- Trang Chủ
- Tác Giả và Tác Phẩm
- Làm người là khó-Hồi ký Đoàn Duy Thành, Chương 4
Làm người là khó-Hồi ký Đoàn Duy Thành, Chương 4
- Tác Giả: Đoàn Duy Thành
- Đăng ngày 26.06.05
- Tác Giả và Tác Phẩm
- Chưa xếp hạng
Cuộc chiến đấu mới, mặt đối mặt với quân thù
Sau chiến thắng tuy nhỏ nhưng vang dội vì cách đánh rất táo bạo ngay trong lòng địch, tôi đang đi sang các xã khác dọc theo đường số 5 thuộc đất Kim Thành vừa tuyên truyền chiến thắng vừa chuẩn bị một trận chiến khác, thì được lệnh ra Thanh Hà gặp cấp trên.
Đó là đầu tháng 4-1950, tôi cùng Ban Thường vụ huyện uỷ đến thôn Phù Tinh khu Hà Đông thuộc huyện Thanh Hà, Hải Dương, gặp đồng chí Lê Thanh Nghị, Phó Bí thư Liên khu uỷ III, Bí thư phân khu uỷ Tả ngạn Sông Hồng về làm việc với Huyện uỷ. Có các đồng chí Đào Đức Chính - phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Hải Dương và một số đồng chí khác.
Sau buổi làm việc xong, anh Nghị gặp tôi nói chuyện và hỏi tôi về tình hình khu tạm chiếm Kim Thành, trận đánh độn thổ ở Thanh Liên. Rồi Anh nói: “Tôi về kiểm tra 4 tỉnh và Thành phố Hải Phòng thuộc Tả Ngạn Sông Hồng, tôi đã quyết định chia Hải Phòng làm 3 quận, nay thiếu cán bộ chủ chốt làm Bí thư Quận uỷ. Tỉnh uỷ Hải Dương giới thiệu đồng chí về làm Bí thư một quận”.
Tôi đang quen công tác ở nông thôn, gắn bó với Kim Thành, đường 5 khói lửa, nay sang một môi trường mới, tôi đang phân vân suy nghĩ, anh Nghị nói ngay: “Đồng chí vào công tác nội thành thích hợp đấy, sẽ quen dần...”. Lúc đó tôi mới 21 tuổi và cũng hơi đẹp trai, nên anh Nghị tỏ vẻ mến tôi lắm. Tôi trả lời anh: “Đảng điều động đi đâu, tôi xin chấp hành nghiêm chỉnh...”. Và kể từ đây tôi biết anh Nghị, rất quý anh.
Tháng 6-1950 tôi sang Đèo Voi, nơi Thành uỷ Hải Phòng sơ tán thuộc đất huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, tôi lại gặp anh Nghị. Anh đã viết xong quyển “Bệnh cẩu an”, cho tôi một quyển. Tôi hỏi anh sao lại gọi là “cẩu an” chứ không phải “cầu an”. Anh giải thích “cẩu an” là con chó nằm yên, chữ có dùng ý phê bình cán bộ, đảng viên nhiều nơi trong khu Tả Ngạn sợ chết, như con chó không dám hoạt động gì, đầu hàng, đầu thú... còn “cầu an” thì nhẹ quá. Cần nghiêm khắc phê bình nên phải dùng “cẩu an”. Đầu quyển sách nhỏ, thay lời tựa, anh Nghị viết những lời hết sức trân trọng quí mến Bác Hồ như có câu: “Để mừng ngày sinh nhật Người 19-5, con xin kính dâng lên Người bài viết này...”.
Khoảng tháng 5-1950 tôi nhận được nghị quyết của Tỉnh uỷ Hải Dương điều sang công tác ở Hải Phòng, do đồng chí Trần Tạo- Quyền Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Hải Dương ký (lúc này anh Nguyễn Năng Hách là Bí thư Tỉnh uỷ đang ở Khu căn cứ địa Chí Linh). Tôi đến chào anh Trần Tạo để sang Hải Phòng công tác. Tỉnh uỷ đóng ở thôn Bàu Bửa thuộc khu Hà Đông, Thanh Hà. Anh Trần Tạo gặp tôi rất vui vẻ. Anh nói: “Tỉnh uỷ đã chọn rất kỹ số cán bộ của tỉnh, nay chọn đồng chí sang Hải Phòng công tác, đồng chí cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Tỉnh uỷ trước đây đã dự kiến đưa đồng chí sang làm Bí thư Huyện uỷ Kinh Môn, nhưng theo 39 yêu cầu của Khu uỷ, Tỉnh uỷ cử đồng chí sang Hải Phòng”. Tôi hỏi thêm anh Trần Tạo về một số tình hình ở Hải Phòng, anh bảo tôi: “Chắc đồng chí Phó Bí thư Liên Khu uỷ đã nói rõ tầm quan trọng của địa bàn Hải Phòng với đồng chí rồi...” Sau đó, anh bảo Văn phòng lấy 500 đồng tiền cụ Hồ, có in hình con trâu xanh cho tôi, để có tiền đi đường sang Đông Triều, đến Đèo Voi Bắc Giang nhận công tác tại Thành uỷ Hải Phòng.
Nhớ phong trào! Nhớ nhân dân! Nhớ đồng chí! Đặc biệt là thương vợ mới cưới được 10 tháng. Dù đồng chí Phí Thị Tâm lúc đó mới 18 tuổi, đã trưởng thành, vào Đảng từ năm 16 tuổi, đã làm Bí thư phụ nữ xã Bình Dân, nhưng tình chồng vợ hương lửa đang nồng, chia tay nhau sao khỏi bịn rịn. Hôm tiễn đưa tôi sang Hải Phòng công tác, đứng dưới gốc cây gạo thôn Tường Vu, cây gạo có hàng trăm tuổi, (nay vẫn là cây cổ thụ sống lâu nhất vùng), vợ tôi nước mắt lưng tròng, bắt tay tôi, mặt quay đi để tôi không nhìn thấy giọt lệ tuôn trào. Một số đồng chí xã Cộng Hòa như đồng chí Long, đồng chí Ngoạn Huyện uỷ viên cũng đến gốc cây gạo tiễn tôi. Nửa tiểu đội dân quân du kích xã Cộng Hòa đưa tôi vượt đường 5, đến thôn Cam Đông xã Việt Hưng. Tôi ngủ lại một đêm, chiều hôm sau qua Kinh Môn đến trạm giao thông Nhị Chiều của Hải Phòng để được dẫn đến Đèo Voi Bắc Giang gặp Thành uỷ Hải Phòng. Giúp tôi đi đường xa, huyện đội Kim Thành cử chú Phết liên lạc của huyện đội đi với tôi đến Đèo Voi, sau một tháng chú Phết trở lại Kim Thành.
Đến Hải Phòng, nằm chờ ít ngày ở núi Cò Nhớn Đèo Voi, tôi gặp đồng chí Văn Bút, Bí thư Huyện uỷ An Dương, Kiến An, đồng chí Giản tức Kim, Thường vụ Huyện uỷ Thái Ninh tỉnh Thái Bình đến nhận công tác làm Bí thư Quận uỷ, cùng ở Đèo Voi. Cơm hẩm cá khô, rau muống, đồng chí Bút sau này thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Một con cá phèn, sáng tôi ăn đầu, anh Thành ăn đuôi, chiều tôi ăn đuôi, anh Thành ăn đầu...”. Cho đến tháng 6-1950 tôi nhận quyết định về làm Bí thư Quận uỷ Ngô Quyền kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính, Chính trị viên Quận đội. Đồng chí Nguyễn Văn Bút, Bí thư Quận uỷ Bạch Đằng, đồng chí Giản tức Kim vì không quen công tác nội thành nên không dám nhận chức Bí thư Quận uỷ. Thành uỷ quyết định cử đồng chí Minh Sơn làm quyền Bí thư Quận uỷ Cửa Cấm. Sau khi có quyết định tôi đã nhanh chóng hình thành bộ máy cơ quan Quận. Có điều lúc này Thành uỷ đã chủ trương chuyển hướng, chỉ đấu tranh chính trị, không đấu tranh vũ trang. Ngay cả 2 huyện Thủy Nguyên và Hải An cũng không đấu tranh vũ trang. Bởi vậy tổ chức ra Quận đội rất hình thức, thêm cồng kềnh, có vũ khí không được nổ súng. Tôi quen hoạt động ở Kim Thành, cán bộ chính trị dân vận cũng được đào tạo và trang bị cho súng ngắn, lựu đạn, nếu cần là chiến đấu ngay. Nay có súng phải giấu đi, địch đến bắt phải giơ hai tay cho chúng trói, chúng còng. Nghĩ lại bây giờ thấy rất tiếc Những lúc địch sở hở, ta chỉ cần một quả lựu đạn có thể diệt hàng chục tên địch!
Khoảng cuối năm 1950 tôi đang ở ven đô, xã Kiền Bái thuộc huyện Thủy Nguyên để củng cố cơ sở khu 6 thuộc quận Ngô Quyền bị phá vỡ. Bí thư chi bộ, chi uỷ như các đồng chí Huệ tức Hoạt, đồng chí Tố, đồng chí Học, đồng chí Sơn... đều đã bị bắt. Tôi củng cố vừa xong, cử đồng chí Hồng Sơn 40 tức Sơn thọt tạm thời làm Bí thư chi bộ... thì được triệu tập về Đèo Voi họp, vì Thành uỷ có chủ trương tăng cường cán bộ cho Quận, cử các đồng chí Thành uỷ viên hoặc Thường vụ Thành uỷ xuống làm Bí thư Quận uỷ. Quận tôi do đồng chí Nguyễn Mạnh Ái làm Bí thư, tôi xuống làm Phó Bí thư còn các chức vụ khác vẫn giữ nguyên. Đồng chí Hoàng Mậu uỷ viên Thường vụ làm Bí thư quận uỷ Bạch Đằng, đồng chí Nguyễn Văn Phùng làm Bí thư Quận uỷ Cửa Cấm. Các Quận về đóng rải rác ở Thủy Nguyên, Kinh Môn.
Sang năm 1951 tôi làm xong giấy tờ vào nội thành hoạt động.
Trận chiến đầu tiên
Cảng Hải Phòng lúc này là cái cuống họng của đội quân viễn chinh Pháp ở Bắc Bộ, nên chúng bố phòng rất chặt chẽ. Mật thám, chỉ điểm giăng khắp các nẻo phố, nhung nhúc như rươi, hung ác hơn cả dã thú. Vì hoạt động trong lòng địch nên tôi giữ rất nghiêm ngặt nguyên tắc bí mật. Khi đến Hải Phòng, tôi đóng vai người dân ở Hà Nội xuống Cảng tìm mối buôn bán. Mọi việc nói chung được trôi chảy, thuận lợi...
Mùa thu năm 1951 Hải Phòng kỷ niệm 2 ngày lễ lớn của dân tộc 19-8 và 2-9. Năm đó có sự chuyển hướng đấu tranh trong lòng địch. Thành uỷ quyết định không treo cờ và rải truyền đơn như mọi năm mà tổ chức từng nhóm, tổ ba người, cùng với quần chúng cảm tình cách mạng đi nói chuyện tới từng gia đình, từng người về cách mạng tháng Tám, về Hồ Chủ Tịch, về cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, vận động nhân dân chống bắt lính, ủng hộ kháng chiến, đưa con em ra vùng tự do tòng quân giết giặc...
Trong bối cảnh đó, ngày 18-9-1951 lúc tôi đang ăn cơm tối với ông chủ nhà, ông Ngỗi, là cơ sở của ta, thì bị sa vào tay địch. Nguyên do Lê Thanh là Phó Bí thư Huyện Hội phụ nữ huyện Hải An bị giặc bắt, không chịu được đòn thù của địch đã khai phá cơ sở.
Lúc bọn mật thám nhốn nháo xông vào nhà ông Ngỗi, chúng kéo theo cả một số người vừa bị bắt, người nào cũng thâm tím mặt này, áo quần bết cả bùn lẫn máu. Tôi buông đũa nhìn ra: anh Hùng (Điều) giao thông viên quận tôi, anh Tham (Rỗ) Phó thư ký công đoàn khu 6 thuộc quận Ngô Quyền, anh Đào Hữu Thăng, chị Khương và bốn, năm người nữa đều là cơ sở cách mạng. Thấy nguy cơ bị bắt, tôi tháo vội chiếc đồng hồ và chiếc nhẫn vàng quẳng xuống gầm giường. Nhưng quan trọng là làm thế nào để thông tin cho các đồng chí của tôi vừa bị bắt đừng có nhận nhau, đừng có khai báo. Thằng Xếp Hòa lấy tay đẩy tôi ra khỏi cửa và hỏi: “Anh biết những đứa này chứ?”.
Lợi dụng câu hỏi, tôi nhìn thẳng vào mấy chỗ anh chị em vừa bị bắt và lên tiếng trả lời:
- Không? tôi không hề quen biết mấy người này. Tôi không biết họ là ai, bởi tôi mới ở Hà Nội xuống đây tìm người nhà.
- Mày nói dóc!
- Hắn vừa nói vừa phẩy tay ra lệnh cho mấy tên ác ôn lục soát trong nhà.
