- Trang Chủ
- Văn Hóa - Nghệ Thuật
- Trạng nguyên Lê Văn Thịnh - Oan khiên đến tận bao giờ? (3)
Trạng nguyên Lê Văn Thịnh - Oan khiên đến tận bao giờ? (3)
- Tác Giả: Trần Khải Thanh Thủy
- Đăng ngày 11.11.08
- Văn Hóa - Nghệ Thuật
-
Xếp hạng:




III- Bao giờ khép lại?
Hà Nội - Bắc Ninh tháng 11-2008
(Kết)
© 2008 www.danchimviet.com
Cho tới tận cuối thế kỷ 20, nghi án lịch sử về vụ án hồ Dâm Đàm vẫn chưa được giải toả, đến mức nhà viết chèo Tào Mạt trong vở chèo hiện đại nổi tiếng mang tên "Bài ca giữ nước" vẫn đưa tên thái sư Lê Văn Thịnh vào danh sách tội đồ, phản nghịch. Chính vì thế khi vở chèo được công diễn và lưu hành rộng rãi trên toàn quốc, đã gây ra không ít chuyện dị thường, thị phi, số là người dân của thôn Bảo Tháp, sau khi phát hiện ra pho tượng chìm sâu trong lòng đất cả mấy trăm năm liền lập miếu thờ, tế lễ, hương khói quanh năm, trong khi các làng xung quanh, mỗi khi nghe vở bài ca giữ nước của Tào Mạt lại thốt lên đầy mai mỉa:
- Thấy chưa, thành hoàng làng của chúng mày đấy, người mà chúng mày gọi là tiến sĩ, thái sư, lập đền thờ, miếu mạo, rồi rước về để trình tế hàng năm vào ngày sự lệ chẳng qua chỉ là một tên nghịch tặc, phản loạn, lập mưu giết vua, đoạt quyền...
Lời qua tiếng lại, bên nào cũng cho là mình đúng, không bên nào chịu nhường bên nào. Hàng trăm trai tráng, lực điền của 5 thôn Đông, Lai, Nghiêm, Miễu và Lai Lẻ trong xã Nhị Chi xưa (nay là xã Đông Cứu) không chịu nổi sự xúc phạm đến tín ngưỡng, thành hoàng của làng mình, nên năm nào cũng bí mật đem vũ khí cuốc, xẻng gậy gộc, cho vào quan tài, tạo ra một đám ma giả, để tất cả cùng đi theo đưa tiễn, khi đến địa phận giáp ranh của hai làng liền bất ngờ hạ xuống, bật nắp quan tài lên lấy vũ khí xông vào đánh trả người làng lân cận. Ngược lại, làng kia cũng tìm mọi cách để quăng vải, tẩm dầu vào các mái nhà của người dân xã Đông Cứu làm bao nóc nhà cháy rụi... Cảnh máu chảy đầu rơi, loạn làng, bốc hoả do cháy nhà diễn ra liên tục trong nhiều năm, đến mức cả uỷ ban xã đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cũng không can thiệp nổi. Năm 1993, bộ văn hoá thông tin phải đứng ra mời tất cả các sử gia nổi tiếng cùng cánh phóng viên báo đài về hội thảo. Sau ba ngày trời kết luận cuối cùng của cuộc hội thảo khẳng định ông là một danh nhân khoa bảng, người có công với triều đại nhà Lý, đặc biệt là Lý nhân Tông. Chuyện ông hoá hổ giết vua chỉ là một nghi án, một sự hàm oan... Khi các bức ảnh của cuộc hội thảo được công bố, lời phát biểu của các nhà học giả được phát thanh trên đài truyền hình, truyền thanh cả nước, cũng như sự lên tiếng kịp thời của các phóng viên trên mặt báo thì nỗi giận của dân làng Đông Cứu mới nguôi ngoai. Tên ông được đặt cho một tên đường phố của tỉnh Bắc Ninh, một ngôi trường phổ thông cơ sở cũng vinh dự mang tên ông.
