Sau khi đã lang thang suốt một buổi mai, và đã xem xét rất nhiều người chết, chị Thi bảo Tín đưa về vì thấy buồn nôn và nhức đầu. Về đến nhà, Tín vồi vàng thay quần áo và tắm. Ăn cơm xong, anh lên phòng, trải tấm nệm dưới nền gạch hoa. Sau khi đã xịt khắp phòng một ít nước hoa, anh nhắm mắt mường tượng Thương đang đâu đó trong phòng. Thương đang hiện diện đầy ắp trong phòng này.
Ba giờ chiều thức dậy, Tín đi tắm cho người tỉnh táo. Anh qua nhà Nga để chào tạm biệt ba của Nga. Người đàn ông ít nói, hơi lặng lẽ, niềm nở tiếp anh ở phòng khách. Phòng khách nhỏ nhưng bày trí rất hài hoà, và rất có hồn. Anh thấy tất cả mọi thứ ở đây đều nằm đúng vị trí của nó. Bộ salon, mấy chậu hoa, hồ cá, mấy bức tranh trên tường - phiên bản của Picaso, của Leonardo De Vinci. Ông mời anh một chén trà, mùi thơm của trà gợi anh nhớ lại cái không khí êm đềm và hạnh phúc ở nhà Thương. Anh tưởng như có tiếng mẹ Thương vọng lên từ nhà dưới. Ông hỏi anh:
- Con có tâm sự à?
- Dạ,con sang đây để chào tạm biệt chú và Nga, và cũng để cảm ơn chú và Nga về những sự giúp đỡ trong thời gian qua. Có dịp con mời chú và Nga vào Tam Kỳ, đến nhà con chơi.
Nga nheo nheo mắt nhìn anh :
- Lại những lời lẽ ngoại giao vụng về.
Họ cười rất vui vẻ, anh nâng chén trà để lên mũi hít nhè nhẹ để cho cái mùi hương dìu dịu ngập tràn từng khoang phổi, để nỗi nhớ Thương thấm sâu vào máu huyết.
- Trà Ô Long này thật tuyệt vời. Với con, nó có nhiều kỉ niệm. Không biết rồi đây con có được uống nữa không!
- Chắc là không, trà này nhập từ Đài Loan, Hồng Kông, giá rất đắt - loại xa xỉ phẩm. ghe nói đâu chế độ mới họ sinh hoạt rất tiết kiệm.
Anh nghe trong cách nói của ông, ông dùng từ rất thận trọng.
- Còn nước hoa thì sao hả ba.
Nga hỏi vẻ sốt ruột vì Nga cũng dùng nước hoa, với cô đó là một điều rất quan trọng.
Ông cười phá lên:
- Nước hoa à… Ba chỉ có một mình con, nhưng rồi đây con cũng không còn là công chúa nữa. Con phải làm một việc gì đó để kiếm sống. Mọi người phải lao động.
- Lao động thì lao động. Con chẳng sợ.
Ông không nói gì, nét mặt buồn mênh mông.
Buổi sáng, lúc ăn mai, anh trình bày ý định về Tam Kỳ với ba mẹ. Mẹ anh chỉ hỏi:
- Có sớm quá không con?
Ba anh có vẻ dửng dưng. Trước đây, ông rất lo lắng; bây giờ ông ít nói, ít ra ngoài, và vẻ mặt của ông có vẻ an phận, có vẻ lãnh đạm.
- Về cũng được, con bảo trọng. Tuần sau cả nhà cùng về.
Tín chuẩn bị hành lý, chỉ vài bộ quần áo, và một ít tiền, chiếc xe đạp của ông chủ nhà để lại còn rất tốt. Loại xe dura của Pháp, vừa nhẹ vừa lướt nhanh. Anh cảm thấy nhẹ nhàng và ít ra anh cũng thực hiện được dự định của mình, và điều quan trọng hơn là anh háo hức được gặp lại Thương. Nghĩ đến điều đó là anh cảm thấy được khích lệ…, cảm xúc bay bổng tràn ngập trong lòng. Anh sẽ ngắm Thương thật lâu, từ mái tóc mượt mà như mây, chiếc cổ tròn ba ngấn, ánh mắt dịu dàng đằm thắm nhưng rừng rực một tình cảm đam mê dấu kín. Bàn tay nuột nà, những ngón tay thon dài. Những ngón tay ấy, từ ngàn năm trước đã làm não lòng người dũng sĩ một đi không trở lại - Kinh Kha. Anh chợt mỉm cười, ngàn năm sau, ngàn năm sau nữa, và mãi mãi, bàn tay nuột nà của mĩ nhân sẽ là nỗi đam mê cháy bỏng trong lòng các đấng mày râu.
