- Trang Chủ
- Kinh Tế - Xã Hội
- Tuổi hạc còn đau cảnh biệt ly
Tuổi hạc còn đau cảnh biệt ly
- Tác Giả Hà Trung Kiên
- Đăng ngày 19.11.08
- Kinh Tế - Xã Hội
Trước toà, người đàn bà "thất thập cổ lai hy" (*), tóc bạc như cước, chân đứng không vững, cất giọng run run:
- Tại ổng đánh tui, tui không thể chung sống với ổng nữa. Xin toà cho tôi được ly hôn.
Người đàn ông sinh từ cuối thập kỷ 30 gầm lên:
- Tôi đánh bà hồi nào, mà đánh bằng gì ? Sao bà không đâu dựng chuyện cho tôi thế, không ngại con, cháu dâu rể nó cười cho?
Bà cố kiết khẳng định :
- Ổng đánh bằng tay, ổng bạt tai tui, tui không thể chung sống với ổng nữa. Tôi cần ly hôn.
Chánh án hỏi:
- Được, cứ cho là bác bị bác trai đánh đi, việc này có thường xuyên xảy ra không? Con cái có ai chứng kiến không, cụ thể bác bị đánh bao nhiêu lần rồi ?
Bà ấp úng:
- Ổng đánh lần đầu... Từ ngày lấy nhau, gần 50 năm chung sống, có với nhau cả một tá con, ổng không dám đánh tôi lần nào, vì thế lần này tui mới ức, xin toà thuận tình cho tôi được ly hôn...
Thái độ "tiền hậu bất nhất" của cụ già cùng lý do ly hôn đưa ra quá đơn giản, làm cả phiên toà cười ồ lên trong nỗi trách thương xen lẫn ngậm ngùi, cả đám tám đứa con gái không những không cười, còn tím tái mặt mày vì mục đích không đạt được. Bốn cậu con trai trước cảnh dở mếu dở cười trên không hề dám lên tiếng mà cùng rụi vào một xó, cau có khó chịu.
Vì đâu một gia đình "tứ đại đồng đường" mà thế hệ thứ nhất đều đã ở độ tuổi "bát thập cổ lai hy", thế hệ thứ hai đã qua tuổi "tri thiên mệnh" lên chức ông, chức bà cả rồi, còn phải lôi nhau ra vành móng ngựa vì một lý do không đâu như thế ?
Nguyên nhân và sự việc:
Năm 1951, ngoài 20 tuổi, ông Nguyễn văn Kiền kết hôn với bà Nguyễn thị Nở là người cùng thôn, cùng huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. 12 đứa con lần lượt ra đời, cô đầu sinh 1952, cận út sinh 1970. Cứ "Ba năm sinh đôi, lôi thôi năm một", sau 18 năm đã 11 lần vượt cạn, đủ nếp đủ tẻ, số con trai là tứ tử trình làng và con gái gấp đôi, do một lần bà sinh đôi vượt mức kế hoạch so với mọi lần. Do quan niệm, tập tục của một thời: "Trời sinh voi, sinh cỏ", ông bà mặc sức đẻ, hơn nữa những đứa con đầu chỉ toàn là gái, biết rõ câu các cụ ví "ruộng sâu trâu nái" không bằng, nhưng ông Kiền không chịu lép một bề như thế, ông hậm hực nhớ đến câu nói của các bậc cổ nhân: "Nam vô tử như cờ vô phong" (**). Đàn ông không có con như cờ không có gió, dù có cả thập nữ mà không có con trai nối dõi, cờ càng ủ ê, lặng gió hơn. Ông hạ quyết tâm bám đuổi bằng được...
Mười hai đứa con lớn lên, đứa lấy vợ, đứa gả chồng. Vốn trọng nam khinh nữ, ông Kiền luôn coi con gái là con người ta, nàng dâu mới thật mẹ cha mua về. Mười bảy, mười tám năm ông nuôi "báo cô" thế là đủ rồi. Vì vậy, với con trai ông hào phóng bao nhiêu thì với con gái lại kẹt sỉ chừng ấy. Cho dù "bát nữ" nhà ông đã góp phần đáng kể vào việc dựng tạo nên cơ ngơi của bố mẹ gồm cả toà ngang dãy dọc, ao cá, chuồng trại, trâu bò, gà lợn cũng như nhà thờ tiên tổ dòng họ, khang trang nhất nhì huyện Bình Chánh khi đó, nhưng lên xe hoa về nhà chồng, chỉ có hai bàn tay trắng. Ngược lại, nếu con trai lấy vợ, ông mổ trâu mổ bò, khoe khắp làng khắp nước, rồi cấp cho mỗi người một mảnh ruộng "thẳng cánh cò bay" để có đất làm ăn nuôi vợ con... như ông đã bắt đầu từ đất.
Mọi chuyện tưởng đã rõ ràng, sòng phẳng đúng như quan niệm, tập tục của ông, tất cả con trai cũng như gái, râu rể ruột thịt đều phải tu chí làm ăn. Không ngờ thời điểm từ 70 đến 90 khi ông gây dựng cho con cái khác xa với thời điểm hiện tại. Mọi quan điểm lối sống cũng khác đi , đặc biệt giá đất cứ tăng vùn vụt, tám cô con gái của ông, lúc ở nhà làm lụng quần quật cùng cha mẹ thì đất vẫn chỉ là nơi... đất ở, khi các cô lần lượt khăn áo gió đưa theo nhau về nhà chồng thì đất ven đô bỗng hoá cây vàng cả lượt. Cả tám cô không ai bảo ai cùng nổi cơn thịnh nộ, bắt bố mẹ và các em phải chia cả phần đất cho mình, vì con nào chẳng là con, không lẽ đẻ được con gái lại không đau bằng khi đẻ toàn con trai ? Hay là nuôi nấng con gái cực nhọc tốn kém vất vả hơn ?
