Danchimviet - http://danchimviet.com
Di tản (Kết)
http://danchimviet.com/articles/601/1/Di-tn-Kt/TrangPage1.html
Huỳnh Ngọc Tuấn

 
Tác Giả: Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng lên/Published on 11.11.08
 
Tín ôm lá thư vào lòng, khóc nức nở. Anh chạy vào nhà, nằm vật ra trên đống chăn màn. Anh nằm như vậy rất lâu. Đêm xuống tự bao giờ - đêm dày đặc và ngột ngạt. Anh ra vườn men theo lối đi quen thuộc. Anh như Adam cô đơn trong vườn Địa Đàng tan nát.

Buổi sáng ngày 29/3/1975, chị Thi từ ngoài phố chạy về, vẻ mặt hốt hoảng, chị nói lắp bắp:

- Nghe người ta nói Việt cộng về tới ngã ba Huế rồi.

Anh Khanh và anh Nhân lên xe Honda, đi xem xét tình hình. Một giờ sau, họ về, anh Nhân cởi vội bộ quân phục, vứt ra đường mặc bộ civil vào, anh sửa soạn một túi xách tay nhỏ. Anh Khanh cũng sửa soạn ra đi, anh nói với chị Thi:

- Em ở nhà chăm sóc con, anh phải đi thôi, giờ này không thể mang em và con theo được.

Chị Thi khóc, chị đưa thằng cu cho anh ôm một chút để từ biệt. Anh Khanh ôm hôn con, hôn khắp người, từ bàn tay bàn chân, nước mắt anh chảy dài trên má… thật cảm động. Anh Nhân hối thúc:

- Thôi, nhanh lên không còn kịp nữa, tàu nhổ neo bây giờ.

Anh hỏi Tín:

- Cậu có đi không?

Tín lắc đầu.

- Cậu ở lại bảo trọng, chăm sóc mợ chu đáo, bệnh của mợ không đơn giản đâu - anh ta ôm Tín thật chặt - hẹn gặp lại.

Họ lên xe, rú hết ga ra bến tàu.

Những chiếc chiến xa T54 tràn vào Đà Nẵng. Tín nhìn thấy lá cờ của “Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam” đi qua đường Nguyễn Hoàng, anh đang chứng kiến giờ phút thay đổi của Đà Nẵng, lúc đó anh nhìn đồng hồ 3h chiều, thành phố quan trọng bậc nhất miền Trung. Mọi người trong nhà chờ đợi, không ai nói một lời.

Thành phố yên tĩnh, hai ngày trôi qua, nhiều người đã ra đường, một cách thận trọng. Người ta bắt đầu mua bán những thứ đơn giản. Bà hàng bún trước nhà mở cửa trở lại. Đồng tiền mất giá kinh khủng, vì không biết bây giờ người ta có dùng nữa không. Các bà các cô thì tháo hết vàng bạc nữ trang giấu kỹ, họ lặng lẽ và bí mật giấu hết, quỉ không hay - thần không biết. Tín nói với ba mẹ, anh muốn về Tam Kỳ, nhưng ba mẹ không đồng ý.

- Con cố chờ thêm vài hôm nữa cho tình hình yên tĩnh đã. Hôm nay còn nguy hiểm lắm. Cầu Câu Lâu sụp rồi, xe không qua được.

Trong bữa cơm, chị Thi nói:

- Ngoài biển người ta nói rất nhiều người chết tấp vô. Hôm qua con nằm mơ thấy thấy anh Khanh về, anh ấy nói bị đói và rất lạnh, con sợ ảnh… Chị không nói nữa, nước mắt lã chả. Cô hai của Tín nói với ba anh :

- Hay là mình đi xem thầy, coi thử thế nào, coi nó còn sống không? Ba anh không tin chuyện bói toán nhưng bác bỏ cũng không tiện, đành nói:

- Tuỳ chị, nhưng theo tôi “tử sinh hữu mệnh”.

Vậy là Tín phải đưa chị Thi đi xem bói. Đến một xóm nhỏ, nhà cửa chật hẹp và nghèo nàn. Vào một căn nhà khói hương nghi ngút, ngột ngạt vô cùng, Tín thấy buồn nôn khi nhìn người đàn ông thấp, da ngăm mặc bộ pijama nâu, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Trông ông ta quái dị, nửa đàn ông, nửa đàn bà nói chuyện với chị Thi.

