Danchimviet - http://danchimviet.com
Tuổi hạc còn đau cảnh biệt ly
http://danchimviet.com/articles/626/1/Tui-hc-con-au-cnh-bit-ly/Page1.html
Hà Trung Kiên

 
Tác Giả Hà Trung Kiên
Đăng/Published on 19.11.08
 
Mụ mị vì tiền, cả tá con của ông bà gạt hết công cha, nghiã mẹ sang một bên, ngày đêm đào hố chôn sâu tình mẫu tử ruột thịt, cốt giành lợi lộc vào trong tay mình. Bốn đứa con trai và dâu đứng về một phe đối chọi lại tám bà chị bên chồng...

Trước toà, người đàn bà "thất thập cổ lai hy" (*), tóc bạc như cước, chân đứng không vững, cất giọng run run:

- Tại ổng đánh tui, tui không thể chung sống với ổng nữa. Xin toà cho tôi được ly hôn.

Người đàn ông sinh từ cuối thập kỷ 30 gầm lên:

- Tôi đánh bà hồi nào, mà đánh bằng gì ? Sao bà không đâu dựng chuyện cho tôi thế, không ngại con, cháu dâu rể nó cười cho?

Bà cố kiết khẳng  định :

- Ổng đánh bằng tay, ổng bạt tai tui, tui không thể chung sống với  ổng nữa. Tôi cần ly hôn.

Chánh án hỏi:
 
- Được, cứ cho là bác bị bác trai đánh đi, việc này có thường xuyên xảy ra không? Con cái có ai chứng kiến không, cụ thể bác bị đánh bao nhiêu lần rồi ?

Bà ấp úng:

- Ổng đánh lần đầu... Từ ngày lấy nhau, gần 50 năm chung sống, có với nhau cả một tá con, ổng không dám đánh tôi lần nào, vì thế lần này tui mới ức, xin toà thuận tình cho tôi được ly hôn...

Thái độ "tiền hậu bất nhất" của cụ già cùng lý do ly hôn đưa ra quá đơn giản, làm cả phiên toà cười ồ lên trong nỗi trách thương xen lẫn ngậm ngùi, cả đám tám đứa con gái không những không  cười, còn tím tái mặt mày vì mục đích không đạt được. Bốn cậu con trai trước cảnh dở mếu dở cười trên không hề dám lên tiếng mà cùng rụi vào một xó, cau có khó chịu.

Vì đâu một gia đình "tứ đại đồng đường" mà thế hệ thứ nhất đều đã ở độ tuổi "bát thập cổ lai hy", thế hệ thứ hai đã qua tuổi "tri thiên mệnh" lên chức ông, chức bà cả rồi, còn phải lôi nhau ra vành móng ngựa vì một lý do không đâu như thế ?

Nguyên nhân và sự việc: 
 
Đau khổ vì ly hôn. Nguồn: news.zing.vn
Năm 1951, ngoài 20 tuổi, ông Nguyễn văn Kiền kết hôn với bà Nguyễn thị Nở là người cùng thôn, cùng huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. 12 đứa con lần lượt ra đời, cô đầu sinh 1952, cận út sinh 1970. Cứ "Ba năm sinh đôi, lôi thôi năm một", sau 18 năm đã 11 lần vượt cạn, đủ nếp đủ tẻ, số con trai là  tứ tử trình làng và con gái gấp đôi, do một lần bà sinh đôi vượt mức kế hoạch so với mọi lần. Do quan niệm, tập tục của một thời: "Trời sinh voi, sinh cỏ", ông bà mặc sức đẻ, hơn nữa những đứa con đầu chỉ toàn là gái, biết rõ câu các cụ ví "ruộng sâu trâu nái" không bằng, nhưng  ông Kiền không chịu lép một bề như thế, ông hậm hực nhớ đến câu nói của các bậc cổ nhân: "Nam vô tử như cờ vô phong" (**). Đàn ông không có con như cờ không có gió, dù có cả thập nữ mà không có con trai nối dõi, cờ càng ủ ê, lặng gió hơn. Ông hạ quyết tâm bám đuổi bằng được... 


