Không thể chịu mất câm, mất ngầm trên chính mảnh đất mà mình từng gắn bó, vất vả một nắng, hai sương bao năm, nay bỗng dưng về tay em trai và em dâu hết, cả tám chị em xúm vào chỉ trích mẹ, lúc than van, khi oán trách. Bà Nở vốn là người đơn giản, rập khuôn theo mọi nguyên lý cũ rích, lỗi thời của chồng nay như bừng ngộ trước một điều nhỡn tiền: "Cùng công mang nặng đẻ đau, các con gái bà còn vất vả, cần cù hơn cả anh em trong nhà, sao lại bị phân biệt đối xử như vậy? Người ăn không hết, người lần chẳng ra, cùng là con dại cái mang, lại cảnh "liễu yếu đào tơ", lẽ ra phải được thừa hưởng nhiều hơn thì trái lại bao nhiêu công lao gây dựng suốt quãng đời tuổi trẻ - đám chị em dâu hưởng cả. Liệu cuối đời, lúc bà đau yếu phải nằm liệt giường liệt chiếu, có vịn tựa vào bốn đứa khác máu tanh lòng ấy không? Bốn cái "bầu nước lã" ấy có thể hầu hạ dạ vâng chăm sóc bà bằng chính những đứa con gái đã dứt ruột đẻ ra không?
Lần đầu tiên bà chống đối ông, cương quyết đứng về phía các cô con gái, đòi ông phải chia lại lãnh thổ. Thoạt đầu ông cương quyết bảo vệ thói gia trưởng của mình, nhưng trước sức áp đảo tấn công phía bà và các yểu điểu thục nữ khác, ông đành tặc lưỡi xuê xoa, vận động, dàn xếp bốn cặp dâu rể, vì nể mặt cha già mẹ yếu mà nhường lại một phần đất cho các chị. Thế nhưng thói đời : "Cho tất cả là mất tất cả", bốn cậu con ích kỷ của ông vốn đã lòng tham vô đáy, nay đã ngửi thấy hơi đồng lại càng mê nên không một chút lay động suy suyển gì, trước những lời kể lể của chị, em, lời cầu khẩn van nài của mẹ già và sự khó xử của người cha. Tất cả coi như một việc đã rồi, thản nhiên đi qua sự thèm thuồng, cuồng nộ khao khát của tám bà chị. Tấc đất, tấc vàng đã làm mờ mắt cả tình ruột thịt mẫu tử, nhất định không ai chịu nhường ai, dù chỉ là "lọt sàng xuống nia", ấm trong để êm ngoài.
Cực chẳng đã, cả tám cô lôi mẹ già lưng còng, tóc bạc ra toà, nhờ toà giải quyết dứt điểm vụ ly hôn, để làm một cuộc "cải cách ruộng đất", lở đất long trời . "Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo". Tám cô ăn theo xuất của mẹ được một nửa, bốn cậu ăn theo xuất của cha được nửa kia. Ngoài ra, nhà trên, nhà dưới, bếp núc, vườn tược, nhà thờ cũng chia đều hết cho các cháu cả nội lẫn ngoại, trai cũng như gái.
Thế là cái xảy nảy cái ung, đùa thành thật. Mới đầu các cô chỉ định dùng biện pháp mạnh để hù doạ cha già và các em trai, không ngờ cánh đàn ông coi của hơn người nên đâu có ngán, đã thích thì chơi đến cùng, chơi cho thủng nghiã, long tình thì thôi. Báo hại cặp vợ chồng hạc, người đã "Bát tứ", người sắp "bát thập" còn phải dắt díu nhau ra hầu toà để đòi quyền ly hôn.
Lần đầu tại phiên xử sơ thẩm thuộc toà án nhân dân huyện Bình Chánh, từ thẩm phán, chánh án, công tố viên... Tất cả đều không chấp nhận lý do ly hôn của cụ bà nhưng đứng trước việc chẳng đừng: Đòi ly hôn để hoà giải mọi vướng mắc gia đình, cho con cái có quyền lợi như nhau, toà đành đồng ý. Đám con gái đã hí hửng mừng thầm, tưởng phen này mò được vàng ở sông ngô sau bao năm mất trắng. Không ngờ ông Kiền nghe lời các con trai xúi bẩy, nhất định không đồng ý, còn làm đơn kháng án lên cấp thành phố. Sau khi xem xét kỹ đơn của ông Kiền cùng hồ sơ cấp huyện gửi lên, tại phiên toà phúc thẩm, toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại hồ sơ, yêu cầu cấp sơ thẩm xử lại do vi phạm luật tố tụng hình sự, vừa đói lý vừa đói tình.