- Được. Chị cúng bà 2000 đồng. Tôi sẽ hỏi cho chị.

Sau đó ông ngồi lên bàn, trùm khăn đỏ, bắt đầu lắc lư, rồi một giọng nói the thé quái gở như từ một thế giới khác. Anh không tin nhưng cũng thấy rùng mình.

- Tuổi này, năm nay gặp nạn chắc khó qua khỏi, nhưng khi sinh thời có tu nhân tích đức nên ở thế giới bên kia cũng được sung sướng.

Chị Thi vẫn không an tâm hỏi:

- Nhưng sao con chiêm bao thấy chồng con đói và lạnh.

- À, chắc là rơi xuống biển nên hồn về báo như thế, bây giờ thì siêu thoát rồi.

Trên đường về, chị Thi bảo ngày mai đưa chị sang quận 3 đi tìm xác anh Khanh. Tín không tranh luận với chị Thi vì anh nghĩ chỉ vô ích thôi, hơn nữa cũng phải đi để chị an tâm, vì điều gì cũng có thể.
Tín và chị Thi đi dọc theo bờ biển mà mấy tuần trước đây là bãi biển thơ mộng và trữ tình với những người phụ nữ thướt tha, yểu điệu và hấp dẫn trong bộ đồ tắm, đi thang lang dọc bờ biển. Bây giờ, đây là một bãi biển kinh hoàng, những thây người vô thừa nhận nằm rãi rác. Những người tốt bụng quanh vùng mang những cái thây người sình to đặt trên mấy chiếc chiếu vàng ố. Mùi hôi thối bốc lên kinh khủng, dù cho gió biển đã làm cho cái mùi đó bớt đi. Tín và chị Thi - mỗi người một khẩu trang, cùng với rất nhiều người đi tìm người thân. Họ nhìn áo quần của những người xấu số,để sơ bộ xác định nhân thân. Tín thấy có nhiều xác chết đã biến dạng hoàn toàn: tay chân, mặt mũi đã bị cá rỉa làm cho không thể nào nhận diện được, rồi cái nắng nóng làm cho làm cho những thi thể nhanh chóng hư hoại và sình to lên một cách đáng sợ. Anh không thấy sợ hãi như trước đây khi nhìn người chết, đặc biệt là những tình huống ghê tởm như thế này.

Bây giờ, anh chỉ thấy đau lòng và thương cảm, anh nhìn thấy cái thân phận bi đát của con người, cái thân phận  mong manh, bé nhỏ và phù du của con người. Hình dung những người phụ nữ, những người đàn ông và có cả trẻ con đang nằm kia, nắng và gió biển làm cho thân thể họ tím bầm, nhợt nhạt. Ruồi nhặng bâu đầy trên những mảnh thịt đỏ bị loắt ra. Trước đây, họ đã là những người phụ nữ duyên dáng, quyến rũ và những người đàn ông lịch lãm, hào hoa, những cô bé cậu bé xinh xắn như thiên thần. Bây giờ họ nằm đó, biến dạng và khủng khiếp. Anh thấy có một cái gì đó đang đổ vỡ trong anh. Chỉ qua một thời gian ngắn, những  biến cố trong cuộc đời đã làm anh trở nên tỉnh táo, vô tình và lý trí đến cứng nhắc, không còn đa cảm và dễ xúc động nữa. Chỉ có nỗi niềm của anh với Thương là vẫn còn nguyên vẹn, nó nằm ở một nơi rất riêng trong trái tim anh.