Tôi vẫn cố ý cãi to:
- Tôi là người Hà Nội, thẻ căn cước của tôi ở Hà Nội! Giấy đi khám bệnh ở Hà Nội. Tôi vừa xuống đây tìm người nhà để tìm mối buôn bán.
Thằng mật thám Tây lai Mác-tanh, xem giấy tờ của tôi, có một thóang ngần ngừ song vẫn phẩy tay ra lệnh:
- Mặc áo vào.
Tôi đứng yên không mặc.
- Đù mẹ thằng này bướng!
Thằng Phúc vừa chửi vừa thẳng tay nện hai quả thật lực vào ngực tôi đánh “hự”, lấy còng khóa tay và ấn tôi lên xe. Chiếc xe chật ních người. Mặc mấy tên chỉ điểm ngồi kèm sát, tôi đưa mắt nhìn từng người và lắc đầu ngầm ra tín hiệu cho các đồng chí của tôi không khai, không nhận nhau. Về bốt Cống Trắng- Cát Bi, hành dinh của bọn mật thám không quân, tôi đã thấy Lê Thanh. Hình như sau khi chị đã khai báo, địch nới tay cho chị ra ngoài phòng giam. Thấy tôi, chị liền giơ tay đấm vào bụng tôi ba bốn đấm, nói trước mặt mấy tên mật thám:
- Mày biết võ nghệ của tao chưa?
Tôi nhìn chị nửa giận, nửa thương hại, nói luôn:
- Võ của chị đánh tôi không đau đâu, mà tay chị mới đau.
- Tao đã khai mày là chủ tịch rồi!
Tôi trừng mắt nhìn chị và nói:
- Tôi quen biết gì chị? Chị là phụ nữ mà ăn không nói có, chị không để đức cho con cháu mai sau à? Tôi xưa nay không hề quen biết chị.
Nghe tôi nói hai mắt chị cụp xuống, quay mặt và lảng đi về phía buồng giam tù.
Chúng đẩy tôi vào xà lim. Lúc này một phần lo cho bản thân, phải chuẩn bị gồng mình chịu tra tấn, nhưng lo hơn cả là số đồng chí của tôi vừa bị bắt. Phải làm thế nào giữ vững tinh thần của các đồng chí, không khai báo, không nhận nhau? Nếu để chúng tra hỏi họ trước, có thể sẽ rất nguy, danh tính của tôi cùng cơ sở sẽ bị lộ hết.
Vào đây tôi được biết cứ 12 giờ đêm chúng mới lôi người bị bắt lên tra tấn hỏi cung. Hôm ấy chừng 11 giờ tôi đập cửa xà lim, gọi rầm lên. Bọn chúng đang ngủ, chồm dạy chửi tục:
- Tiên sư thằng này, mày định khai báo hay sao?
- Tôi người Hà Nội xuống đây, là người dân lương thiện, sao các ông lại bắt mà không hỏi cho rõ, lại giam ở đây không cho về?
- Đ. mẹ thằng này làm ông mày mất giấc ngủ hả? Lôi cổ nó lên đây! Cho nó, nếm thử các món xào xáo của các ông Tổ sư nhà trời!
Chúng lôi tôi lên đấm đá một hồi, nhưng tôi vẫn cãi to, cố ý để mấy đồng chí dưới xà lim nghe thấy:
- Tôi có đủ giấy tờ hợp lệ của các ông cấp. Tôi là người Hà Nội, các ông bắt oan tôi!
Quả nhiên sáng hôm sau chúng điệu tôi lên đánh trước, đánh quyết liệt.
- Thằng này đêm qua đánh lừa chúng ông...
Chúng dùng găng tay đấm bốc đánh vào hai bên thái dương, vào mặt, đánh thúc vào ngọc hành, chúng “xin âm dương” khi tôi đứng lên, đá mũi giày vào mạng sườn khi tôi ngã xuống. Thằng Đới “hứ hự” to khoẻ nên những cú đá của nó rất nặng cân. Chiếc xương sườn bên trái tôi, nơi có cái nhọt, bị gãy, máu me chan hòa, máu càng vọt ra khi 42 chính tay nó cầm gậy tre thọc sâu vào nơi đó...
- Cơ sở mày ở đâu? Tài liệu mày để đâu? Súng và con dấu mày để đâu?
Tôi chỉ còn nghe láng máng lời tra hỏi, lúc ngất đi, khi tỉnh lại. Nhưng khi tỉnh lại tôi vẫn một mực trả lời không chút khiêu khích:
- Tôi hồi cư về Hà Nội, về cùng các ông, kiếm sự an toàn của các ông. Tôi xuống đây tìm người nhà để làm ăn buôn bán. Xuống đây tôi đã đi trình báo...
- Sao thằng Tham nó biết mày?
- Tôi chỉ đến hiệu nó may cái áo sơ mi. Tên tôi nó còn chưa biết. Các ông đánh nó đau quá, nó nói liều để đỡ đòn đó thôi.
Máu chảy nhiều quá, chiếc sơ mi đẫm máu, tôi ngất đi, tỉnh lại không rõ bao nhiều lần. Chúng khiêng tôi vứt về xà lim. Lúc chúng điệu tôi qua cửa những buồng giam số anh em bị bắt hôm qua, với thân hình mềm nhũn, áo quần rách tả tơi đầm đìa máu đỏ hẳn số anh chị em này biết tôi không khai, không nhận. Đau đớn nhưng tôi thấy yên lòng là bằng hành động này tôi đã ngầm thông tin cho các đồng chí của tôi phải gắng chịu đựng để đảm bảo cơ sở
Sau trận đòn ngày đầu, thân thể tôi bầm tím, máu bên sườn vẫn chảy, chẳng có thuốc mà cũng chẳng có băng. Tôi xé những mảnh áo rách nối lại làm băng buộc thấm máu. Những ngày tiếp chúng đánh tôi bằng nhiều cách khác, cho chết mà không có thương tích.
Có lẽ chúng thấy giấy tờ của tôi hợp lệ là người Hà Nội, nên cũng gờm, sợ tôi có thế lực ở trên đó. Vì vậy chúng thay đổi cách đánh. Tra điện qua ngọc hành. Mỗi lúc dòng điện chạy qua thắt cuộn ruột gan, cả người tôi co rúm lại, máu nơi vết đâm phọt ra ướt đất. Tra điện vào mang tai, từng lúc tôi thấy đầu tôi như vỡ tung ra với muôn ngàn con đom đóm. Tôi lại ngã vật xuống, ngất đi. Khi tỉnh lại miệng khô đắng và khát nước, thèm nước. Chúng cho tôi uống nước vôi. Không uống thì chúng đè ra lấy muỗng tống muối vào miệng rồi đổ nước vôi cho muối trôi xuống. Đòn treo, treo ngược đầu xuống đất, treo hai tay quặt sau lưng, rồi dùng thước nện hai bả vai, hai bên đùi. Tôi có cảm giác như con chó sắp bị đem cắt tiết. Mỗi khi chúng buông thừng xuống, tôi đều bất tỉnh. Đợi khi tôi mở được mắt, chúng lại lải nhải dồn mấy câu hỏi cũ: “Con dấu mày để đâu? Cơ sở mày ở đâu?..” Tôi vẫn chậm rãi trả lời, không khiêu khích nhưng cũng không van xin:
- Tôi chỉ là người dân hồi cư về Hà Nội, về cùng các ông. Xuống đây tìm người nhà để buôn bán. Các ông xét xem nếu tôi là Việt Minh thì sao khi xuống đây tôi lại đi trình báo hộ khẩu ngay.
- Thế mày tìm ai? ở đâu?
- Tôi mới xuống được vài ngày đang đi tìm chưa thấy, chứ nếu đã tìm được xin trình báo các ông ngay. - Sao nhiều đứa bảo mày là chủ tịch?
- Tôi ở Hà Nội, có quen biết ai ở dưới này đâu. Các ông đánh quá đau, chúng khai lung tung thế.
Mười ngày qua, trận đòn nọ nối tiếp trận đòn kia. Đêm đó khoảng mười hai giờ tôi thấy chúng rì rì chạy một cái xe jeep đến. Có thằng Pơ-lê, xếp Hòa và lao xao một lũ ác ôn. Chúng mở cửa xà lim giam tôi. Tôi thấy chúng lôi trong xe ra một cái bao tải lớn. Tôi chắc hôm nay mình sẽ bị chúng giết chết. Bởi ở nơi đây có biết bao nhiêu lần chúng làm như vậy. Chúng tống người vào bao buộc lại, quăng lên ô tô và đưa ra sông Lạch Tray, vứt tòm xuống, hoặc đào hố chôn ngay trên bãi. Sau khi hòa bình lập lại, ta đào bãi có biết bao bộ xương của những người con yêu nước vô danh. Thằng Hòa nhìn tôi nhún vai nói:
-Tao đã bảo mày khai thì chỉ cần khai một người, một việc, là mày được sống. Không cơ sở, không tài liệu, mày phải chết. Hôm nay tao cho mày hết cái gan, cái lì của mày đi. Tao sẽ chôn sống mày. Vừa nói nó vừa vẫy tay ra lệnh cho mấy tên ác ôn khiêng tôi nhét vào bao. Còn thằng Pơ-lê thì giở phép lịch sự của bọn quỷ sứ, giơ tay ngang mũ, kiểu chào vĩnh biệt người chết. Chúng kéo dài việc khâu, buộc miệng bao. Tôi nằm trong bao thóang nghĩ đến Tâm, người vợ hiền của tôi, song tự đáy lòng thấy cái chết đến yên ắng. Trong suốt mười ngày vượt qua đòn thù tra tấn, sức lực tàn kiệt, máu bên sườn nơi cái nhọt bị đâm thủng vẫn rỉ ra, nhưng tinh thần tôi vẫn vững vàng. Bao nhiêu cơ sở, bao nhiêu đồng chí cấp dưới trong cơ quan của tôi, bao nhiêu tài liệu, súng ống tôi đã giữ được trọn vẹn cho Đảng, cho cách mạng. Tôi mở mắt ra. Trong bao tối om, hình như chỉ có cái đốm trên đỉnh đầu, nơi bộ óc còn loé sáng. Nằm trong bao và yên trí chỉ lát nữa tôi vĩnh biệt cuộc sống, nhưng tôi vẫn nói vọng ra: “Sao các ông lại giết tôi? Giết một người dân hồi cư theo lời kêu gọi của các ông”, nói đến đó thì tôi nghe thấy thằng Hòa ra lệnh: “Cởi ra đã”.
Chúng lại tháo nút buộc. Thằng Hòa đến cạnh bao ôn tồn thuyết phục:
- Anh là người có học, thông minh, tôi tiếc cho anh biết mấy. Chúng tôi đánh kẻ chạy đi, chứ không ai đánh kẻ chạy lại. Anh chỉ cần khai liên lạc với ai? Chỉ cần nói một người, một người thôi, thì ngày mai tôi lập tức cấp giấy tha anh ngay.
Chả là những khi bị tra tấn tôi chỉ nói xuống đây tìm người nhà, nay nó hỏi liên lạc với ai. Tín hiệu này tôi đã thóang thấy chúng đã có nghi ngờ bọn chỉ điểm nói tôi là chủ tịch. Tôi trả lời ngay:
- Tôi hồi cư về Hà Nội, tin là vào trong này sẽ an toàn, có sự bảo trợ của các ông, sao các ông lại giết tôi, giết một người dân hồi cư theo lời kêu gọi của các ông? Nếu như đã tìm được người nhà, tôi đã thành thực khai, giấu các ông làm sao được. Nghe vậy thằng Hòa lại quát lên:
- Thằng này muốn chết, phải chết - y lại ra lệnh - Khâu bao và tống mẹ nó xuống sông. Hai ba thằng lại túm đầu ấn tôi vào bao. Thằng Focquet (Phốc-kê) lái xe, mở máy rì rì, ỉn ỉn như chuẩn bị chuyển bánh. Tôi vẫn nói vọng ra: - Tôi không khai thì các ông cho là không trung thực, nhưng nếu nói bừa thì lại có lỗi với các ông. Thằng Hòa lại quát:
-Mày nói lý, hôm nay chúng tao sẽ chiều theo ý mày! Sẽ chôn sống mày. Chúng vẫn buộc miệng bao chầm chậm. Tôi lại mở mắt ra. Tối đen, chỉ có hơi xăng của chiếc xe đang nổ máy xộc vào mũi. Hình ảnh Tâm vẫn chập chờn trước mắt, tôi thấy nhói lên một niềm thương. Hình ảnh thành phố cảng, những khu phố quen thuộc mà hàng ngày tôi qua lại, ngập ngụa bóng Tây say, những đồng chí của tôi lặn lội ngày đêm trong lòng địch, những bà mẹ cơ sở nuôi sống tôi. Tất cả hiện lên mồn một trong kí ức cùng với nỗi đau nhức nhói trong tim. Tôi nằm yên trong bao và loáng thóang nghe thằng Pơ-lê nói với thằng Hòa: “Có thể... (certainement, possible) chứng liệu không chính xác!”.
Độ mấy phút sau thằng Hòa ra lệnh cởi bao lôi tôi ra và nói:
-Ông xếp này bảo là cho mày thêm một đêm để suy nghĩ. Không khai, ngày mai mày sẽ chết...