Mười hai đứa con lớn lên, đứa lấy vợ, đứa gả chồng. Vốn trọng nam khinh nữ, ông Kiền luôn coi con gái là con người ta, nàng dâu mới thật mẹ cha mua về. Mười bảy, mười tám năm ông nuôi "báo cô" thế là đủ rồi. Vì vậy, với con trai ông hào phóng bao nhiêu thì với con gái lại kẹt sỉ chừng ấy. Cho dù "bát nữ" nhà ông đã góp phần đáng kể vào việc dựng tạo nên cơ ngơi của bố mẹ gồm cả toà ngang dãy dọc, ao cá, chuồng trại, trâu bò, gà lợn cũng như nhà thờ tiên tổ dòng họ, khang trang nhất nhì huyện Bình Chánh khi đó, nhưng  lên xe hoa về nhà chồng, chỉ có hai bàn tay trắng. Ngược lại, nếu con trai lấy vợ, ông mổ trâu mổ bò, khoe khắp làng khắp nước, rồi cấp cho mỗi người một mảnh ruộng "thẳng cánh cò bay" để có đất làm ăn nuôi vợ con... như ông đã bắt đầu từ đất.

Mọi chuyện tưởng đã rõ ràng, sòng phẳng đúng như quan niệm, tập tục của ông, tất cả con trai cũng như gái, râu rể ruột thịt đều phải tu chí làm ăn. Không ngờ thời điểm từ 70 đến 90 khi ông gây dựng cho con cái khác xa với thời điểm hiện tại. Mọi quan điểm lối sống cũng khác đi , đặc biệt giá đất cứ tăng vùn vụt, tám cô con gái của ông, lúc ở nhà làm lụng quần quật cùng cha mẹ thì đất vẫn chỉ là nơi... đất ở, khi các cô lần lượt khăn áo gió đưa theo nhau về nhà chồng thì đất ven đô bỗng hoá cây vàng cả lượt. Cả tám cô không ai bảo ai cùng nổi cơn thịnh nộ, bắt bố mẹ và các em phải  chia cả phần đất cho mình, vì con nào chẳng là con, không lẽ đẻ được con gái lại không đau bằng khi đẻ toàn con trai ? Hay là nuôi nấng con gái cực nhọc tốn kém vất vả hơn ?

Trước sự nhất tề vùng lên của đám "giặc bên ta", ông Kiền vô cùng khó xử vì ruộng đất đã chia từ đời tám hoánh nào rồi, sao còn có thể lấy lại được, trong khi ông bà đã buông tay cày cấy, giao hết  cho cậu út là người thừa kế cuối cùng tất cả những gì còn lại của cả đời gây dựng.

Không thể chịu mất câm, mất ngầm trên chính mảnh đất mà mình từng gắn bó, vất vả một nắng, hai sương bao năm, nay bỗng dưng về tay em trai và em dâu hết, cả tám chị em xúm vào chỉ trích mẹ, lúc than van, khi oán trách. Bà Nở vốn là người đơn giản, rập khuôn theo mọi nguyên lý cũ rích, lỗi thời của chồng nay như bừng ngộ trước một điều nhỡn tiền: "Cùng công mang nặng đẻ đau, các  con gái bà còn vất vả, cần cù hơn cả anh em trong nhà, sao lại bị phân biệt đối xử như vậy? Người ăn không hết, người lần chẳng ra, cùng là con dại cái mang, lại cảnh "liễu yếu đào tơ", lẽ ra phải  được thừa  hưởng nhiều hơn thì trái lại bao nhiêu công lao gây dựng suốt quãng đời tuổi trẻ - đám chị em dâu hưởng cả. Liệu cuối đời, lúc bà đau yếu phải nằm liệt giường liệt chiếu, có vịn tựa vào bốn đứa khác máu tanh lòng ấy không? Bốn cái "bầu nước lã" ấy có thể hầu hạ dạ vâng chăm sóc bà bằng chính những đứa con gái đã dứt ruột đẻ ra không?