Sau khi đã lang thang suốt một buổi mai, và đã xem xét rất nhiều người chết, chị Thi bảo Tín đưa về vì thấy buồn nôn và nhức đầu. Về đến nhà, Tín vồi vàng thay quần áo và tắm. Ăn cơm xong, anh lên phòng, trải tấm nệm dưới nền gạch hoa. Sau khi đã xịt khắp phòng một ít nước hoa, anh nhắm mắt mường tượng Thương đang đâu đó trong phòng. Thương đang hiện diện đầy ắp trong phòng này.
Ba giờ chiều thức dậy, Tín đi tắm cho người tỉnh táo. Anh qua nhà Nga để chào tạm biệt ba của Nga. Người đàn ông ít nói, hơi lặng lẽ, niềm nở tiếp anh ở phòng khách. Phòng khách nhỏ nhưng bày trí rất hài hoà, và rất có hồn. Anh thấy tất cả mọi thứ ở đây đều nằm đúng vị trí của nó. Bộ salon, mấy chậu hoa, hồ cá, mấy bức tranh trên tường - phiên bản của Picaso, của Leonardo De Vinci. Ông mời anh một chén trà, mùi thơm của trà gợi anh nhớ lại cái không khí êm đềm và hạnh phúc ở nhà Thương. Anh tưởng như có tiếng mẹ Thương vọng lên từ nhà dưới. Ông hỏi anh:

- Con có tâm sự à?

- Dạ,con sang đây để chào tạm biệt chú và Nga, và cũng để cảm ơn chú và Nga về những sự giúp đỡ trong thời gian qua. Có dịp con mời chú và Nga vào Tam Kỳ, đến nhà con chơi.

Nga nheo nheo mắt nhìn anh :

- Lại những lời lẽ ngoại giao vụng về.

Họ cười rất vui vẻ, anh nâng chén trà để lên mũi hít nhè nhẹ để cho cái mùi hương dìu dịu ngập tràn từng khoang phổi, để nỗi nhớ Thương thấm sâu vào máu huyết.

- Trà Ô Long này thật tuyệt vời. Với con, nó có nhiều kỉ niệm. Không biết rồi đây con có được uống nữa không!

- Chắc là không, trà này nhập từ Đài Loan, Hồng Kông, giá rất đắt - loại xa xỉ phẩm. ghe nói đâu chế độ mới họ sinh hoạt rất tiết kiệm.

Anh nghe trong cách nói của ông, ông dùng từ rất thận trọng.

- Còn nước hoa thì sao hả ba.

Nga hỏi vẻ sốt ruột vì Nga cũng dùng nước hoa, với cô đó là một điều rất quan trọng.

Ông cười phá lên:

- Nước hoa à… Ba chỉ có một mình con, nhưng rồi đây con cũng không còn là công chúa nữa. Con phải làm một việc gì đó để kiếm sống. Mọi người phải lao động.

- Lao động thì lao động. Con chẳng sợ.

Ông không nói gì, nét mặt buồn mênh mông.

Buổi sáng, lúc ăn mai, anh trình bày ý định về Tam Kỳ với ba mẹ. Mẹ anh chỉ hỏi:

- Có sớm quá không con?

Ba anh có vẻ dửng dưng. Trước đây, ông rất lo lắng; bây giờ ông ít nói, ít ra ngoài, và vẻ mặt của ông có vẻ an phận, có vẻ lãnh đạm.

- Về cũng được, con bảo trọng. Tuần sau cả nhà cùng về.

Tín chuẩn bị hành lý, chỉ vài bộ quần áo, và một ít tiền, chiếc xe đạp của ông chủ nhà để lại còn rất tốt. Loại xe dura của Pháp, vừa nhẹ vừa lướt nhanh. Anh cảm thấy nhẹ nhàng và ít ra anh cũng thực hiện được dự định của mình, và điều quan trọng hơn là anh háo hức được gặp lại Thương. Nghĩ đến điều đó là anh cảm thấy được khích lệ…, cảm xúc bay bổng tràn ngập trong lòng. Anh sẽ ngắm Thương thật lâu, từ mái tóc mượt mà như mây, chiếc cổ tròn ba ngấn, ánh mắt dịu dàng đằm thắm nhưng rừng rực một tình cảm đam mê dấu kín. Bàn tay nuột nà, những ngón tay thon dài. Những ngón tay ấy, từ ngàn năm trước đã làm não lòng người dũng sĩ một đi không trở lại - Kinh Kha. Anh chợt mỉm cười, ngàn năm sau, ngàn năm sau nữa, và mãi mãi, bàn tay nuột nà của mĩ nhân sẽ là nỗi đam mê cháy bỏng trong lòng các đấng mày râu.