Từ đó đã bao lần toà xử, lần ông Kiền cùng bốn quý tử có mặt, lần chỉ có bà và tám cô con gái, song chỉ dám dừng ở mức độ hoà giải vì không muốn chứng kiến nỗi đau của ông bà: Gần 50 năm chung sống, bao vất vả thăng trầm cùng sẻ chia gánh vác, không điều tiếng gì, nay chỉ vì đám đất đã chia cho con cái, lẽ nào chia ly ?
Những trái tim hoá đá:
Mụ mị vì tiền, cả tá con của ông bà gạt hết công cha, nghiã mẹ sang một bên, ngày đêm đào hố chôn sâu tình mẫu tử ruột thịt, cốt giành lợi lộc vào trong tay mình. Bốn đứa con trai và dâu đứng về một phe đối chọi lại tám bà chị bên chồng, trong khi các ông con rể sượng sùng đứng ra một bên, không dám ra mặt ủng hộ vợ, sợ tiếng tham, càng không dám can ngăn vì uất ức của các bà vừa lai láng vừa chất cao như núi, hơn cả ngọn núi Thái Sơn, hay nước trong nguồn chảy ra là tình mẹ, tình cha suốt thời bé thơ... cánh đàn ông nguyền rủa khích bác mẹ: - Đúng là đất sinh cỏ, già sinh tật. Đã cho còn đòi, biết không có khả năng chia đều, sao đẻ lắm thế ?
Cánh đàn bà rủa thầm lên án cha, coi quyết định ngu xuẩn của cha là nguyên nhân chính gây cảnh đụng độ, nồi da xáo thịt này: - Nếu đã biết sinh ra con gái trên đời là không có quyền lợi gì, thà bóp chết từ trong trứng còn hơn. Con nào chả là con... Chỉ biết sướng cái lúc ấy thôi.
Đã ba, bốn năm nay rồi, gốc đậu đang bén, hạt đậu bị ninh nhừ, tình cảm mẹ, cha, ông, cháu, anh, em tả tơi, rơi vãi, bốc cháy khét lẹt mà vụ ly hôn vẫn không thành, đám con gái không được toại nguyện, coi "gà cùng một mẹ" như kẻ thù không đội trời chung, còn đám đàn ông nghe vợ xúi bẩy quyết một tấc không đi, một ly không rời, cờ đã giữ trong tay bao nhiêu năm nay rồi, không có lẽ nào để mất.
Trước tình cảnh sống không được, chết không xong, ông Kiền chỉ còn biết gục đầu giữa hai đầu gối mà khóc: "Tưởng giàu con hơn giàu của, ai ngờ của cải đánh cắp hết tình máu mủ ruột rà thế này". Bao lần chủ động dẹp loạn làm lành với vợ để khỏi làm trò cười cho thiên hạ nhưng bà vẫn khăng khăng đứng về phía tám đứa con gái thiệt thòi, tội nghiệp, nhất định không chịu từ bỏ ý định ly hôn khiến ông chỉ còn nước kêu trời... Thà chấp thuận giải pháp tối ưu "tuổi hạc đành đau cảnh biệt ly" còn hơn hậu quả khủng khiếp như lời dân gian truyền khẩu: Chị em dâu như bầu nước lã, coi chừng kẻo nó giết nhau có ngày... xin toà cho ông ly hôn như lời bà yêu cầu, dù chỉ là ly hôn giả thôi, sau khi có đủ pháp lý, ruộng đất chia đôi, gái trai có phần, ông bà sẽ lại sống với nhau những ngày còn lại, mà đâu có được. Vì lý toà không chấp nhận, còn về tình các cô con gái lại không chịu trắng tay nếu ông bà còn tiếp tục chung sống với nhau. Thế là dù toà không xử nhưng đám "giặc bên ta" đã lôi xềnh xệch bà ra khỏi nhà rồi, còn ông cũng được cánh con trai canh chừng nghiêm ngặt để sự hoà giải không thể nào xảy ra... Thật là những trái tim bạc ác vì tiền...
11-2008
(*) Tuổi 70 xưa nay hiếm
(**) Câu nói của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1790), bị cánh " bợm nhậu" nghịch ngợm đổi thành "Nam vô tửu như cờ vô phong" (Đàn ông không có rượu như cờ không có gió). Chỉ thêm một chữ u mà ngữ nghĩa khác hẳn.
© 2008 www.danchimviet.com