Xe đã đến cầu Câu Lâu. Cây cầu đồ sộ đã bị giật sập, nó quị xuống như người bị thương. Anh nhìn xuống bến sông, tấp nập những chiếc xuồng, những chiếc ghe nhỏ chờ người qua sông. Những người dân quanh vùng đưa khách qua sông với một ít tiền lộ phí. Một vài quán mì Quảng mọc lên để phục vụ khách qua đường. Những tô mì nấu rất vụng về, giúp khách lót lòng. Anh vào gọi một tô mì rồi qua sông. Dòng sông không quen cũng không lạ đối với anh. Anh không là bạn cũng không là khách. Anh nhớ đến dòng sông quê anh, nhớ đến những người bạn mà bây giờ không biết ra sao. Anh thấy cuộc sống của anh đang thay đổi, có điều không biết nó sẽ thay đổi đến mức nào.
Về tới Tam Kỳ trời đã xế bóng, phố xá hoang vắng buồn thảm, thỉnh thoảng mới gặp vài người, cũng với nét mặt an phận lãnh đạm, không buồn chào nhau, họ như những người vừa trải qua một cơn đau, miệng còn đắng chát nên dửng dưng với mọi việc, với tất cả. Anh rẽ vào một góc phố nhỏ, nhà Thương đây rồi, nhưng trước anh là một cảnh tượng mà anh không hề được chuẩn bị trước. Anh choáng váng. Chiếc cổng sắt bị tháo mất một cánh. Trong nhà đồ đạc không còn. Những căn phòng rỗng tuếch, chỉ còn những thứ không mấy giá trị, bọn trộm vứt ngổn ngang trên sàn nhà, ngoài vườn, ngoài vườn. Cửa kính bị tháo hết, căn nhà không còn cửa trở nên hoang tàn không nhận ra nữa. Anh đi quanh vườn, bọn trộm thật nhẫn tâm, những chậu cây kiễng lớn không mang đi được cũng đập vỡ nát. Cái xấu cái ác đã có một cơ hội tuyệt vời để hoành hành.
Tín trở về nhà. Gia đình cô gái tá túc không còn ở đó nữa. Chắc họ đã về Tiên Phước. Cánh cửa nhà anh bị tháo khoá, vòng khoá vất ở một góc nhà, đồ đạc bị lấy đi rất nhiều. Những thứ nặng nề như tủ giường bàn ghế thì còn. Kẻ trộm lấy đi những gì có thể lấy, những gì không lấy được thì còn nguyên vẹn. Anh thấy những kẻ trộm này còn có chút lương tri, anh thoáng nghĩ, thôi cũng được, họ cần thì họ lấy, điều quan trọng là họ không đập phá những gì không lấy được, khác với nhà Thương, những gì không lấy được đều bị đập phá một cách tàn nhẫn.
Anh trải một tấm vải bạt xuống sàn nhà đầy bụi, không màn, không điện, anh nằm trong bóng tối và nghĩ đến ngày mai anh sẽ được gặp Thương. Nhà vắng người, lũ chuột cũng bị đói, chúng chạy xao xác tìm mồi, rượt đuổi nhau va cả vào người anh.
Buổi sáng thức dậy, anh thấy cô đơn vô cùng, trong ngôi nhà lạnh lẽo. Không có người thân ngôi nhà trở nên xa lạ, hoang vắng. Tín đi tắm, chẳng có dầu gội, cũng không xà phòng, lần đầu tiên anh tắm như vậy. Tắm xong rồi mà tưởng như mình chưa tắm.