Xe đã đến cầu Câu Lâu. Cây cầu đồ sộ đã bị giật sập, nó quị xuống như người bị thương. Anh nhìn xuống bến sông, tấp nập những chiếc xuồng, những chiếc ghe nhỏ chờ người qua sông. Những người dân quanh vùng đưa khách qua sông với một ít tiền lộ phí. Một vài quán mì Quảng mọc lên để phục vụ khách qua đường. Những tô mì nấu rất vụng về, giúp khách lót lòng. Anh vào gọi một tô mì rồi qua sông. Dòng sông không quen cũng không lạ đối với anh. Anh không là bạn cũng không là khách. Anh nhớ đến dòng sông quê anh, nhớ đến những người bạn mà bây giờ không biết ra sao. Anh thấy cuộc sống của anh đang thay đổi, có điều không biết nó sẽ thay đổi đến mức nào.

Về tới Tam Kỳ trời đã xế bóng, phố xá hoang vắng buồn thảm, thỉnh thoảng mới gặp vài người, cũng với nét mặt an phận lãnh đạm, không buồn chào nhau, họ như những người vừa trải qua một cơn đau, miệng còn đắng chát nên dửng dưng với mọi việc, với tất cả. Anh rẽ vào một góc phố nhỏ, nhà Thương đây rồi, nhưng trước anh là một cảnh tượng mà anh không hề được chuẩn bị trước. Anh choáng váng. Chiếc cổng sắt bị tháo mất một cánh. Trong nhà đồ đạc không còn. Những căn phòng rỗng tuếch, chỉ còn những thứ không mấy giá trị, bọn trộm vứt ngổn ngang trên sàn nhà, ngoài vườn, ngoài vườn. Cửa kính bị tháo hết, căn nhà không còn cửa trở nên hoang tàn không nhận ra nữa. Anh đi quanh vườn, bọn trộm thật nhẫn tâm, những chậu cây kiễng lớn không mang đi được cũng đập vỡ nát. Cái xấu cái ác đã có một cơ hội tuyệt vời để hoành hành.

Tín trở về nhà. Gia đình cô gái tá túc không còn ở đó nữa. Chắc họ đã về Tiên Phước. Cánh cửa nhà anh bị tháo khoá, vòng khoá vất ở một góc nhà, đồ đạc bị lấy đi rất nhiều. Những thứ nặng nề như tủ giường bàn ghế thì còn. Kẻ trộm lấy đi những gì có thể lấy, những gì không lấy được thì còn nguyên vẹn. Anh thấy những kẻ trộm này còn có chút lương tri, anh thoáng nghĩ, thôi cũng được, họ cần thì họ lấy, điều quan trọng là họ không đập phá những gì không lấy được, khác với nhà Thương, những gì không lấy được đều bị đập phá một cách tàn nhẫn.

Anh trải một tấm vải bạt xuống sàn nhà đầy bụi, không màn, không điện, anh nằm trong bóng tối và nghĩ đến ngày mai anh sẽ được gặp Thương. Nhà vắng người, lũ chuột cũng bị đói, chúng chạy xao xác tìm mồi, rượt đuổi nhau va cả vào người anh.

Buổi sáng thức dậy, anh thấy cô đơn vô cùng, trong ngôi nhà lạnh lẽo. Không có người thân ngôi nhà trở nên xa lạ, hoang vắng. Tín đi tắm, chẳng có dầu gội, cũng không xà phòng, lần đầu tiên anh tắm như vậy. Tắm xong rồi mà tưởng như mình chưa tắm.

Anh ra phố tìm một chút gì để ăn. Chẳng có thứ gì, người ta chưa quay về với cuộc sống bình thường. Anh nhịn đói đạp xe đi Chu Lai. Con đường Tam Kỳ - Chu Lai vắng teo. Cảnh sắc hai bên đường vẫn thế, những ruộng lúa, những dải cát dài nối tiếp nhau, rừng dương liễu nối tiếp với núi đồi. Thỉnh thoảng cũng có người đi qua lại. Anh nhìn phía trước, phía sau, anh chỉ có một mình trên quãng đường heo hút. Đi qua chợ - anh không biết chợ gì, cách Chu Lai về phía bắc khoảng 8km, anh ghé vào chợ mua một nải chuối nhỏ và ba trái mãng cầu của một bà lão. Bà bán rẻ quá, rẻ đến nỗi làm anh áy náy. Tín khẩn khoản muốn trả thêm tiền nhưng bà dứt khoát từ chối. Anh vào một cửa hàng gạo, gạo trong cửa hàng đã hết, chỉ còn tấm biển xiêu vẹo. Bụng đói cồn cào, anh ăn thật nhanh, thật ngon, loáng một cái đã hết sạch. Bà hàng gạo mang cho anh một bát nước chè đen đậm và nóng hổi. Anh uống xong, cám ơn rồi lên đường. Anh nghe bà chủ bán gạo nói với bà lão bán trái cây:

- Thằng bé không phải người vùng này, con nhà ai mà dễ thương quá.