Lần đầu tiên bà chống đối ông, cương quyết đứng về phía các cô con gái, đòi ông phải chia lại lãnh thổ. Thoạt đầu ông cương quyết bảo vệ thói gia trưởng của mình, nhưng trước sức áp đảo tấn công phía bà và các yểu điểu thục nữ khác, ông đành tặc lưỡi xuê xoa, vận động, dàn xếp bốn cặp dâu rể, vì nể mặt cha già mẹ yếu mà nhường lại một phần đất cho các chị. Thế nhưng thói đời : "Cho tất cả là mất tất cả", bốn cậu con ích kỷ của ông vốn đã lòng tham vô đáy, nay đã ngửi thấy hơi đồng lại càng mê nên không một chút lay động suy suyển gì, trước những  lời kể lể của chị, em, lời cầu khẩn van nài của mẹ già và sự khó xử của người cha. Tất cả coi như một việc đã rồi, thản nhiên đi qua sự thèm thuồng, cuồng nộ khao khát của tám bà chị. Tấc đất, tấc vàng đã làm mờ mắt  cả tình ruột thịt mẫu tử, nhất định không ai chịu nhường ai, dù chỉ là "lọt sàng xuống nia", ấm trong để êm ngoài.
 
Cực chẳng đã, cả tám cô lôi mẹ già lưng còng, tóc bạc ra toà, nhờ toà giải quyết dứt điểm vụ ly hôn, để làm một cuộc "cải cách ruộng đất", lở đất long trời . "Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo". Tám cô ăn theo xuất của mẹ được một nửa, bốn cậu ăn theo xuất của cha được nửa kia. Ngoài ra, nhà trên, nhà dưới, bếp núc, vườn tược, nhà thờ cũng chia đều hết cho các cháu cả nội lẫn ngoại, trai cũng như gái.

Thế là cái xảy nảy cái ung, đùa thành thật. Mới đầu các cô chỉ định dùng biện pháp mạnh để hù doạ cha già và các em trai, không ngờ cánh đàn ông coi của hơn người nên đâu có ngán, đã thích thì chơi  đến cùng, chơi cho thủng nghiã, long tình thì thôi. Báo hại cặp vợ chồng hạc, người đã "Bát  tứ", người sắp "bát thập" còn phải dắt díu nhau ra hầu toà để đòi quyền ly hôn.

Lần đầu tại phiên xử sơ thẩm thuộc toà án nhân dân huyện Bình Chánh, từ thẩm phán, chánh án, công tố viên... Tất cả đều không chấp nhận lý do ly hôn của cụ bà nhưng đứng trước việc chẳng đừng: Đòi ly hôn để hoà giải mọi vướng mắc gia đình, cho con cái có quyền lợi như nhau, toà đành đồng ý. Đám con gái đã hí hửng mừng thầm, tưởng phen này mò được vàng ở sông ngô sau bao năm mất trắng. Không ngờ ông Kiền nghe lời các con trai xúi bẩy, nhất  định không đồng ý, còn làm đơn kháng án lên cấp thành phố. Sau khi xem xét kỹ đơn của ông Kiền cùng hồ sơ cấp huyện gửi lên, tại phiên toà phúc thẩm, toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại hồ sơ, yêu cầu cấp sơ thẩm xử lại do vi phạm luật tố tụng hình sự, vừa đói lý vừa đói tình.

Từ đó đã bao lần toà xử, lần ông Kiền cùng bốn quý tử có mặt, lần chỉ có bà và tám cô con gái, song chỉ dám dừng ở mức độ hoà giải vì không muốn chứng kiến nỗi đau của ông bà: Gần 50 năm chung sống, bao vất vả thăng trầm cùng sẻ chia gánh vác, không điều tiếng gì, nay chỉ vì đám đất đã chia cho con cái, lẽ nào chia ly ?