Riêng nhà viết chèo Tào Mạt ngay sau đó đã mắc một chứng bệnh kỳ lạ... Vốn là người con của quê hương quan họ, nơi một làn nắng cũng mang điệu dân ca nên tâm hồn ông qua việc tắm nắng, gội gió bao năm cũng đầy chất dân ca và chèo... Đang yên lành, ông bỗng mắc chứng đau đầu, sợ đủ mọi thứ, không dám tiếp xúc gặp gỡ ai, miệng luôn lảm nhảm rên hừ hừ, lẫn lộn mọi sự, lẫn lộn trước sau, sáng, tối, lẫn lộn con vật, con người, đặc biệt sợ công an. Bà Trần thị Bát, vợ ông kể, thời gian trước khi chết, cả đầu và cuối giường ông đều phải để quạt điện và bật suốt ngày đêm, trong khi trên người ông là chiếc chăn bông sù sụ, mà ông lúc nào cũng kêu nóng, kêu rét, miệng rên hừ hừ nhưng không cho tắt quạt hoặc cất chăn đi. Bạn bè thương quý tìm đến chờ ông cả buổi mà ông nhất định không cho người nhà mở cửa, phải bỏ về. Bà Bát, cứ sáng sớm hoặc tối trời lại dỗ dành khuyên giải để dắt ông ra khỏi nhà như dắt một đứa trẻ, để ông thơ thẩn hái hoa, bắt bướm, nghịch cây. Ngay cả hoa bèo, hoa rau muống cũng trở thành nỗi đam mê yêu thích của ông, giúp ông tạm quên chứng đau đầu. Thời gian cuối ông phải nhận một kết cục oan nghiệt mà cả nhà không dám nói, đó là con trai ông, vốn làm ở Sân bay Nội Bài, mua được một chiếc xe kích của cộng hoà dân chủ Đức, trong khi tiền còn phải vay mượn đã bị trấn trên đường từ Nội Bài về. Quá tiếc chiếc xe đẹp đẽ, mới mua nên đã kiên quyết không chịu bỏ của chạy lấy người mà giằng co với lũ cướp, để bị mất mạng. Khi đó ông đang nằm bệnh viện. Vào những phút giây hiếm hoi tỉnh táo, không thấy con vào thăm, ông hỏi thì cả nhà đều nói tránh là "đang đi công tác xa nhà". Mãi tới ngày giỗ 49, cả nhà làm giỗ, người ra người vào chia buồn, dự lễ, không thể giấu được, đành nói rõ với ông. Ít ngày sau, đến lượt ông ra đi trong vật vã, hối tiếc, đau đớn. Người làng bảo ông bị thành hoàng của làng phạt vì tội đã báng bổ thánh thần, bẻ cong lịch sử (**), biến danh nhân văn hoá thành kẻ phản diện, tiếm quyền bỉ ổi.
Ngày nay, đền thờ Thái sư Lê văn Thịnh còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật phong phú như: hai ngai thờ tượng ông, bộ bát bửu, thần tích, 5 đạo sắc phong, đạo sớm nhất phong năm 1853, đạo muộn nhất năm 1924 và hệ thống bia đá khắc dựng từ thời Nguyễn, đôi câu đối, cuốn thư và nhiều đồ thờ bằng đồng, gỗ, gốm, sứ. Đó là những di sản văn hóa quý từ thời Hậu Lê để lại, góp phần làm tăng thêm giá trị lịch sử và nghệ thuật cho nước nhà.
Tượng ông đặt trong khám thờ sơn son thếp vàng lộng lẫy ở phần trang trọng nhất nơi Hậu cung. Nghệ thuật tạc tượng, điêu khắc gỗ, sơn son thếp vàng điêu luyện, lột tả chân dung thư thái của vị quan Thái sư tài năng, đức độ - người đã có công lao to lớn trong việc rèn dạy đấng quân vương thời niên thiếu, đồng thời cả trong mặt trận ngoại giao, kinh bang tế thế với vương triều nhà Tống để đòi lại lãnh thổ cho đất nước từ thời Lý, cách đây cả nghìn năm, ngược hẳn với pho tượng rồng đầy uất kết "miệng cắn thân, chân xé mình" phía ngoài miếu thờ.
Năm 2004 đền thờ ông mới được Bảo tàng Bắc Ninh và UBND tỉnh xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa, song điều trớ trêu là hình ảnh ông - kẻ phản tặc, thí nghịch, gian hùng trong vở chèo tuy đã bị cắt bỏ, song nhiều người trong giới chính sử của nước nhà vẫn coi ông là trọng tội. Ngay cả nhà sử gia lỗi lạc Ngô Sĩ Liên cũng viết về thái sư Lê Văn Thịnh: "Kẻ làm tôi, phạm tội giết vua, cướp ngôi mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua quá tin sùng đạo Phật..." Theo vết chân của Ngô sĩ Liên, nhiều nhà sử học đương thời vẫn cho rằng: Sau gần 900 năm, nỗi oan khuất cuả ông mới được làm sáng tỏ, thì chứng tỏ ông là kẻ đại nghịch, vì sau lưng ông khi đó là một thế lực thù nghịch muốn lật đổ ngai vàng của vua, nên mới mượn lốt hổ để doạ vua. Bởi vùng hồ Tây khi ấy thỉnh thoảng vẫn có hổ xuất hiện... Chỉ vì âm mưu không thành mà phải chịu đi đày. Và vụ án hồ dâm đàm là vụ án có thật 100%, được lưu truyền lại nhiều đời trong lịch sử. Nếu bị oan, thì không phải đợi đến 897 năm (1096- 1993) mới được giải oan. Sự giải cứu này hoàn toàn do ý đồ của con cháu họ Lê, vì muốn cởi bỏ tiếng xấu cho ông tổ của mình nên đã tìm mọi cách để lật lại vụ án. Phía nhà nước cộng sản vì không muốn tiếp diễn cảnh máu chảy đầu rơi, người dân chém giết lẫn nhau nên đã xuề xoà mọi chuyện. Điển hình của xu hướng này là nhà sử học Bùi Thiết, người đã viết cuốn " Đối thoại sử học" và bị nhà nước cộng sản coi là một trong 7 kẻ đốt ngôi đền lịch sử Việt Nam, sau khi cấm lưu hành cuốn sách của ông.