Tín đến nhà cậu của Thương. Anh đã đến đây một lần vào mùa hè năm 1973 cùng với ba mẹ Thương, đi tắm biển Rạng. Họ đi trên một chiếc xe Jeph mui trần, màu trắng. Anh và Thương ngồi sau, ba Thương cầm lái. Đến đâu ông cũng được chào đón một cách trang trọng. Ông có mối quan hệ rộng rãi và khá nổi tiếng. Lúc đó anh thấy mẹ Thương trẻ và đẹp. Thương giống mẹ như một phiên bản, cộng với một chút quí phái của cha. Anh tưởng chừng như mới hôm qua.

Tín vào nhà, không có ai, đồ đạt vứt lung tung, cái cảnh tượng chẳng khác nhà anh là mấy. Tim anh như ngừng đập. Như vậy là Thương đã đi rồi. Anh leo lên tầng trên, cũng không có ai, nhìn qua bên kia đường: mấy người hàng xóm đang nhìn anh, họ nói với nhau một điều gì đó. nh quyết định đến hỏi thăm để biết một chút tin tức về Thương. Mấy người phụ nữ tuổi mẹ anh và một cô gái chào anh.

- Cháu tìm anh Thao phải không?

- Dạ. Cháu tìm người nhà của Thương. Ông Thao là cậu của Thương - anh trả lời.

Bà hàng xóm mập quá khổ nhưng có vẻ mặt hiền từ, bà nói với bà kia:

- Thương là cái cô bé đẹp như diễn viên đó, cháu ổng.

Bà kia nhìn anh :

- À, cháu là…

Tín tiếp lời :

- Cháu là bạn của Thương. Cháu muốn hỏi Thương và gia đình đi đâu rồi ạ?

Bà hàng xóm nhìn anh có vẻ ái ngại không muốn nói với anh một điều gì đó. Cô gái nhanh nhẩu cho anh biết:

- Nhà này đi rồi nhưng… - cô bé lại nhìn bà hàng xóm như muốn hỏi có nên nói ra điều này không. Anh linh cảm một việc gì đó không may xảy ra, tim anh thắt lại, anh nói như van xin họ:

- Cháu rất muốn biết tin tức của Thương và gia đình, mong các bác nói cho cháu biết. Bà hàng xóm gật đầu với cô gái. Cô bé có vẻ thạo tin và thích nói chuyện.

- Gia đình này có một chiếc tàu, họ đã lên tàu chuẩn bị di tản, nhưng tàu bị trục trặc gì đó, ông chủ tàu tìm thợ ra sửa máy. Tàu đang sửa máy, đậu khá xa bờ, lúc đó quân giải phóng tiến vào Chu Lai. Dòng người hoản loạn đổ xô ra biển, họ dùng xuồng nhỏ, liều mạng chèo ra những tàu lớn. Họ tràn lên tàu, nhiều người quá nên tàu chìm. Gia đình này bị kẹt trên đó, chắc là chết hết rồi.

Tín thấy đau buốt trong ngực, choáng váng như bị sét đánh. Anh gục xuống khóc như mưa như gió, không để ý đến mọi người nhìn anh. Họ để cho anh khóc rất lâu. Cô gái mang cho anh một ly nước chanh. Bà hàng xóm ép anh uống hết cốc nước chanh đầy. Bà ngồi bên cạnh anh, vuốt tóc như con của mình. Anh hỏi:

- Có thể có sự nhầm lẫn nào đó không hở bác?

Bà buồn rầu khẽ lắc đầu.

Chẳng biết đi đâu bây giờ, anh chẳng biết làm gì bây giờ, anh như một người bị thương. Anh chào mọi người. Bà hàng xóm hỏi:

- Con về có được không. Bác cho người chở con về.