Chúng lại khiêng tôi vứt vào xà lim. Tôi bò lết vì cả chân tay tê dại, khó nhấc lên được. Chỗ xương sườn bị gãy, nơi cái nhọt bị đâm, vẫn đau nhức ri rỉ máu, mủ. Nhưng tôi cười thầm cái trò hù doạ xỏ lá của bọn chúng. Mấy đồng chí của tôi bị bắt ở ca-sô gần đấy lấp ló nhìn ra. Có lẽ sự chịu đựng và thái độ của tôi trước kẻ thù đã gieo được vào lòng họ những suy nghĩ về bổn phận của mình. Chị Lê Thanh, từ sau cái hôm đấm tôi mấy đấm vào bụng và nghe những lời nói bóng gió của tôi, tôi thấy chị cứ muốn lánh mặt. Mỗi buổi bọn mật thám điệu tôi lên bàn tra cung, rồi khi hết buổi chúng lại khiêng tôi xuống buồng giam với thân hình đẫm máu, mỗi lần như vậy tôi thấy chị quay mặt và lỉnh đi chỗ khác. Thế rồi một hôm, chị lén ném cho tôi một cuộn băng và nói vội: “Lỡ bước trượt rồi thì đứng lại thế nào hở anh?”. Tôi cũng trả lời vội: “Đứng lại ở đấy và đừng bước nữa thì khỏi ngã” (chị Lê Thanh hiện còn sống).
Cậu Xôi - Phong Cốc, (hắn là người Phong Cốc - Hà Nam, Quảng Yên). Hắn lầm lì ít nói, người cùng quê với xếp Hòa. Trước kia hắn cũng là cơ sở của kháng chiến, sau khi bị bắt, bị mua chuộc, rồi xếp Hòa dùng hắn để gác bốt và coi tù. Hình như hắn cũng chú ý theo dõi những người bị bắt lên tra đánh. Cứ mỗi lúc y thấy tôi máu me đầy người, không lết đi được sau khi bị tra đánh, thì y đều có cái nhìn thiện cảm. Bởi vậy khi tôi đập cửa xin nước, hắn đều đem lại rất sốt sắng. Có lần hắn còn lén bỏ vào ca nước những cục đường.
Rồi một hôm, bọn mật thám lôi Điều lên tra tấn. Sau những phát đạp đánh, Hùng Điều kêu rú lên, rồi thấy chúng điệu Điều ra xe nổ máy. Mấy phút sau chúng bắt về bốt một bà già. Khi Điều bước xuống xe thì Xôi xấn lại, y túm luôn lấy Điều dùng báng súng nện vào ngực, chân đá Điều lăn lên, lộn xuống. Vừa đánh y vừa chửi tục: “Đù mẹ thằng này, mày mù à! Mày không nhìn thấy ai à! Mày định dẫn bắt hết cả dân thành phố này à...” Thì ra vậy! Trong lương tri sâu kín của những người con yêu nước, họ vẫn gặp nhau, tìm đến nhau, vẫn nhìn và làm theo nhau.
Anh Tham (rỗ), anh là phó thư ký công đoàn khu 6 thuộc quận, cơ sở đổ bể, anh bị giặc bắt. Mấy hôm nay bọn mật thám tập trung đánh và khai thác chức danh của tôi. Chúng đã thất bại khi đem Hùng Điều lên nhận diện. Hôm nay chúng dẫn Tham đến trước mặt tôi. Chúng đẩy Tham và giục:
-Mày nói đi. Tên nó là gì?
Tham chưa kịp mở miệng tôi đã tranh nói trước:
-Tôi ở Hà Nội có quen biết gì nó.
Thằng Hòa đạp tôi một cái và chửi:
- Tao hỏi mày à! Khép cái mồm mày lại.
Rồi quay sang Tham:
-Nó làm cái gì?
Tham ấp úng:
-Con không biết, nhưng chắc nó làm to lắm.
Lập tức cả bọn xúm lại quật Tham xuống, vừa đánh vừa chửi: “Tổ sư mày! Cái mồm mày như đít con nhà thổ. Lúc có, lúc không”. Tôi nhìn Tham, lại nhìn xuống chỗ có cái nhọt, nơi rẻ xương bị đánh gầy và vẫn rỉ máu, bỗng thấy bớt đau.
Mấy hôm sau chúng gọi tôi đến gần một chị phụ nữ quần áo tả tơi, đầu tóc rũ rượi. Xung quanh chị có thằng Lai-xanh và hôm nay, đặc biệt có cả thằng Đơ-he, chánh mật thám liên bang Đông Dương, thằng quản Xồm, tên mật thám phòng nhì khét tiếng hung bạo ở Hải Phòng. Tôi nhẩm chắc phen này sẽ bị chúng đánh chết, bởi chị phụ nữ đó chính là cô Hoa, Bí thư phụ nữ khu 7. Đã qua hai người nhận diện chúng đều thất bại. Lần này đưa Hoa ra nhận diện chắc khó có thể chối được.
Vừa nhìn thấy Hoa, ngay trước cả bọn Tây tôi rọi tia mắt nhìn thẳng vào mặt chị. Thằng Hòa lên tiếng hỏi Hoa: “Thằng này là ai?” Hoa chưa kịp mở miệng, tôi đã nói:
- Tôi không hề quen biết chị này!
- Hãy vạch mặt nó ra xem có phải con Hoa?
Chúng vạch mớ tóc rối bù trên mặt chị, tôi vẫn nhìn thẳng chị. Chị nói:
- Tôi không biết nó là ai, không hề quen nó.
Thằng Lai-xanh đá luôn hai đá vào bụng chị và hỏi dồn:
- Sao mày bảo biết nó là chủ tịch?
Hoa cuống lên:
- Không, con không biết. Tôi không biết! Các quan hỏi ông ấy!
Lai-xanh đá thốc luôn hai nhát giày nữa vào mặt chị và chửi tục:
- Cút mẹ mày xuống xà lim đi - và quay lại hỏi tôi - Sao nó bảo mày là chủ tịch?
- Các ông đánh nó đau quá nó khai lung tung.
- Mày hãy vào đây xem tao đánh nó.
- Các ông đánh nó, nó là phụ nữ, thì nó chết. Không chết, nó đau sẽ khai bừa. Các ông sẽ bắt hết dân Hải Phòng của các ông hay sao?
Thằng Lai-xanh ngẩn lại một phút và phẩy tay cho tôi trở về chỗ cũ. Mãi đến bây giờ có người đến hỏi chị Hoa đã 72 tuổi còn sống ở Hải Phòng: “Tại sao lúc đó chị lại chối không quen biết anh Thành?”. Chị trả lời: “Chính nét mặt đôn hậu và đôi mắt nhìn nảy lửa của anh ấy làm tôi cuống lên, bật ra câu trả lời: Tôi không biết, các quan hỏi ông ấy.
Thằng Phiên béo, là đảng viên Việt Nam quốc dân đảng. Pháp nhảy dù Bắc Cạn bắt được đem về Hải Phòng sử dụng. Y thành tên ác ôn khét tiếng nhất của bọn mật thám không quân ở bốt Cống trắng. Y đánh, tôi không khai, không van xin, bị đau đến ngất xỉu, nhưng khi tỉnh lại lời nói vẫn bình thản. Một hôm y tìm đến gặp tôi, bữa ấy y không gọi tôi là mày nữa mà nói:
-Ông Duy ạ! (tên tôi trong tù là Duy). Làm tay sai cho Tây cũng nhục như chó!
Tôi chẳng cần đắn đo trả lời ngay:
-Chúng tôi là người làm cho ông đỡ nhục, nhưng ông lại đánh chúng tôi nhiều nhất.
Nghe tôi nói vậy, y cúi gầm đầu xuống lấy mũi giầy hất hất những viên sỏi lăn đi lăn 46 lại. Cũng từ hôm ấy, tôi thấy y không đánh tù hung hăng như trước nữa. Y nhìn tôi bằng con mắt kính phục, nhưng tránh không dám gần.
Những ngày ra Salông và đến căng Đoạn Xá, chúng chẳng khai thác được gì ở tôi, nhưng chúng cũng không tha và đề vào phích tù: “Không có cứ liệu, nhưng nhiều người khai là chủ tịch” và chuyển vào giam ở căng Đoạn Xá.
Bọn quản Xồm thấy phích tù đề “không có chứng cớ” liền tung tay chân bủa lưới quanh tôi. Có nhiều đồng chí của tôi bị bắt vào đây, song gay cấn nhất là Xuân Đào. Anh em gọi hắn là Đào “răng vàng”. Hắn vốn là quận uỷ viên quận Cửa Cấm bị giặc bắt, khai phá cơ sở và được bọn mật thám liên bang sử dụng, thứ nữa là cậu B. giao thông quận Cửa Cấm. B. cũng bị bắt, bị mua chuộc. Xuân Đào theo lệnh của quản Xồm moi tìm những cán bộ bị bắt còn giấu được tung tích. Ngay từ ngày đầu, tôi tìm gặp Xuân Đào, đúng lúc hắn đang chăm chú nhìn cậu cần vụ vắt chanh vào cốc nước giải khát. Đợi cậu thanh niên này vắt hết nước, vứt cái vỏ chanh xuống đất, tôi tiến lên một bước, vừa cất tiếng chào vừa cúi nhặt cái vỏ chanh.
Lúc này Đào đã nhận ra tôi và nói:
-Anh nhặt cái đó làm gì? Chanh đã vắt hết nước.
Tôi tranh thủ nói thẳng với Xuân Đào:
-Anh thừa hiểu nghĩa thật và nghĩa bóng của câu anh vừa nói. Tôi đến gặp anh để nói thật với anh rằng tôi không khai nhận, và không bao giờ tôi khai nhận! Anh có tố giác tôi thì tôi cũng chết và chắc chắn anh cũng không sống được. Bởi anh biết khi tôi đã không nhận thì đối với địch anh chỉ là đứa tâng công nói bừa, nó sẽ không tin nữa và cuối cùng chúng cũng không tha anh. Ở ngoài kia, anh biết đấy, bọn chúng đang thua chạy ở khắp các mặt trận.
Đào yên lặng, không trả lời, hất cốc nước chanh tung toé xuống đất mà không uống. Tôi lại tìm đến B. và cũng nói thẳng:
-Cậu khai bắt Xuân Đào đã là cái tội. Bây giờ cậu có tố giác mình thì cậu xem đấy.
Tôi chỉ vết thương nơi cái nhọt vẫn rỉ máu và khẳng định - Không bao giờ tôi khai nhận đâu.
Lời nói của tôi quả có tác dụng. Xuân Đào và B. không những không tố giác tôi, mà không còn hoạt động tệ hại như trước nữa. Còn B. thì hối hận. Cậu ta săn sóc, tìm cả bông băng, hàng ngày lau rửa vết thương rỉ máu của tôi và nhất là không khai báo cơ sở với địch nữa. Sau này được tha tôi đã nhận thực cho B. được phục hồi Đảng tịch.
Những ngày ở Đoạn Xá vết nhọt bị đâm trên sườn tôi vẫn sưng bầm. Làm gì có thuốc chữa trị, ngoài thứ thuốc đỏ. Nơi rẻ xương sườn bị gãy và vết đâm có nhiều hút như hút chạch, cả máu lẫn mủ ngày đêm ri rỉ chảy, lầy nhầy như máu cá. Tay ôm viết thương, tôi vẫn cố tìm đến tổ chức. Tôi muốn bằng sự kiên nghị của mình sẽ khống chế được số anh em dao động tinh thần, mặt khác giữ vững được tinh thần cho số đông đồng chí bị giặc bắt. Với tư cách Phó Bí thư chi bộ trong nhà tù, tôi có biết bao công việc phải làm, không thể nhớ hết...(Nhưng đáng quý là có những anh em đồng chí bên tôi lại nhớ được nhiều chuyện vào giai đoạn đó. Như đồng chí Văn Tân, sau này báo cáo về Trung ương, tháng 3- 1993, có đoạn viết: 47 “Khoảng tháng 4-1952 đồng chí Đoàn Duy Thành có phân công tôi trực tiếp chỉ huy 50 anh em bộ đội đi làm ở bốt pháo thủ, mé bên kia bến Bính... đến 7 giờ hôm đó khi địch tập trung anh em chúng tôi lên ôtô về Cảng thì chúng tôi xông vào đồn cướp súng, phá khẩu cao xạ 4 nòng, rồi theo bãi sú về làng Dương Quan như đã liên lạc từ trước”.
“ Khoảng một tuần sau, đồng chí Đoàn Duy Thành cho tôi kiểrm tra lại kế hoạch giải phóng 100 anh em bộ đội đi làm ở núi Voi... Và kế hoạch này ngay chiều hôm sau anh em đã thực hiện thắng lợi giải phóng cả 100 anh em, trước toàn bộ súng ống của bọn lính áp tải...”
Như thế, ban ngày mọi hoạt động lôi cuốn tôi, nhưng đêm đêm trong buồng giam nghe tiếng súng công đồn khi gần khi xa, lòng tôi xốn xang, không thể nào chợp mắt được. Tôi nhớ những đêm theo giao liên đi họp, từng đoàn đom đóm lập loè trong lùm cây, nhớ những đêm mưa phùn, đi sát qua đồn giặc, những đám ma trơi vật vờ nơi bãi tham ma, nơi giặc vùi xác đồng bào, cán bộ mình. Nhớ cả những buổi đang đi gặp phải lính tuần đường, tất cả nằm nép xuống bờ nước, lúc bò lên mới thấy đỉa bu quanh lưng, bu khắp mặt lầy nhầy...