Trước sự nhất tề vùng lên của đám "giặc bên ta", ông Kiền vô cùng khó xử vì ruộng đất đã chia từ đời tám hoánh nào rồi, sao còn có thể lấy lại được, trong khi ông bà đã buông tay cày cấy, giao hết cho cậu út là người thừa kế cuối cùng tất cả những gì còn lại của cả đời gây dựng.
- Tại ổng đánh tui, tui không thể chung sống với ổng nữa. Xin toà cho tôi được ly hôn.
Người đàn ông sinh từ cuối thập kỷ 30 gầm lên:
- Tôi đánh bà hồi nào, mà đánh bằng gì ? Sao bà không đâu dựng chuyện cho tôi thế, không ngại con, cháu dâu rể nó cười cho?
Bà cố kiết khẳng định :
- Ổng đánh bằng tay, ổng bạt tai tui, tui không thể chung sống với ổng nữa. Tôi cần ly hôn.
Chánh án hỏi:
- Được, cứ cho là bác bị bác trai đánh đi, việc này có thường xuyên xảy ra không? Con cái có ai chứng kiến không, cụ thể bác bị đánh bao nhiêu lần rồi ?
Bà ấp úng:
- Ổng đánh lần đầu... Từ ngày lấy nhau, gần 50 năm chung sống, có với nhau cả một tá con, ổng không dám đánh tôi lần nào, vì thế lần này tui mới ức, xin toà thuận tình cho tôi được ly hôn...
Thái độ "tiền hậu bất nhất" của cụ già cùng lý do ly hôn đưa ra quá đơn giản, làm cả phiên toà cười ồ lên trong nỗi trách thương xen lẫn ngậm ngùi, cả đám tám đứa con gái không những không cười, còn tím tái mặt mày vì mục đích không đạt được. Bốn cậu con trai trước cảnh dở mếu dở cười trên không hề dám lên tiếng mà cùng rụi vào một xó, cau có khó chịu.
Vì đâu một gia đình "tứ đại đồng đường" mà thế hệ thứ nhất đều đã ở độ tuổi "bát thập cổ lai hy", thế hệ thứ hai đã qua tuổi "tri thiên mệnh" lên chức ông, chức bà cả rồi, còn phải lôi nhau ra vành móng ngựa vì một lý do không đâu như thế ?
Nguyên nhân và sự việc:
![]() |
| Đau khổ vì ly hôn. Nguồn: news.zing.vn |
Mười hai đứa con lớn lên, đứa lấy vợ, đứa gả chồng. Vốn trọng nam khinh nữ, ông Kiền luôn coi con gái là con người ta, nàng dâu mới thật mẹ cha mua về. Mười bảy, mười tám năm ông nuôi "báo cô" thế là đủ rồi. Vì vậy, với con trai ông hào phóng bao nhiêu thì với con gái lại kẹt sỉ chừng ấy. Cho dù "bát nữ" nhà ông đã góp phần đáng kể vào việc dựng tạo nên cơ ngơi của bố mẹ gồm cả toà ngang dãy dọc, ao cá, chuồng trại, trâu bò, gà lợn cũng như nhà thờ tiên tổ dòng họ, khang trang nhất nhì huyện Bình Chánh khi đó, nhưng lên xe hoa về nhà chồng, chỉ có hai bàn tay trắng. Ngược lại, nếu con trai lấy vợ, ông mổ trâu mổ bò, khoe khắp làng khắp nước, rồi cấp cho mỗi người một mảnh ruộng "thẳng cánh cò bay" để có đất làm ăn nuôi vợ con... như ông đã bắt đầu từ đất.
Mọi chuyện tưởng đã rõ ràng, sòng phẳng đúng như quan niệm, tập tục của ông, tất cả con trai cũng như gái, râu rể ruột thịt đều phải tu chí làm ăn. Không ngờ thời điểm từ 70 đến 90 khi ông gây dựng cho con cái khác xa với thời điểm hiện tại. Mọi quan điểm lối sống cũng khác đi , đặc biệt giá đất cứ tăng vùn vụt, tám cô con gái của ông, lúc ở nhà làm lụng quần quật cùng cha mẹ thì đất vẫn chỉ là nơi... đất ở, khi các cô lần lượt khăn áo gió đưa theo nhau về nhà chồng thì đất ven đô bỗng hoá cây vàng cả lượt. Cả tám cô không ai bảo ai cùng nổi cơn thịnh nộ, bắt bố mẹ và các em phải chia cả phần đất cho mình, vì con nào chẳng là con, không lẽ đẻ được con gái lại không đau bằng khi đẻ toàn con trai ? Hay là nuôi nấng con gái cực nhọc tốn kém vất vả hơn ?
Trước sự nhất tề vùng lên của đám "giặc bên ta", ông Kiền vô cùng khó xử vì ruộng đất đã chia từ đời tám hoánh nào rồi, sao còn có thể lấy lại được, trong khi ông bà đã buông tay cày cấy, giao hết cho cậu út là người thừa kế cuối cùng tất cả những gì còn lại của cả đời gây dựng.