Anh cảm ơn bà:

- Con về được, con phải về.

Trên đường về, Tín vẫn khóc, nước mắt chảy dài trên má. Anh tưởng chừng như Thương vẫn còn đó, bên cạnh anh trên đường đi học - tà áo dài tha thướt, mái tóc tung bay trong gió. Thương mỉm cười với anh.

Về Tam Kỳ, 5 giờ chiều, một buổi chiều đầy mây, trời trở gió, những trận gió cuốn phăng những chiếc lá rụng ven đường, dồn chúng lại, hất tung lên rồi bỏ mặc cho chúng rơi lả tả. Trước đây, khi còn bé anh và Thương vẫn hay đuổi theo những chiếc lá bị gió cuốn tung lên trời, chới với chạy theo đón bắt trước khi chúng rơi xuống đất. Mãi nhìn theo những chiếc lá chơi vơi trên cao, màu trời pha những vết loang tím sẫm. Anh va phải Thương làm Thương đau điếng, ngã lăn ra đất. Tín vội vàng vứt hết những chiếc lá trên tay, đỡ Thương dậy, xuýt xoa xin lỗi. Thương cười:

- Anh mất hết tiền rồi - họ gọi những chiếc lá là tiền. Tín nhìn Thương:

- Anh không cần nó. Em có đau không?

- Không, em cho anh này.

Thương chia một nữa cho anh.

Anh lại khóc.

Bây giờ, Tín chỉ có một mình trong buổi chiều quạnh quẽ, hiu hắt. Anh về nhà lấy mùng mền, anh quyết định ngủ đêm tại nhà Thương. Anh tin rằng Thương sẽ về, ít nhất là trong giấc mơ. Anh muốn gặp lại Thương bằng mọi giá, bằng mọi cách.

Vứt đống chăn màn qua một góc phòng, anh đi qua phòng Thương.

Anh tìm trên tường, trên bệ cửa sổ, một dấu vân tay của Thương. Anh qua bàn trang điểm, ở đây không còn gì, kẻ trộm đã lấy đi hết. Anh căm thù kẻ trộm, thật nhẫn tâm, không để lại cho anh một chút gì - kỉ niệm của Thương.

Tín đi ra vườn, bước chân xiu vẹo. Anh tìm dấu chân Thương vẫn hay lang thang trong vườn - ới anh hoặc một mình. Biết đâu còn một dấu vết nào đó tình cờ in trên một khoảnh cát nào đó. Anh đến từng gốc cây, lần mò tìm kiếm, hi vọng Thương khắc tên mình trên đó để lại cho anh. Không có gì hết, anh tìm đến cây mai trồng ở giữa vườn. Cây mai này mỗi dịp xuân về anh và Thương tìm đếm những nụ hoa nhú lên mỗi ngày…và những bông mai vàng rực, mùi thơm dìu dịu đầy cành. Họ nhìn mai rồi nhìn nhau, niềm vui bỡ ngỡ: họ lớn lên một chút, Thương đẹp lên bội phần.

Tín nhìn thấy lủng lẳng trên cành mai một túi vải màu hồng. Anh thận trọng lấy chiếc túi xuống, mở dây buộc, lấy ra một lá thư và hai mảnh giấy xếp vuông vắn. Tín nhận ra hai mảnh giấy mà Thương dùng để bói vào cái đêm cuối cùng họ bên nhau. Tay anh run run khi nhìn thấy nét chữ của Thương - nét chữ tròn mềm mại:

“Anh thương nhớ,
Ba em vẫn biệt vô âm tín. Mẹ quyết định đưa em về trú ngụ nhà cậu út ở Chu Lai. Anh nhớ tìm em khi về nghe. Em sẽ đợi anh dù bất cứ nơi đâu, có thể em sẽ ra đi. Mãi mãi nhớ anh.
Em hôn anh thật nhiều.”

Tín ôm lá thư vào lòng, khóc nức nở. Anh chạy vào nhà, nằm vật ra trên đống chăn màn. Anh nằm như vậy rất lâu. Đêm xuống tự bao giờ - đêm dày đặc và ngột ngạt. Anh ra vườn men theo lối đi quen thuộc. Anh như Adam cô đơn trong vườn Địa Đàng tan nát.

© 2008 www.danchimviet.com