Tôi băn khoăn nhiều đến nhiệm vụ Thành uỷ giao phó mà chưa hoàn tất, nào hoạt động với khối công nhân khu ga, khu cảng, khu lán bè... Còn bây giờ, bây giờ phải tìm mọi cách thóat khỏi nhà tù, thóat nhưng phải làm sao không đụng chạm thất thiệt đến tổ chức trong khám. Bởi vậy khi Văn Tân kiểm tra xong kế hoạch trốn cả 100 anh em bộ đội, tôi đã dặn: “Bố trí kiểm tra xong, đồng chí phải ở lại”. Bởi mình phải nghĩ tới mấy ngàn cán bộ, bộ đội ta còn bị giặc nhốt ở đây, căng tù này cũng là một điểm nóng mà người cán bộ phải có trách nhiệm.
Đi đày Côn Đảo
Lúc này giặc đại bại ở biên giới. Hàng binh đoàn với cả tướng tá của chúng đã bị ta bắt sống. Vùng đồng bằng sông Hồng, nơi mà chúng cho là an toàn nay bị uy hiếp. Vì vậy chúng tìm cách chuyển số tù binh và cán bộ của ta bị bắt vào phía Nam.
Vết thương bên cạnh sườn của tôi vẫn như cái nhọt bọc. Ngày đêm đau nhức tưởng khó có thể qua được. Xem bưu thiếp của số anh em đã ra đảo gửi về, tôi biết những đồng tiền Đồng dương mà chi bộ căng tù Đoạn xá chúng tôi đưa cho anh em trước lúc xuống tàu khi tới đảo đều bị chúng thu hết bằng lối khám trần truồng.
Ngày chúng tôi bị thanh lọc và đợi tàu ra đảo, thành uỷ Hải Phòng qua chi bộ căng tù Đoạn xá gửi cho chúng tôi ba ngàn tiền Đông Dương. Tôi đã gửi mua 10 chỉ vàng, đánh thành 10 cái nhẫn để hở khuy. Tôi nghĩ rằng nếu bị lột trần khám xét thì chỉ còn hai cách: Thứ nhất là cắn bẹt ra rồi nuốt vô bụng, khi đại tiện bới ra tìm lại; hai là bẻ ra gắn vào qui đầu rồi tuốt da xuống thì bố nó cũng không tìm được. Quả nhiên khi ra đảo, bọn cai tù khám bằng lối khám đặc biệt mà anh em tù gọi là “điệu múa phượng hoàng vỗ cánh”. Chúng tôi cho chim đeo vòng vẫn giữ nguyên được 9 chỉ. Riêng đồng chí Thíu (Bình Giang) nuốt vào bụng, khi đại tiện thò tay vào thùng phân mò mãi không thấy.
Hôm ấy, 1-10-1952 một đoàn xe nhà binh bịt bùng, kín mít tiến vào sân căng. Anh em chúng tôi lần lượt bị gọi ra xếp hàng xuống tàu đi đầy. Nhiều anh em trong trại nhìn tiễn chúng tôi bằng ánh mắt thương cảm. Chúng tôi hô to các khẩu hiệu: “Đả đảo thực dân Pháp - Hồ Chủ tịch muôn năm...!”. Tôi giơ cao tay, nói thật to: “Chào anh em ở lại, chúng ta sẽ gặp nhau ngày Thủ đô giải phóng”.
Xây dựng Đảng trong nhà tù và cuộc vượt ngục lớn nhất
Trong nhà tù, Chi bộ đảng, hạt nhân lãnh đạo cuộc đấu tranh mặt đối mặt với quân thù, phải căn cứ vào hoàn cảnh của tù nhân, của từng trại giam để có phương sách xây dựng Đảng, tổ chức đấu tranh thích hợp nhất, vừa bảo tồn được lực lượng, vừa tránh mắc mưu khiêu khích của kẻ thù, hoặc rơi vào sự mua chuộc dụ dỗ sinh ra tư tưởng cầu an hưởng lạc, nằm yên, thậm chí làm tay sai cho địch, không dám đấu tranh chia lửa với bên ngoài. Và khi có thời cơ, phải biết tổ chức tự giải thóat hoặc phối hợp với lực lượng bên ngoài đánh địch tại ngay những nơi chúng cho là an toàn nhất, như các trại tù ở các đảo xa đất liền.
Tôi vừa chân ướt chân ráo đến căng Đoạn Xá, San D1 (Salle Dangereux No 1 - khám tù nguy hiểm số 1), thì gặp ngay được một đồng chí rất tốt. Anh quen biết tôi và qua theo dõi khi tôi bị bắt, thấy tôi không khai báo làm hại cách mạng, anh đã cho tôi biết kế hoạch đào đường hầm xuyên ra ngoài. Đồng thời anh bố trí tôi vào tốp đồng chí nằm ngủ chờ khi có lệnh thì chui đường hầm vượt ngục. Sự việc không thành (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6, năm 1995 đã có bài viết về sự kiện này), anh Th. Huyện đội trưởng một huyện, bị địch đánh, đã khai ra gần hết các đồng chí trong Ban chi uỷ (Chi uỷ lúc đó có 7 người) và một số đảng viên. Trong tình thế đó, đồng chí Trần Thành Thọ là chính trị viên Tiểu đoàn, người chỉ huy quân sự cao nhất ở San bộ đội, đứng ra nhận trách nhiệm là người chỉ huy cuộc đào hầm vượt ngục. Đồng chí Thọ bị địch đánh chết ngay đêm hôm ấy. Các đồng chí khác không bị tra tấn, trừ hai anh Tường (tức Thâm) và Cao Văn Đoàn. Sau một tháng giam ở ca sô (hầm tối) cho ăn cơm muối, không tìm được chứng cứ, địch phải thả hết.
Ban chỉ ủy cũ coi như bị lộ. Chúng tôi bàn nhau củng cố chi bộ. Tôi được cử làm phó bí thư phụ trách xây dựng Đảng và phòng gian bảo mật (Chi uỷ lúc này chỉ có 3 người là các anh Dụ, Kỷ và tôi). Công việc đầu tiên là rà soát lại các đảng viên đã được sinh hoạt Đảng trước đây, phân tích sự không thành công của cuộc vượt ngục, xem xét các đảng viên sau cuộc vượt ngục, tìm ra những đồng chí sau thất bại này lại hăng hái hơn trong cuộc đấu tranh với địch như đồng chí Văn Tân, Tường (tức Thâm), Châu “lé”... Bởi vì đã có đồng chí trước đây ở ngoài là uỷ viên Thường vụ huyện uỷ như đồng chí Ch.
Sau cuộc vượt ngục không thành, sinh ra bi quan, hằng ngày ăn cơm xong lấy manh chiếu cuộn tròn nằm ở cuối khám, không trò chuyện với bất cứ ai cho đến khi địch chuyển đi trại giam khác. Sức khoẻ tôi lúc này rất kém, lại phải dồn sức vào củng cố phong trào tù nhân. Theo sự phân công của chi uỷ, tôi trực tiếp đọc cho đồng chí Sâm “cụt” viết bằng mực hóa học, tại một góc San D1, bản báo cáo gửi Thành uỷ Hải Phòng về công tác của chi bộ. Bọn địch không phát hiện được vì chúng tôi giả như là mấy người học tiếng Pháp và ăn chung cùng mâm với nhau gồm cả Đào Hữu Thăng, 49 Nhận được báo cáo gửi ra qua đường dây liên lạc của đồng chí Trần Hồi và Phiên (Hóan), Thành uỷ đã báo cáo lên Thường vụ Khu uỷ. Đồng chí Nguyễn Năng Hách (em ruột đồng chí Lê Thanh Nghị) Khu uỷ viên, kiêm Bí thư Thành uỷ Hải Phòng thay mặt Khu uỷ ký quyết định công nhân chi bộ nhà tù Đoạn Xá là chi bộ chính thức. Chúng tôi chuyển quyết định có đóng dấu son cho các đồng chí chi uỷ viên xem rồi hủy ngay. Lúc này đảng bộ đã có 206 đảng viên, phân bố trong các khám, nhưng đông nhất là San D1 và San sĩ quan quân đội.
Hoạt động của chi bộ dần đi vào nền nếp. Các hình thức đấu tranh được tổ chức tốt, bao gồm tổ chức vượt ngục, lãn công khi địch bắt đi lao động, đưa kiến nghị yêu sách đòi cải thiện sinh hoạt, đòi thả những người bệnh nặng và chữa chạy cho tù nhân đau ốm. Tiêu biểu cho giai đoạn này là hai cuộc vượt ngục của 100 tù binh đi lao động ở núi Voi Kiến an (Trong cuộc vượt ngục, ta đã cướp toàn bộ súng của bọn lính coi tù và thóat ra vùng tự do), vượt ngục bằng cách rút chấn song sắt ở căng tin San D1 (Tạp chí Lịch sử đảng số 6-1995 đăng bài: Chi bộ nhà tù Đoạn Xá Hải Phòng có nhắc đến các sự kiện này). Các cuộc vượt ngục đã làm cho bọn cai ngục và bọn thực dân Pháp ở vùng duyên hải Bắc Bộ phải thay đổi một phần chế độ hà khắc đối với tù nhân, đồng thời chúng tiếp tục phân tán anh em bằng cách đày đi Côn Đảo, Phú Quốc những người chúng cho là lãnh đạo trong nhà tù.
Đến nhà ngục Côn đảo
Lúc này mùa gió chướng sắp đến. Việc chuẩn bị cho cuộc vượt ngục Côn Đảo đang diễn ra sôi nổi nhưng rất bí mật. Qua kiểm tra sàng lọc xem xét của Đảng, đồng chí Lê Đình Thụ và tôi được bổ sung vào Đảo uỷ. Chúng tôi bắt tay ngay công tác chuẩn bị cho cuộc đánh địch cướp đảo, nhằm đưa tất cả tù nhân về đất liền, tham gia kháng chiến. Sau khi đồng chí Văn, Bí thư Đảo uỷ phổ biến chủ trương, chúng tôi soát lại kế hoạch đánh chiếm đảo, phương tiện thuyền và vũ khí. Chúng tôi khẳng định chỉ có đánh chiếm được toàn đảo, sử dụng đại bộ phận tàu thuyền sẵn có của địch để về đất liền mới bảo đảm thắng lợi. Còn thuyền do ta chuẩn bị, khung thuyền bằng gỗ và song, với vải sơn bọc ngoài, khó có thể vượt qua được sóng to gió lớn.
Không khí chuẩn bị cuộc vượt đảo có một không hai này sôi sục trong tâm tư tình cảm của mỗi người tù, nhất là Banh III tù binh. Nhưng bề ngoài chúng tôi rất thầm lặng, nói chuyện với nhau qua ánh mắt, nụ cười thầm kín. Bởi vậy vẫn giữ được tuyệt đối bí mật cho đến giờ nổ súng. Tôi được phân công phụ trách chuẩn bị danh sách và tàu thuyền hiện có trên đảo, có thể dùng làm phương tiện về đất liền được, kế hoạch đối phó với địch sau trận đánh chiếm đảo, những biện pháp đối phó với những tình huống xảy ra như thắng lợi hoàn toàn, hoặc đi được một bộ phận, hoặc cuộc chiến dấu thất bại.
Tôi đã cùng với số anh em giúp việc thu thập tình hình đề ra các biện pháp xử lý. Sau khi chuẩn bị xong, đã đưa ra thường vụ Đảng uỷ góp ý kiến.
Trong việc chuẩn bị này, khó nhất là phương tiện chở anh em về đất liền, chỉ bảo đảm được khoảng 550 người, mà ở đảo lúc đó có 2100 người. Riêng banh III tù binh đã có 500 người. Phải tính đến chuyện dùng các 50 loại thuyền đánh cá nhỏ, không có máy nổ, tự tạo buồm, mái chèo, mà đi từng tốp nhỏ. Nếu đúng dịp đó có tàu hàng đi qua thì cướp luôn tàu để đi. Nếu phải kéo dài thì giờ thì việc quan trọng nhất là chiếm được máy phát tín của địch ở “Hòn bảy cạnh”, khống chế địch ở đây, phát tín hiệu bình thường về đất liền 2 ngày một lần như địch làm thường lệ và chuẩn bị cho anh em về chuyến sau cùng bằng một ca nô tốt nhất của đảo, có khả năng chạy một đêm đến cửa Mỹ Thanh, khu tự do của ta thuộc tỉnh Bạc Liêu.
