên đường đi vào cõi máu xương gian khổ vì tiếng gọi của khái niệm ngôn từ.  Ngôn từ sáng tạo.  Ngôn từ huỷ diệt.  Văn chương nâng cao tinh thần và đày đọa ý chí.  Ngôn ngữ và văn chương là cơn sóng cho con thuyền hiện hữu đi qua biển thế gian vô cùng.

Con người là con vật biểu tượng.  Nhưng ngôn ngữ không những chỉ là biểu tượng - mà là của những nhánh cây xa cành từ một gốc rễ huyền nhiệm sâu xa.  "Tự khởi thuỷ là ngôi Lời (the Word). Chân lý đã được hình thành và trở nên thực thể, ngôi Lời trở nên thân xác, và ngôi Lời chính là Chân Lý sống giữa chúng ta, mà chúng ta không biết” (John I). Và khi mà chân lý đến với những cá nhân khao khát tinh thần "quây quần bên nhau" lắng nghe vị thầy phát ngôn về sự Thật (Vedas), mỗi lời nói của vị Thầy chính là Chân lý.  Đạo chính là Lời - là "logos."

Thế giới của ngôi Lời có rất ít lời nói.  Con người ở đó chỉ nói khi có nguời biết lắng nghe.  Trong sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày, thiên nhiên nói và ca hát cho nhân loại.  Khi mở miệng nói, người ta chỉ muốn đối thoại với Trời và Đất.  Con người ít nói chuyện với nhau nếu không cần thiết - vì càng nói thì giữa người và người sự hiểu lầm càng tăng cao.  Im lặng, vì thế, là phương cách thông hiểu phổ quát cho gia đình và tập thể.

Cho đến khi nhân loại chuyển sang một thời quán mới của tâm thức, văn viết xuất hiện và dần dần chiếm vai trò của văn nói.  Nhưng con người cũng chỉ sử dụng văn tự, chữ viết, cho những nguyên tắc đạo lý sâu xa và vĩnh hằng -   còn những gì liên quan đến chuyện thường nhật thì chỉ sử dụng tới lời nói mà không cần văn bản, ấn ký.  Văn viết là chiếc cầu của ngôi Lời, bắt nhịp từ Đạo lý, qua sự thuyết giảng và "quây quần lắng nghe," đến một thế giới văn nói chỉ quan tâm đến những vấn đề truyền thông hằng ngày.  Nhưng khi chữ viết đã trở nên quá phổ biến, con người ngôn ngữ đã trở nên những trí thức vốn sống nhiều về lý tính qua chữ viết.  Người có học, từ đó, theo giòng thời gian càng viết nhiều hơn là nói, đọc nhiều hơn là nghe.  Cái học từ đó đồng nghĩa với cái đọc.

Tuy nhiên, vốn là con người sống giữa trần gian, kẻ đọc sách đối diện với một khoảng không mới.  Đó là sự trống vắng giữa hai bờ của sách vở, vốn viết về chuyện lâu dài, sâu xa, đối với những mẫu đàm thoại hằng ngày trong cuộc sống đời thường.  Đây là lúc một chiếc cầu truyền thông mới xuất hiện: Báo chí.