Những trái tim hoá đá:

Mụ mị vì tiền, cả tá con của ông bà gạt hết công cha, nghiã mẹ sang một bên, ngày đêm đào hố chôn sâu tình mẫu tử ruột thịt, cốt giành lợi lộc vào trong tay mình. Bốn đứa con trai và dâu đứng về một phe đối chọi lại tám bà chị bên chồng, trong khi các ông con rể sượng sùng đứng ra một bên, không dám ra mặt ủng hộ vợ, sợ tiếng tham, càng không dám can ngăn vì uất ức của các bà vừa lai láng vừa chất cao như núi, hơn cả ngọn núi Thái Sơn, hay nước trong nguồn chảy ra là tình mẹ, tình cha suốt thời bé thơ... cánh đàn ông nguyền rủa khích bác mẹ: - Đúng là đất sinh cỏ, già sinh tật. Đã cho còn đòi, biết không có khả năng chia đều, sao đẻ lắm thế ?

Cánh đàn bà rủa thầm lên án cha, coi quyết định ngu xuẩn của cha là nguyên nhân chính gây cảnh đụng độ, nồi da xáo thịt này: - Nếu đã biết sinh ra con gái trên đời là không có quyền lợi gì, thà bóp chết từ trong trứng còn hơn. Con nào chả là con... Chỉ biết sướng cái lúc ấy thôi.

Đã ba, bốn năm nay rồi, gốc đậu đang bén, hạt đậu bị ninh nhừ, tình cảm mẹ, cha, ông, cháu, anh, em tả tơi, rơi vãi, bốc cháy khét lẹt mà vụ ly hôn vẫn không thành, đám con gái không được toại nguyện, coi "gà cùng một  mẹ" như kẻ thù không đội trời chung, còn đám đàn ông nghe vợ xúi bẩy quyết một tấc không đi, một ly không rời, cờ đã giữ trong tay bao nhiêu năm nay rồi, không có lẽ nào để mất.

Trước tình cảnh sống không được, chết không xong, ông Kiền chỉ còn biết  gục đầu giữa hai đầu gối mà khóc: "Tưởng giàu con hơn giàu của, ai ngờ của cải đánh cắp hết tình máu mủ ruột rà thế này". Bao lần chủ động dẹp loạn làm lành với vợ để khỏi làm trò cười cho thiên hạ nhưng bà vẫn khăng khăng đứng về phía tám đứa con gái thiệt thòi, tội nghiệp, nhất định không chịu từ bỏ ý định ly hôn khiến ông chỉ còn nước kêu trời... Thà chấp thuận giải pháp tối ưu "tuổi hạc đành đau cảnh biệt ly" còn hơn hậu quả khủng khiếp như lời dân gian truyền khẩu: Chị em dâu như bầu nước lã, coi chừng kẻo nó giết nhau có ngày... xin toà cho ông ly hôn như lời bà yêu cầu, dù chỉ là ly hôn giả thôi, sau khi có đủ pháp lý, ruộng đất chia đôi, gái trai có phần, ông bà sẽ lại sống với nhau những ngày còn lại, mà đâu có được. Vì lý toà không chấp nhận, còn về tình các cô con gái lại không chịu trắng tay nếu ông bà còn tiếp tục chung sống với nhau. Thế là dù toà không xử nhưng đám "giặc bên ta" đã lôi xềnh xệch bà ra khỏi nhà rồi, còn ông cũng được cánh con trai canh chừng nghiêm ngặt để sự hoà giải không thể nào xảy ra... Thật là những trái tim bạc ác vì tiền...

11-2008


(*) Tuổi 70 xưa nay hiếm
(**) Câu nói của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1790), bị cánh " bợm nhậu" nghịch ngợm đổi thành "Nam vô tửu như cờ vô phong" (Đàn ông không có rượu như cờ không có gió). Chỉ thêm một chữ u mà ngữ nghĩa khác hẳn.

© 2008 www.danchimviet.com