Từ giữa tháng 11-1952 thỉnh thỏang đã có gió “chướng” thổi qua đảo. Anh em rạo rực chờ đợi. Tôi lúc nào người cũng nóng ran, như bị sốt 40 độ. Gió “chướng” đến rất ngắn, nửa ngày hoặc một ngày đã hết. Tôi đề nghị với anh Văn bố trí cho tôi và anh Thụ đi làm với kíp làm đường ở đầu mom để quan sát tình hình cụ thể và nếu có điều kiện bàn thêm với kíp làm rừng ở bến Đầm. Số anh em làm rừng được l&agra
Sau chiến thắng tuy nhỏ nhưng vang dội vì cách đánh rất táo bạo ngay trong lòng địch, tôi đang đi sang các xã khác dọc theo đường số 5 thuộc đất Kim Thành vừa tuyên truyền chiến thắng vừa chuẩn bị một trận chiến khác, thì được lệnh ra Thanh Hà gặp cấp trên.
Đó là đầu tháng 4-1950, tôi cùng Ban Thường vụ huyện uỷ đến thôn Phù Tinh khu Hà Đông thuộc huyện Thanh Hà, Hải Dương, gặp đồng chí Lê Thanh Nghị, Phó Bí thư Liên khu uỷ III, Bí thư phân khu uỷ Tả ngạn Sông Hồng về làm việc với Huyện uỷ. Có các đồng chí Đào Đức Chính - phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Hải Dương và một số đồng chí khác.
Sau buổi làm việc xong, anh Nghị gặp tôi nói chuyện và hỏi tôi về tình hình khu tạm chiếm Kim Thành, trận đánh độn thổ ở Thanh Liên. Rồi Anh nói: “Tôi về kiểm tra 4 tỉnh và Thành phố Hải Phòng thuộc Tả Ngạn Sông Hồng, tôi đã quyết định chia Hải Phòng làm 3 quận, nay thiếu cán bộ chủ chốt làm Bí thư Quận uỷ. Tỉnh uỷ Hải Dương giới thiệu đồng chí về làm Bí thư một quận”.
Tôi đang quen công tác ở nông thôn, gắn bó với Kim Thành, đường 5 khói lửa, nay sang một môi trường mới, tôi đang phân vân suy nghĩ, anh Nghị nói ngay: “Đồng chí vào công tác nội thành thích hợp đấy, sẽ quen dần...”. Lúc đó tôi mới 21 tuổi và cũng hơi đẹp trai, nên anh Nghị tỏ vẻ mến tôi lắm. Tôi trả lời anh: “Đảng điều động đi đâu, tôi xin chấp hành nghiêm chỉnh...”. Và kể từ đây tôi biết anh Nghị, rất quý anh.
Tháng 6-1950 tôi sang Đèo Voi, nơi Thành uỷ Hải Phòng sơ tán thuộc đất huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, tôi lại gặp anh Nghị. Anh đã viết xong quyển “Bệnh cẩu an”, cho tôi một quyển. Tôi hỏi anh sao lại gọi là “cẩu an” chứ không phải “cầu an”. Anh giải thích “cẩu an” là con chó nằm yên, chữ có dùng ý phê bình cán bộ, đảng viên nhiều nơi trong khu Tả Ngạn sợ chết, như con chó không dám hoạt động gì, đầu hàng, đầu thú... còn “cầu an” thì nhẹ quá. Cần nghiêm khắc phê bình nên phải dùng “cẩu an”. Đầu quyển sách nhỏ, thay lời tựa, anh Nghị viết những lời hết sức trân trọng quí mến Bác Hồ như có câu: “Để mừng ngày sinh nhật Người 19-5, con xin kính dâng lên Người bài viết này...”.
Khoảng tháng 5-1950 tôi nhận được nghị quyết của Tỉnh uỷ Hải Dương điều sang công tác ở Hải Phòng, do đồng chí Trần Tạo- Quyền Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Hải Dương ký (lúc này anh Nguyễn Năng Hách là Bí thư Tỉnh uỷ đang ở Khu căn cứ địa Chí Linh). Tôi đến chào anh Trần Tạo để sang Hải Phòng công tác. Tỉnh uỷ đóng ở thôn Bàu Bửa thuộc khu Hà Đông, Thanh Hà. Anh Trần Tạo gặp tôi rất vui vẻ. Anh nói: “Tỉnh uỷ đã chọn rất kỹ số cán bộ của tỉnh, nay chọn đồng chí sang Hải Phòng công tác, đồng chí cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Tỉnh uỷ trước đây đã dự kiến đưa đồng chí sang làm Bí thư Huyện uỷ Kinh Môn, nhưng theo 39 yêu cầu của Khu uỷ, Tỉnh uỷ cử đồng chí sang Hải Phòng”. Tôi hỏi thêm anh Trần Tạo về một số tình hình ở Hải Phòng, anh bảo tôi: “Chắc đồng chí Phó Bí thư Liên Khu uỷ đã nói rõ tầm quan trọng của địa bàn Hải Phòng với đồng chí rồi...” Sau đó, anh bảo Văn phòng lấy 500 đồng tiền cụ Hồ, có in hình con trâu xanh cho tôi, để có tiền đi đường sang Đông Triều, đến Đèo Voi Bắc Giang nhận công tác tại Thành uỷ Hải Phòng.
Nhớ phong trào! Nhớ nhân dân! Nhớ đồng chí! Đặc biệt là thương vợ mới cưới được 10 tháng. Dù đồng chí Phí Thị Tâm lúc đó mới 18 tuổi, đã trưởng thành, vào Đảng từ năm 16 tuổi, đã làm Bí thư phụ nữ xã Bình Dân, nhưng tình chồng vợ hương lửa đang nồng, chia tay nhau sao khỏi bịn rịn. Hôm tiễn đưa tôi sang Hải Phòng công tác, đứng dưới gốc cây gạo thôn Tường Vu, cây gạo có hàng trăm tuổi, (nay vẫn là cây cổ thụ sống lâu nhất vùng), vợ tôi nước mắt lưng tròng, bắt tay tôi, mặt quay đi để tôi không nhìn thấy giọt lệ tuôn trào. Một số đồng chí xã Cộng Hòa như đồng chí Long, đồng chí Ngoạn Huyện uỷ viên cũng đến gốc cây gạo tiễn tôi. Nửa tiểu đội dân quân du kích xã Cộng Hòa đưa tôi vượt đường 5, đến thôn Cam Đông xã Việt Hưng. Tôi ngủ lại một đêm, chiều hôm sau qua Kinh Môn đến trạm giao thông Nhị Chiều của Hải Phòng để được dẫn đến Đèo Voi Bắc Giang gặp Thành uỷ Hải Phòng. Giúp tôi đi đường xa, huyện đội Kim Thành cử chú Phết liên lạc của huyện đội đi với tôi đến Đèo Voi, sau một tháng chú Phết trở lại Kim Thành.
Đến Hải Phòng, nằm chờ ít ngày ở núi Cò Nhớn Đèo Voi, tôi gặp đồng chí Văn Bút, Bí thư Huyện uỷ An Dương, Kiến An, đồng chí Giản tức Kim, Thường vụ Huyện uỷ Thái Ninh tỉnh Thái Bình đến nhận công tác làm Bí thư Quận uỷ, cùng ở Đèo Voi. Cơm hẩm cá khô, rau muống, đồng chí Bút sau này thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Một con cá phèn, sáng tôi ăn đầu, anh Thành ăn đuôi, chiều tôi ăn đuôi, anh Thành ăn đầu...”. Cho đến tháng 6-1950 tôi nhận quyết định về làm Bí thư Quận uỷ Ngô Quyền kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính, Chính trị viên Quận đội. Đồng chí Nguyễn Văn Bút, Bí thư Quận uỷ Bạch Đằng, đồng chí Giản tức Kim vì không quen công tác nội thành nên không dám nhận chức Bí thư Quận uỷ. Thành uỷ quyết định cử đồng chí Minh Sơn làm quyền Bí thư Quận uỷ Cửa Cấm. Sau khi có quyết định tôi đã nhanh chóng hình thành bộ máy cơ quan Quận. Có điều lúc này Thành uỷ đã chủ trương chuyển hướng, chỉ đấu tranh chính trị, không đấu tranh vũ trang. Ngay cả 2 huyện Thủy Nguyên và Hải An cũng không đấu tranh vũ trang. Bởi vậy tổ chức ra Quận đội rất hình thức, thêm cồng kềnh, có vũ khí không được nổ súng. Tôi quen hoạt động ở Kim Thành, cán bộ chính trị dân vận cũng được đào tạo và trang bị cho súng ngắn, lựu đạn, nếu cần là chiến đấu ngay. Nay có súng phải giấu đi, địch đến bắt phải giơ hai tay cho chúng trói, chúng còng. Nghĩ lại bây giờ thấy rất tiếc Những lúc địch sở hở, ta chỉ cần một quả lựu đạn có thể diệt hàng chục tên địch!
Khoảng cuối năm 1950 tôi đang ở ven đô, xã Kiền Bái thuộc huyện Thủy Nguyên để củng cố cơ sở khu 6 thuộc quận Ngô Quyền bị phá vỡ. Bí thư chi bộ, chi uỷ như các đồng chí Huệ tức Hoạt, đồng chí Tố, đồng chí Học, đồng chí Sơn... đều đã bị bắt. Tôi củng cố vừa xong, cử đồng chí Hồng Sơn 40 tức Sơn thọt tạm thời làm Bí thư chi bộ... thì được triệu tập về Đèo Voi họp, vì Thành uỷ có chủ trương tăng cường cán bộ cho Quận, cử các đồng chí Thành uỷ viên hoặc Thường vụ Thành uỷ xuống làm Bí thư Quận uỷ. Quận tôi do đồng chí Nguyễn Mạnh Ái làm Bí thư, tôi xuống làm Phó Bí thư còn các chức vụ khác vẫn giữ nguyên. Đồng chí Hoàng Mậu uỷ viên Thường vụ làm Bí thư quận uỷ Bạch Đằng, đồng chí Nguyễn Văn Phùng làm Bí thư Quận uỷ Cửa Cấm. Các Quận về đóng rải rác ở Thủy Nguyên, Kinh Môn.
Sang năm 1951 tôi làm xong giấy tờ vào nội thành hoạt động.
Trận chiến đầu tiên
Cảng Hải Phòng lúc này là cái cuống họng của đội quân viễn chinh Pháp ở Bắc Bộ, nên chúng bố phòng rất chặt chẽ. Mật thám, chỉ điểm giăng khắp các nẻo phố, nhung nhúc như rươi, hung ác hơn cả dã thú. Vì hoạt động trong lòng địch nên tôi giữ rất nghiêm ngặt nguyên tắc bí mật. Khi đến Hải Phòng, tôi đóng vai người dân ở Hà Nội xuống Cảng tìm mối buôn bán. Mọi việc nói chung được trôi chảy, thuận lợi...
Mùa thu năm 1951 Hải Phòng kỷ niệm 2 ngày lễ lớn của dân tộc 19-8 và 2-9. Năm đó có sự chuyển hướng đấu tranh trong lòng địch. Thành uỷ quyết định không treo cờ và rải truyền đơn như mọi năm mà tổ chức từng nhóm, tổ ba người, cùng với quần chúng cảm tình cách mạng đi nói chuyện tới từng gia đình, từng người về cách mạng tháng Tám, về Hồ Chủ Tịch, về cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, vận động nhân dân chống bắt lính, ủng hộ kháng chiến, đưa con em ra vùng tự do tòng quân giết giặc...
Trong bối cảnh đó, ngày 18-9-1951 lúc tôi đang ăn cơm tối với ông chủ nhà, ông Ngỗi, là cơ sở của ta, thì bị sa vào tay địch. Nguyên do Lê Thanh là Phó Bí thư Huyện Hội phụ nữ huyện Hải An bị giặc bắt, không chịu được đòn thù của địch đã khai phá cơ sở.
Lúc bọn mật thám nhốn nháo xông vào nhà ông Ngỗi, chúng kéo theo cả một số người vừa bị bắt, người nào cũng thâm tím mặt này, áo quần bết cả bùn lẫn máu. Tôi buông đũa nhìn ra: anh Hùng (Điều) giao thông viên quận tôi, anh Tham (Rỗ) Phó thư ký công đoàn khu 6 thuộc quận Ngô Quyền, anh Đào Hữu Thăng, chị Khương và bốn, năm người nữa đều là cơ sở cách mạng. Thấy nguy cơ bị bắt, tôi tháo vội chiếc đồng hồ và chiếc nhẫn vàng quẳng xuống gầm giường. Nhưng quan trọng là làm thế nào để thông tin cho các đồng chí của tôi vừa bị bắt đừng có nhận nhau, đừng có khai báo. Thằng Xếp Hòa lấy tay đẩy tôi ra khỏi cửa và hỏi: “Anh biết những đứa này chứ?”.
Lợi dụng câu hỏi, tôi nhìn thẳng vào mấy chỗ anh chị em vừa bị bắt và lên tiếng trả lời:
- Không? tôi không hề quen biết mấy người này. Tôi không biết họ là ai, bởi tôi mới ở Hà Nội xuống đây tìm người nhà.
- Mày nói dóc!
- Hắn vừa nói vừa phẩy tay ra lệnh cho mấy tên ác ôn lục soát trong nhà.
Tôi vẫn cố ý cãi to:
- Tôi là người Hà Nội, thẻ căn cước của tôi ở Hà Nội! Giấy đi khám bệnh ở Hà Nội. Tôi vừa xuống đây tìm người nhà để tìm mối buôn bán.
Thằng mật thám Tây lai Mác-tanh, xem giấy tờ của tôi, có một thóang ngần ngừ song vẫn phẩy tay ra lệnh:
- Mặc áo vào.
Tôi đứng yên không mặc.
- Đù mẹ thằng này bướng!
Thằng Phúc vừa chửi vừa thẳng tay nện hai quả thật lực vào ngực tôi đánh “hự”, lấy còng khóa tay và ấn tôi lên xe. Chiếc xe chật ních người. Mặc mấy tên chỉ điểm ngồi kèm sát, tôi đưa mắt nhìn từng người và lắc đầu ngầm ra tín hiệu cho các đồng chí của tôi không khai, không nhận nhau. Về bốt Cống Trắng- Cát Bi, hành dinh của bọn mật thám không quân, tôi đã thấy Lê Thanh. Hình như sau khi chị đã khai báo, địch nới tay cho chị ra ngoài phòng giam. Thấy tôi, chị liền giơ tay đấm vào bụng tôi ba bốn đấm, nói trước mặt mấy tên mật thám:
- Mày biết võ nghệ của tao chưa?
Tôi nhìn chị nửa giận, nửa thương hại, nói luôn:
- Võ của chị đánh tôi không đau đâu, mà tay chị mới đau.
- Tao đã khai mày là chủ tịch rồi!
Tôi trừng mắt nhìn chị và nói:
- Tôi quen biết gì chị? Chị là phụ nữ mà ăn không nói có, chị không để đức cho con cháu mai sau à? Tôi xưa nay không hề quen biết chị.
Nghe tôi nói hai mắt chị cụp xuống, quay mặt và lảng đi về phía buồng giam tù.
Chúng đẩy tôi vào xà lim. Lúc này một phần lo cho bản thân, phải chuẩn bị gồng mình chịu tra tấn, nhưng lo hơn cả là số đồng chí của tôi vừa bị bắt. Phải làm thế nào giữ vững tinh thần của các đồng chí, không khai báo, không nhận nhau? Nếu để chúng tra hỏi họ trước, có thể sẽ rất nguy, danh tính của tôi cùng cơ sở sẽ bị lộ hết.
Vào đây tôi được biết cứ 12 giờ đêm chúng mới lôi người bị bắt lên tra tấn hỏi cung. Hôm ấy chừng 11 giờ tôi đập cửa xà lim, gọi rầm lên. Bọn chúng đang ngủ, chồm dạy chửi tục:
- Tiên sư thằng này, mày định khai báo hay sao?
- Tôi người Hà Nội xuống đây, là người dân lương thiện, sao các ông lại bắt mà không hỏi cho rõ, lại giam ở đây không cho về?
- Đ. mẹ thằng này làm ông mày mất giấc ngủ hả? Lôi cổ nó lên đây! Cho nó, nếm thử các món xào xáo của các ông Tổ sư nhà trời!
Chúng lôi tôi lên đấm đá một hồi, nhưng tôi vẫn cãi to, cố ý để mấy đồng chí dưới xà lim nghe thấy:
- Tôi có đủ giấy tờ hợp lệ của các ông cấp. Tôi là người Hà Nội, các ông bắt oan tôi!
Quả nhiên sáng hôm sau chúng điệu tôi lên đánh trước, đánh quyết liệt.
- Thằng này đêm qua đánh lừa chúng ông...
Chúng dùng găng tay đấm bốc đánh vào hai bên thái dương, vào mặt, đánh thúc vào ngọc hành, chúng “xin âm dương” khi tôi đứng lên, đá mũi giày vào mạng sườn khi tôi ngã xuống. Thằng Đới “hứ hự” to khoẻ nên những cú đá của nó rất nặng cân. Chiếc xương sườn bên trái tôi, nơi có cái nhọt, bị gãy, máu me chan hòa, máu càng vọt ra khi 42 chính tay nó cầm gậy tre thọc sâu vào nơi đó...
- Cơ sở mày ở đâu? Tài liệu mày để đâu? Súng và con dấu mày để đâu?
Tôi chỉ còn nghe láng máng lời tra hỏi, lúc ngất đi, khi tỉnh lại. Nhưng khi tỉnh lại tôi vẫn một mực trả lời không chút khiêu khích:
- Tôi hồi cư về Hà Nội, về cùng các ông, kiếm sự an toàn của các ông. Tôi xuống đây tìm người nhà để làm ăn buôn bán. Xuống đây tôi đã đi trình báo...
- Sao thằng Tham nó biết mày?
- Tôi chỉ đến hiệu nó may cái áo sơ mi. Tên tôi nó còn chưa biết. Các ông đánh nó đau quá, nó nói liều để đỡ đòn đó thôi.
Máu chảy nhiều quá, chiếc sơ mi đẫm máu, tôi ngất đi, tỉnh lại không rõ bao nhiều lần. Chúng khiêng tôi vứt về xà lim. Lúc chúng điệu tôi qua cửa những buồng giam số anh em bị bắt hôm qua, với thân hình mềm nhũn, áo quần rách tả tơi đầm đìa máu đỏ hẳn số anh chị em này biết tôi không khai, không nhận. Đau đớn nhưng tôi thấy yên lòng là bằng hành động này tôi đã ngầm thông tin cho các đồng chí của tôi phải gắng chịu đựng để đảm bảo cơ sở
Sau trận đòn ngày đầu, thân thể tôi bầm tím, máu bên sườn vẫn chảy, chẳng có thuốc mà cũng chẳng có băng. Tôi xé những mảnh áo rách nối lại làm băng buộc thấm máu. Những ngày tiếp chúng đánh tôi bằng nhiều cách khác, cho chết mà không có thương tích.
Có lẽ chúng thấy giấy tờ của tôi hợp lệ là người Hà Nội, nên cũng gờm, sợ tôi có thế lực ở trên đó. Vì vậy chúng thay đổi cách đánh. Tra điện qua ngọc hành. Mỗi lúc dòng điện chạy qua thắt cuộn ruột gan, cả người tôi co rúm lại, máu nơi vết đâm phọt ra ướt đất. Tra điện vào mang tai, từng lúc tôi thấy đầu tôi như vỡ tung ra với muôn ngàn con đom đóm. Tôi lại ngã vật xuống, ngất đi. Khi tỉnh lại miệng khô đắng và khát nước, thèm nước. Chúng cho tôi uống nước vôi. Không uống thì chúng đè ra lấy muỗng tống muối vào miệng rồi đổ nước vôi cho muối trôi xuống. Đòn treo, treo ngược đầu xuống đất, treo hai tay quặt sau lưng, rồi dùng thước nện hai bả vai, hai bên đùi. Tôi có cảm giác như con chó sắp bị đem cắt tiết. Mỗi khi chúng buông thừng xuống, tôi đều bất tỉnh. Đợi khi tôi mở được mắt, chúng lại lải nhải dồn mấy câu hỏi cũ: “Con dấu mày để đâu? Cơ sở mày ở đâu?..” Tôi vẫn chậm rãi trả lời, không khiêu khích nhưng cũng không van xin:
- Tôi chỉ là người dân hồi cư về Hà Nội, về cùng các ông. Xuống đây tìm người nhà để buôn bán. Các ông xét xem nếu tôi là Việt Minh thì sao khi xuống đây tôi lại đi trình báo hộ khẩu ngay.
- Thế mày tìm ai? ở đâu?
- Tôi mới xuống được vài ngày đang đi tìm chưa thấy, chứ nếu đã tìm được xin trình báo các ông ngay. - Sao nhiều đứa bảo mày là chủ tịch?
- Tôi ở Hà Nội, có quen biết ai ở dưới này đâu. Các ông đánh quá đau, chúng khai lung tung thế.
Mười ngày qua, trận đòn nọ nối tiếp trận đòn kia. Đêm đó khoảng mười hai giờ tôi thấy chúng rì rì chạy một cái xe jeep đến. Có thằng Pơ-lê, xếp Hòa và lao xao một lũ ác ôn. Chúng mở cửa xà lim giam tôi. Tôi thấy chúng lôi trong xe ra một cái bao tải lớn. Tôi chắc hôm nay mình sẽ bị chúng giết chết. Bởi ở nơi đây có biết bao nhiêu lần chúng làm như vậy. Chúng tống người vào bao buộc lại, quăng lên ô tô và đưa ra sông Lạch Tray, vứt tòm xuống, hoặc đào hố chôn ngay trên bãi. Sau khi hòa bình lập lại, ta đào bãi có biết bao bộ xương của những người con yêu nước vô danh. Thằng Hòa nhìn tôi nhún vai nói:
-Tao đã bảo mày khai thì chỉ cần khai một người, một việc, là mày được sống. Không cơ sở, không tài liệu, mày phải chết. Hôm nay tao cho mày hết cái gan, cái lì của mày đi. Tao sẽ chôn sống mày. Vừa nói nó vừa vẫy tay ra lệnh cho mấy tên ác ôn khiêng tôi nhét vào bao. Còn thằng Pơ-lê thì giở phép lịch sự của bọn quỷ sứ, giơ tay ngang mũ, kiểu chào vĩnh biệt người chết. Chúng kéo dài việc khâu, buộc miệng bao. Tôi nằm trong bao thóang nghĩ đến Tâm, người vợ hiền của tôi, song tự đáy lòng thấy cái chết đến yên ắng. Trong suốt mười ngày vượt qua đòn thù tra tấn, sức lực tàn kiệt, máu bên sườn nơi cái nhọt bị đâm thủng vẫn rỉ ra, nhưng tinh thần tôi vẫn vững vàng. Bao nhiêu cơ sở, bao nhiêu đồng chí cấp dưới trong cơ quan của tôi, bao nhiêu tài liệu, súng ống tôi đã giữ được trọn vẹn cho Đảng, cho cách mạng. Tôi mở mắt ra. Trong bao tối om, hình như chỉ có cái đốm trên đỉnh đầu, nơi bộ óc còn loé sáng. Nằm trong bao và yên trí chỉ lát nữa tôi vĩnh biệt cuộc sống, nhưng tôi vẫn nói vọng ra: “Sao các ông lại giết tôi? Giết một người dân hồi cư theo lời kêu gọi của các ông”, nói đến đó thì tôi nghe thấy thằng Hòa ra lệnh: “Cởi ra đã”.
Chúng lại tháo nút buộc. Thằng Hòa đến cạnh bao ôn tồn thuyết phục:
- Anh là người có học, thông minh, tôi tiếc cho anh biết mấy. Chúng tôi đánh kẻ chạy đi, chứ không ai đánh kẻ chạy lại. Anh chỉ cần khai liên lạc với ai? Chỉ cần nói một người, một người thôi, thì ngày mai tôi lập tức cấp giấy tha anh ngay.
Chả là những khi bị tra tấn tôi chỉ nói xuống đây tìm người nhà, nay nó hỏi liên lạc với ai. Tín hiệu này tôi đã thóang thấy chúng đã có nghi ngờ bọn chỉ điểm nói tôi là chủ tịch. Tôi trả lời ngay:
- Tôi hồi cư về Hà Nội, tin là vào trong này sẽ an toàn, có sự bảo trợ của các ông, sao các ông lại giết tôi, giết một người dân hồi cư theo lời kêu gọi của các ông? Nếu như đã tìm được người nhà, tôi đã thành thực khai, giấu các ông làm sao được. Nghe vậy thằng Hòa lại quát lên:
- Thằng này muốn chết, phải chết - y lại ra lệnh - Khâu bao và tống mẹ nó xuống sông. Hai ba thằng lại túm đầu ấn tôi vào bao. Thằng Focquet (Phốc-kê) lái xe, mở máy rì rì, ỉn ỉn như chuẩn bị chuyển bánh. Tôi vẫn nói vọng ra: - Tôi không khai thì các ông cho là không trung thực, nhưng nếu nói bừa thì lại có lỗi với các ông. Thằng Hòa lại quát:
-Mày nói lý, hôm nay chúng tao sẽ chiều theo ý mày! Sẽ chôn sống mày. Chúng vẫn buộc miệng bao chầm chậm. Tôi lại mở mắt ra. Tối đen, chỉ có hơi xăng của chiếc xe đang nổ máy xộc vào mũi. Hình ảnh Tâm vẫn chập chờn trước mắt, tôi thấy nhói lên một niềm thương. Hình ảnh thành phố cảng, những khu phố quen thuộc mà hàng ngày tôi qua lại, ngập ngụa bóng Tây say, những đồng chí của tôi lặn lội ngày đêm trong lòng địch, những bà mẹ cơ sở nuôi sống tôi. Tất cả hiện lên mồn một trong kí ức cùng với nỗi đau nhức nhói trong tim. Tôi nằm yên trong bao và loáng thóang nghe thằng Pơ-lê nói với thằng Hòa: “Có thể... (certainement, possible) chứng liệu không chính xác!”.
Độ mấy phút sau thằng Hòa ra lệnh cởi bao lôi tôi ra và nói:
-Ông xếp này bảo là cho mày thêm một đêm để suy nghĩ. Không khai, ngày mai mày sẽ chết...
Chúng lại khiêng tôi vứt vào xà lim. Tôi bò lết vì cả chân tay tê dại, khó nhấc lên được. Chỗ xương sườn bị gãy, nơi cái nhọt bị đâm, vẫn đau nhức ri rỉ máu, mủ. Nhưng tôi cười thầm cái trò hù doạ xỏ lá của bọn chúng. Mấy đồng chí của tôi bị bắt ở ca-sô gần đấy lấp ló nhìn ra. Có lẽ sự chịu đựng và thái độ của tôi trước kẻ thù đã gieo được vào lòng họ những suy nghĩ về bổn phận của mình. Chị Lê Thanh, từ sau cái hôm đấm tôi mấy đấm vào bụng và nghe những lời nói bóng gió của tôi, tôi thấy chị cứ muốn lánh mặt. Mỗi buổi bọn mật thám điệu tôi lên bàn tra cung, rồi khi hết buổi chúng lại khiêng tôi xuống buồng giam với thân hình đẫm máu, mỗi lần như vậy tôi thấy chị quay mặt và lỉnh đi chỗ khác. Thế rồi một hôm, chị lén ném cho tôi một cuộn băng và nói vội: “Lỡ bước trượt rồi thì đứng lại thế nào hở anh?”. Tôi cũng trả lời vội: “Đứng lại ở đấy và đừng bước nữa thì khỏi ngã” (chị Lê Thanh hiện còn sống).
Cậu Xôi - Phong Cốc, (hắn là người Phong Cốc - Hà Nam, Quảng Yên). Hắn lầm lì ít nói, người cùng quê với xếp Hòa. Trước kia hắn cũng là cơ sở của kháng chiến, sau khi bị bắt, bị mua chuộc, rồi xếp Hòa dùng hắn để gác bốt và coi tù. Hình như hắn cũng chú ý theo dõi những người bị bắt lên tra đánh. Cứ mỗi lúc y thấy tôi máu me đầy người, không lết đi được sau khi bị tra đánh, thì y đều có cái nhìn thiện cảm. Bởi vậy khi tôi đập cửa xin nước, hắn đều đem lại rất sốt sắng. Có lần hắn còn lén bỏ vào ca nước những cục đường.
Rồi một hôm, bọn mật thám lôi Điều lên tra tấn. Sau những phát đạp đánh, Hùng Điều kêu rú lên, rồi thấy chúng điệu Điều ra xe nổ máy. Mấy phút sau chúng bắt về bốt một bà già. Khi Điều bước xuống xe thì Xôi xấn lại, y túm luôn lấy Điều dùng báng súng nện vào ngực, chân đá Điều lăn lên, lộn xuống. Vừa đánh y vừa chửi tục: “Đù mẹ thằng này, mày mù à! Mày không nhìn thấy ai à! Mày định dẫn bắt hết cả dân thành phố này à...” Thì ra vậy! Trong lương tri sâu kín của những người con yêu nước, họ vẫn gặp nhau, tìm đến nhau, vẫn nhìn và làm theo nhau.
Anh Tham (rỗ), anh là phó thư ký công đoàn khu 6 thuộc quận, cơ sở đổ bể, anh bị giặc bắt. Mấy hôm nay bọn mật thám tập trung đánh và khai thác chức danh của tôi. Chúng đã thất bại khi đem Hùng Điều lên nhận diện. Hôm nay chúng dẫn Tham đến trước mặt tôi. Chúng đẩy Tham và giục:
-Mày nói đi. Tên nó là gì?
Tham chưa kịp mở miệng tôi đã tranh nói trước:
-Tôi ở Hà Nội có quen biết gì nó.
Thằng Hòa đạp tôi một cái và chửi:
- Tao hỏi mày à! Khép cái mồm mày lại.
Rồi quay sang Tham:
-Nó làm cái gì?
Tham ấp úng:
-Con không biết, nhưng chắc nó làm to lắm.
Lập tức cả bọn xúm lại quật Tham xuống, vừa đánh vừa chửi: “Tổ sư mày! Cái mồm mày như đít con nhà thổ. Lúc có, lúc không”. Tôi nhìn Tham, lại nhìn xuống chỗ có cái nhọt, nơi rẻ xương bị đánh gầy và vẫn rỉ máu, bỗng thấy bớt đau.
Mấy hôm sau chúng gọi tôi đến gần một chị phụ nữ quần áo tả tơi, đầu tóc rũ rượi. Xung quanh chị có thằng Lai-xanh và hôm nay, đặc biệt có cả thằng Đơ-he, chánh mật thám liên bang Đông Dương, thằng quản Xồm, tên mật thám phòng nhì khét tiếng hung bạo ở Hải Phòng. Tôi nhẩm chắc phen này sẽ bị chúng đánh chết, bởi chị phụ nữ đó chính là cô Hoa, Bí thư phụ nữ khu 7. Đã qua hai người nhận diện chúng đều thất bại. Lần này đưa Hoa ra nhận diện chắc khó có thể chối được.
Vừa nhìn thấy Hoa, ngay trước cả bọn Tây tôi rọi tia mắt nhìn thẳng vào mặt chị. Thằng Hòa lên tiếng hỏi Hoa: “Thằng này là ai?” Hoa chưa kịp mở miệng, tôi đã nói:
- Tôi không hề quen biết chị này!
- Hãy vạch mặt nó ra xem có phải con Hoa?
Chúng vạch mớ tóc rối bù trên mặt chị, tôi vẫn nhìn thẳng chị. Chị nói:
- Tôi không biết nó là ai, không hề quen nó.
Thằng Lai-xanh đá luôn hai đá vào bụng chị và hỏi dồn:
- Sao mày bảo biết nó là chủ tịch?
Hoa cuống lên:
- Không, con không biết. Tôi không biết! Các quan hỏi ông ấy!
Lai-xanh đá thốc luôn hai nhát giày nữa vào mặt chị và chửi tục:
- Cút mẹ mày xuống xà lim đi - và quay lại hỏi tôi - Sao nó bảo mày là chủ tịch?
- Các ông đánh nó đau quá nó khai lung tung.
- Mày hãy vào đây xem tao đánh nó.
- Các ông đánh nó, nó là phụ nữ, thì nó chết. Không chết, nó đau sẽ khai bừa. Các ông sẽ bắt hết dân Hải Phòng của các ông hay sao?
Thằng Lai-xanh ngẩn lại một phút và phẩy tay cho tôi trở về chỗ cũ. Mãi đến bây giờ có người đến hỏi chị Hoa đã 72 tuổi còn sống ở Hải Phòng: “Tại sao lúc đó chị lại chối không quen biết anh Thành?”. Chị trả lời: “Chính nét mặt đôn hậu và đôi mắt nhìn nảy lửa của anh ấy làm tôi cuống lên, bật ra câu trả lời: Tôi không biết, các quan hỏi ông ấy.
Thằng Phiên béo, là đảng viên Việt Nam quốc dân đảng. Pháp nhảy dù Bắc Cạn bắt được đem về Hải Phòng sử dụng. Y thành tên ác ôn khét tiếng nhất của bọn mật thám không quân ở bốt Cống trắng. Y đánh, tôi không khai, không van xin, bị đau đến ngất xỉu, nhưng khi tỉnh lại lời nói vẫn bình thản. Một hôm y tìm đến gặp tôi, bữa ấy y không gọi tôi là mày nữa mà nói:
-Ông Duy ạ! (tên tôi trong tù là Duy). Làm tay sai cho Tây cũng nhục như chó!
Tôi chẳng cần đắn đo trả lời ngay:
-Chúng tôi là người làm cho ông đỡ nhục, nhưng ông lại đánh chúng tôi nhiều nhất.
Nghe tôi nói vậy, y cúi gầm đầu xuống lấy mũi giầy hất hất những viên sỏi lăn đi lăn 46 lại. Cũng từ hôm ấy, tôi thấy y không đánh tù hung hăng như trước nữa. Y nhìn tôi bằng con mắt kính phục, nhưng tránh không dám gần.
Những ngày ra Salông và đến căng Đoạn Xá, chúng chẳng khai thác được gì ở tôi, nhưng chúng cũng không tha và đề vào phích tù: “Không có cứ liệu, nhưng nhiều người khai là chủ tịch” và chuyển vào giam ở căng Đoạn Xá.
Bọn quản Xồm thấy phích tù đề “không có chứng cớ” liền tung tay chân bủa lưới quanh tôi. Có nhiều đồng chí của tôi bị bắt vào đây, song gay cấn nhất là Xuân Đào. Anh em gọi hắn là Đào “răng vàng”. Hắn vốn là quận uỷ viên quận Cửa Cấm bị giặc bắt, khai phá cơ sở và được bọn mật thám liên bang sử dụng, thứ nữa là cậu B. giao thông quận Cửa Cấm. B. cũng bị bắt, bị mua chuộc. Xuân Đào theo lệnh của quản Xồm moi tìm những cán bộ bị bắt còn giấu được tung tích. Ngay từ ngày đầu, tôi tìm gặp Xuân Đào, đúng lúc hắn đang chăm chú nhìn cậu cần vụ vắt chanh vào cốc nước giải khát. Đợi cậu thanh niên này vắt hết nước, vứt cái vỏ chanh xuống đất, tôi tiến lên một bước, vừa cất tiếng chào vừa cúi nhặt cái vỏ chanh.
Lúc này Đào đã nhận ra tôi và nói:
-Anh nhặt cái đó làm gì? Chanh đã vắt hết nước.
Tôi tranh thủ nói thẳng với Xuân Đào:
-Anh thừa hiểu nghĩa thật và nghĩa bóng của câu anh vừa nói. Tôi đến gặp anh để nói thật với anh rằng tôi không khai nhận, và không bao giờ tôi khai nhận! Anh có tố giác tôi thì tôi cũng chết và chắc chắn anh cũng không sống được. Bởi anh biết khi tôi đã không nhận thì đối với địch anh chỉ là đứa tâng công nói bừa, nó sẽ không tin nữa và cuối cùng chúng cũng không tha anh. Ở ngoài kia, anh biết đấy, bọn chúng đang thua chạy ở khắp các mặt trận.
Đào yên lặng, không trả lời, hất cốc nước chanh tung toé xuống đất mà không uống. Tôi lại tìm đến B. và cũng nói thẳng:
-Cậu khai bắt Xuân Đào đã là cái tội. Bây giờ cậu có tố giác mình thì cậu xem đấy.
Tôi chỉ vết thương nơi cái nhọt vẫn rỉ máu và khẳng định - Không bao giờ tôi khai nhận đâu.
Lời nói của tôi quả có tác dụng. Xuân Đào và B. không những không tố giác tôi, mà không còn hoạt động tệ hại như trước nữa. Còn B. thì hối hận. Cậu ta săn sóc, tìm cả bông băng, hàng ngày lau rửa vết thương rỉ máu của tôi và nhất là không khai báo cơ sở với địch nữa. Sau này được tha tôi đã nhận thực cho B. được phục hồi Đảng tịch.
Những ngày ở Đoạn Xá vết nhọt bị đâm trên sườn tôi vẫn sưng bầm. Làm gì có thuốc chữa trị, ngoài thứ thuốc đỏ. Nơi rẻ xương sườn bị gãy và vết đâm có nhiều hút như hút chạch, cả máu lẫn mủ ngày đêm ri rỉ chảy, lầy nhầy như máu cá. Tay ôm viết thương, tôi vẫn cố tìm đến tổ chức. Tôi muốn bằng sự kiên nghị của mình sẽ khống chế được số anh em dao động tinh thần, mặt khác giữ vững được tinh thần cho số đông đồng chí bị giặc bắt. Với tư cách Phó Bí thư chi bộ trong nhà tù, tôi có biết bao công việc phải làm, không thể nhớ hết...(Nhưng đáng quý là có những anh em đồng chí bên tôi lại nhớ được nhiều chuyện vào giai đoạn đó. Như đồng chí Văn Tân, sau này báo cáo về Trung ương, tháng 3- 1993, có đoạn viết: 47 “Khoảng tháng 4-1952 đồng chí Đoàn Duy Thành có phân công tôi trực tiếp chỉ huy 50 anh em bộ đội đi làm ở bốt pháo thủ, mé bên kia bến Bính... đến 7 giờ hôm đó khi địch tập trung anh em chúng tôi lên ôtô về Cảng thì chúng tôi xông vào đồn cướp súng, phá khẩu cao xạ 4 nòng, rồi theo bãi sú về làng Dương Quan như đã liên lạc từ trước”.
“ Khoảng một tuần sau, đồng chí Đoàn Duy Thành cho tôi kiểrm tra lại kế hoạch giải phóng 100 anh em bộ đội đi làm ở núi Voi... Và kế hoạch này ngay chiều hôm sau anh em đã thực hiện thắng lợi giải phóng cả 100 anh em, trước toàn bộ súng ống của bọn lính áp tải...”
Như thế, ban ngày mọi hoạt động lôi cuốn tôi, nhưng đêm đêm trong buồng giam nghe tiếng súng công đồn khi gần khi xa, lòng tôi xốn xang, không thể nào chợp mắt được. Tôi nhớ những đêm theo giao liên đi họp, từng đoàn đom đóm lập loè trong lùm cây, nhớ những đêm mưa phùn, đi sát qua đồn giặc, những đám ma trơi vật vờ nơi bãi tham ma, nơi giặc vùi xác đồng bào, cán bộ mình. Nhớ cả những buổi đang đi gặp phải lính tuần đường, tất cả nằm nép xuống bờ nước, lúc bò lên mới thấy đỉa bu quanh lưng, bu khắp mặt lầy nhầy...
Tôi băn khoăn nhiều đến nhiệm vụ Thành uỷ giao phó mà chưa hoàn tất, nào hoạt động với khối công nhân khu ga, khu cảng, khu lán bè... Còn bây giờ, bây giờ phải tìm mọi cách thóat khỏi nhà tù, thóat nhưng phải làm sao không đụng chạm thất thiệt đến tổ chức trong khám. Bởi vậy khi Văn Tân kiểm tra xong kế hoạch trốn cả 100 anh em bộ đội, tôi đã dặn: “Bố trí kiểm tra xong, đồng chí phải ở lại”. Bởi mình phải nghĩ tới mấy ngàn cán bộ, bộ đội ta còn bị giặc nhốt ở đây, căng tù này cũng là một điểm nóng mà người cán bộ phải có trách nhiệm.
Đi đày Côn Đảo
Lúc này giặc đại bại ở biên giới. Hàng binh đoàn với cả tướng tá của chúng đã bị ta bắt sống. Vùng đồng bằng sông Hồng, nơi mà chúng cho là an toàn nay bị uy hiếp. Vì vậy chúng tìm cách chuyển số tù binh và cán bộ của ta bị bắt vào phía Nam.
Vết thương bên cạnh sườn của tôi vẫn như cái nhọt bọc. Ngày đêm đau nhức tưởng khó có thể qua được. Xem bưu thiếp của số anh em đã ra đảo gửi về, tôi biết những đồng tiền Đồng dương mà chi bộ căng tù Đoạn xá chúng tôi đưa cho anh em trước lúc xuống tàu khi tới đảo đều bị chúng thu hết bằng lối khám trần truồng.
Ngày chúng tôi bị thanh lọc và đợi tàu ra đảo, thành uỷ Hải Phòng qua chi bộ căng tù Đoạn xá gửi cho chúng tôi ba ngàn tiền Đông Dương. Tôi đã gửi mua 10 chỉ vàng, đánh thành 10 cái nhẫn để hở khuy. Tôi nghĩ rằng nếu bị lột trần khám xét thì chỉ còn hai cách: Thứ nhất là cắn bẹt ra rồi nuốt vô bụng, khi đại tiện bới ra tìm lại; hai là bẻ ra gắn vào qui đầu rồi tuốt da xuống thì bố nó cũng không tìm được. Quả nhiên khi ra đảo, bọn cai tù khám bằng lối khám đặc biệt mà anh em tù gọi là “điệu múa phượng hoàng vỗ cánh”. Chúng tôi cho chim đeo vòng vẫn giữ nguyên được 9 chỉ. Riêng đồng chí Thíu (Bình Giang) nuốt vào bụng, khi đại tiện thò tay vào thùng phân mò mãi không thấy.
Hôm ấy, 1-10-1952 một đoàn xe nhà binh bịt bùng, kín mít tiến vào sân căng. Anh em chúng tôi lần lượt bị gọi ra xếp hàng xuống tàu đi đầy. Nhiều anh em trong trại nhìn tiễn chúng tôi bằng ánh mắt thương cảm. Chúng tôi hô to các khẩu hiệu: “Đả đảo thực dân Pháp - Hồ Chủ tịch muôn năm...!”. Tôi giơ cao tay, nói thật to: “Chào anh em ở lại, chúng ta sẽ gặp nhau ngày Thủ đô giải phóng”.
Xây dựng Đảng trong nhà tù và cuộc vượt ngục lớn nhất
Trong nhà tù, Chi bộ đảng, hạt nhân lãnh đạo cuộc đấu tranh mặt đối mặt với quân thù, phải căn cứ vào hoàn cảnh của tù nhân, của từng trại giam để có phương sách xây dựng Đảng, tổ chức đấu tranh thích hợp nhất, vừa bảo tồn được lực lượng, vừa tránh mắc mưu khiêu khích của kẻ thù, hoặc rơi vào sự mua chuộc dụ dỗ sinh ra tư tưởng cầu an hưởng lạc, nằm yên, thậm chí làm tay sai cho địch, không dám đấu tranh chia lửa với bên ngoài. Và khi có thời cơ, phải biết tổ chức tự giải thóat hoặc phối hợp với lực lượng bên ngoài đánh địch tại ngay những nơi chúng cho là an toàn nhất, như các trại tù ở các đảo xa đất liền.
Tôi vừa chân ướt chân ráo đến căng Đoạn Xá, San D1 (Salle Dangereux No 1 - khám tù nguy hiểm số 1), thì gặp ngay được một đồng chí rất tốt. Anh quen biết tôi và qua theo dõi khi tôi bị bắt, thấy tôi không khai báo làm hại cách mạng, anh đã cho tôi biết kế hoạch đào đường hầm xuyên ra ngoài. Đồng thời anh bố trí tôi vào tốp đồng chí nằm ngủ chờ khi có lệnh thì chui đường hầm vượt ngục. Sự việc không thành (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6, năm 1995 đã có bài viết về sự kiện này), anh Th. Huyện đội trưởng một huyện, bị địch đánh, đã khai ra gần hết các đồng chí trong Ban chi uỷ (Chi uỷ lúc đó có 7 người) và một số đảng viên. Trong tình thế đó, đồng chí Trần Thành Thọ là chính trị viên Tiểu đoàn, người chỉ huy quân sự cao nhất ở San bộ đội, đứng ra nhận trách nhiệm là người chỉ huy cuộc đào hầm vượt ngục. Đồng chí Thọ bị địch đánh chết ngay đêm hôm ấy. Các đồng chí khác không bị tra tấn, trừ hai anh Tường (tức Thâm) và Cao Văn Đoàn. Sau một tháng giam ở ca sô (hầm tối) cho ăn cơm muối, không tìm được chứng cứ, địch phải thả hết.
Ban chỉ ủy cũ coi như bị lộ. Chúng tôi bàn nhau củng cố chi bộ. Tôi được cử làm phó bí thư phụ trách xây dựng Đảng và phòng gian bảo mật (Chi uỷ lúc này chỉ có 3 người là các anh Dụ, Kỷ và tôi). Công việc đầu tiên là rà soát lại các đảng viên đã được sinh hoạt Đảng trước đây, phân tích sự không thành công của cuộc vượt ngục, xem xét các đảng viên sau cuộc vượt ngục, tìm ra những đồng chí sau thất bại này lại hăng hái hơn trong cuộc đấu tranh với địch như đồng chí Văn Tân, Tường (tức Thâm), Châu “lé”... Bởi vì đã có đồng chí trước đây ở ngoài là uỷ viên Thường vụ huyện uỷ như đồng chí Ch.
Sau cuộc vượt ngục không thành, sinh ra bi quan, hằng ngày ăn cơm xong lấy manh chiếu cuộn tròn nằm ở cuối khám, không trò chuyện với bất cứ ai cho đến khi địch chuyển đi trại giam khác. Sức khoẻ tôi lúc này rất kém, lại phải dồn sức vào củng cố phong trào tù nhân. Theo sự phân công của chi uỷ, tôi trực tiếp đọc cho đồng chí Sâm “cụt” viết bằng mực hóa học, tại một góc San D1, bản báo cáo gửi Thành uỷ Hải Phòng về công tác của chi bộ. Bọn địch không phát hiện được vì chúng tôi giả như là mấy người học tiếng Pháp và ăn chung cùng mâm với nhau gồm cả Đào Hữu Thăng, 49 Nhận được báo cáo gửi ra qua đường dây liên lạc của đồng chí Trần Hồi và Phiên (Hóan), Thành uỷ đã báo cáo lên Thường vụ Khu uỷ. Đồng chí Nguyễn Năng Hách (em ruột đồng chí Lê Thanh Nghị) Khu uỷ viên, kiêm Bí thư Thành uỷ Hải Phòng thay mặt Khu uỷ ký quyết định công nhân chi bộ nhà tù Đoạn Xá là chi bộ chính thức. Chúng tôi chuyển quyết định có đóng dấu son cho các đồng chí chi uỷ viên xem rồi hủy ngay. Lúc này đảng bộ đã có 206 đảng viên, phân bố trong các khám, nhưng đông nhất là San D1 và San sĩ quan quân đội.
Hoạt động của chi bộ dần đi vào nền nếp. Các hình thức đấu tranh được tổ chức tốt, bao gồm tổ chức vượt ngục, lãn công khi địch bắt đi lao động, đưa kiến nghị yêu sách đòi cải thiện sinh hoạt, đòi thả những người bệnh nặng và chữa chạy cho tù nhân đau ốm. Tiêu biểu cho giai đoạn này là hai cuộc vượt ngục của 100 tù binh đi lao động ở núi Voi Kiến an (Trong cuộc vượt ngục, ta đã cướp toàn bộ súng của bọn lính coi tù và thóat ra vùng tự do), vượt ngục bằng cách rút chấn song sắt ở căng tin San D1 (Tạp chí Lịch sử đảng số 6-1995 đăng bài: Chi bộ nhà tù Đoạn Xá Hải Phòng có nhắc đến các sự kiện này). Các cuộc vượt ngục đã làm cho bọn cai ngục và bọn thực dân Pháp ở vùng duyên hải Bắc Bộ phải thay đổi một phần chế độ hà khắc đối với tù nhân, đồng thời chúng tiếp tục phân tán anh em bằng cách đày đi Côn Đảo, Phú Quốc những người chúng cho là lãnh đạo trong nhà tù.
Đến nhà ngục Côn đảo
Lúc này mùa gió chướng sắp đến. Việc chuẩn bị cho cuộc vượt ngục Côn Đảo đang diễn ra sôi nổi nhưng rất bí mật. Qua kiểm tra sàng lọc xem xét của Đảng, đồng chí Lê Đình Thụ và tôi được bổ sung vào Đảo uỷ. Chúng tôi bắt tay ngay công tác chuẩn bị cho cuộc đánh địch cướp đảo, nhằm đưa tất cả tù nhân về đất liền, tham gia kháng chiến. Sau khi đồng chí Văn, Bí thư Đảo uỷ phổ biến chủ trương, chúng tôi soát lại kế hoạch đánh chiếm đảo, phương tiện thuyền và vũ khí. Chúng tôi khẳng định chỉ có đánh chiếm được toàn đảo, sử dụng đại bộ phận tàu thuyền sẵn có của địch để về đất liền mới bảo đảm thắng lợi. Còn thuyền do ta chuẩn bị, khung thuyền bằng gỗ và song, với vải sơn bọc ngoài, khó có thể vượt qua được sóng to gió lớn.
Không khí chuẩn bị cuộc vượt đảo có một không hai này sôi sục trong tâm tư tình cảm của mỗi người tù, nhất là Banh III tù binh. Nhưng bề ngoài chúng tôi rất thầm lặng, nói chuyện với nhau qua ánh mắt, nụ cười thầm kín. Bởi vậy vẫn giữ được tuyệt đối bí mật cho đến giờ nổ súng. Tôi được phân công phụ trách chuẩn bị danh sách và tàu thuyền hiện có trên đảo, có thể dùng làm phương tiện về đất liền được, kế hoạch đối phó với địch sau trận đánh chiếm đảo, những biện pháp đối phó với những tình huống xảy ra như thắng lợi hoàn toàn, hoặc đi được một bộ phận, hoặc cuộc chiến dấu thất bại.
Tôi đã cùng với số anh em giúp việc thu thập tình hình đề ra các biện pháp xử lý. Sau khi chuẩn bị xong, đã đưa ra thường vụ Đảng uỷ góp ý kiến.
Trong việc chuẩn bị này, khó nhất là phương tiện chở anh em về đất liền, chỉ bảo đảm được khoảng 550 người, mà ở đảo lúc đó có 2100 người. Riêng banh III tù binh đã có 500 người. Phải tính đến chuyện dùng các 50 loại thuyền đánh cá nhỏ, không có máy nổ, tự tạo buồm, mái chèo, mà đi từng tốp nhỏ. Nếu đúng dịp đó có tàu hàng đi qua thì cướp luôn tàu để đi. Nếu phải kéo dài thì giờ thì việc quan trọng nhất là chiếm được máy phát tín của địch ở “Hòn bảy cạnh”, khống chế địch ở đây, phát tín hiệu bình thường về đất liền 2 ngày một lần như địch làm thường lệ và chuẩn bị cho anh em về chuyến sau cùng bằng một ca nô tốt nhất của đảo, có khả năng chạy một đêm đến cửa Mỹ Thanh, khu tự do của ta thuộc tỉnh Bạc Liêu.
Từ giữa tháng 11-1952 thỉnh thỏang đã có gió “chướng” thổi qua đảo. Anh em rạo rực chờ đợi. Tôi lúc nào người cũng nóng ran, như bị sốt 40 độ. Gió “chướng” đến rất ngắn, nửa ngày hoặc một ngày đã hết. Tôi đề nghị với anh Văn bố trí cho tôi và anh Thụ đi làm với kíp làm đường ở đầu mom để quan sát tình hình cụ thể và nếu có điều kiện bàn thêm với kíp làm rừng ở bến Đầm. Số anh em làm rừng được l&agra
Rỉ Tai
Các loạt bài/Article Series
This article is part 4 of a 4 part series. Other articles in this series are shown below:
-
Làm người là khó-Hồi ký Đoàn Duy Thành, Chương 4