Lý giải về việc Thái sư "hoá hổ" trên thuyền, nhiều người bảo do tướng mạo ông từ bé đã giống hổ, nên giữa sương mù dâng lên dày đặc, nhà vua mới lầm tưởng. Ngay cả mẹ đẻ ông, nhiều lần vô tình ngắm ông học bài cũng ngất sỉu, đánh rơi cây đèn trên tay vì tướng mạo, vóc dạng, hình hài ông giống hệt một chú hổ con. Điều này ngược hoàn toàn với pho tượng của ông nơi đền thờ, nét mặt hài hoà, cân đối, lộ rõ vẻ thư thái, an nhàn, tinh thông, uyên bác của một vị trạng nguyên, tiến sĩ, thái sư...
Tóm lại cho đến giờ phút này, khi cả nghìn năm đã trôi qua thì việc xác định về ông vẫn còn nhiều tranh cãi, và nỗi oan khuất của ông còn hiển hiện từng ngày qua chính pho tượng bằng đá nguyên khối, tạc hình một con rồng lớn đang nằm co quắp, đặt trong miếu thờ ngay hông đền.
- Thấy chưa, thành hoàng làng của chúng mày đấy, người mà chúng mày gọi là tiến sĩ, thái sư, lập đền thờ, miếu mạo, rồi rước về để trình tế hàng năm vào ngày sự lệ chẳng qua chỉ là một tên nghịch tặc, phản loạn, lập mưu giết vua, đoạt quyền...
Lời qua tiếng lại, bên nào cũng cho là mình đúng, không bên nào chịu nhường bên nào. Hàng trăm trai tráng, lực điền của 5 thôn Đông, Lai, Nghiêm, Miễu và Lai Lẻ trong xã Nhị Chi xưa (nay là xã Đông Cứu) không chịu nổi sự xúc phạm đến tín ngưỡng, thành hoàng của làng mình, nên năm nào cũng bí mật đem vũ khí cuốc, xẻng gậy gộc, cho vào quan tài, tạo ra một đám ma giả, để tất cả cùng đi theo đưa tiễn, khi đến địa phận giáp ranh của hai làng liền bất ngờ hạ xuống, bật nắp quan tài lên lấy vũ khí xông vào đánh trả người làng lân cận. Ngược lại, làng kia cũng tìm mọi cách để quăng vải, tẩm dầu vào các mái nhà của người dân xã Đông Cứu làm bao nóc nhà cháy rụi... Cảnh máu chảy đầu rơi, loạn làng, bốc hoả do cháy nhà diễn ra liên tục trong nhiều năm, đến mức cả uỷ ban xã đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cũng không can thiệp nổi. Năm 1993, bộ văn hoá thông tin phải đứng ra mời tất cả các sử gia nổi tiếng cùng cánh phóng viên báo đài về hội thảo. Sau ba ngày trời kết luận cuối cùng của cuộc hội thảo khẳng định ông là một danh nhân khoa bảng, người có công với triều đại nhà Lý, đặc biệt là Lý nhân Tông. Chuyện ông hoá hổ giết vua chỉ là một nghi án, một sự hàm oan... Khi các bức ảnh của cuộc hội thảo được công bố, lời phát biểu của các nhà học giả được phát thanh trên đài truyền hình, truyền thanh cả nước, cũng như sự lên tiếng kịp thời của các phóng viên trên mặt báo thì nỗi giận của dân làng Đông Cứu mới nguôi ngoai. Tên ông được đặt cho một tên đường phố của tỉnh Bắc Ninh, một ngôi trường phổ thông cơ sở cũng vinh dự mang tên ông.
Riêng nhà viết chèo Tào Mạt ngay sau đó đã mắc một chứng bệnh kỳ lạ... Vốn là người con của quê hương quan họ, nơi một làn nắng cũng mang điệu dân ca nên tâm hồn ông qua việc tắm nắng, gội gió bao năm cũng đầy chất dân ca và chèo... Đang yên lành, ông bỗng mắc chứng đau đầu, sợ đủ mọi thứ, không dám tiếp xúc gặp gỡ ai, miệng luôn lảm nhảm rên hừ hừ, lẫn lộn mọi sự, lẫn lộn trước sau, sáng, tối, lẫn lộn con vật, con người, đặc biệt sợ công an. Bà Trần thị Bát, vợ ông kể, thời gian trước khi chết, cả đầu và cuối giường ông đều phải để quạt điện và bật suốt ngày đêm, trong khi trên người ông là chiếc chăn bông sù sụ, mà ông lúc nào cũng kêu nóng, kêu rét, miệng rên hừ hừ nhưng không cho tắt quạt hoặc cất chăn đi. Bạn bè thương quý tìm đến chờ ông cả buổi mà ông nhất định không cho người nhà mở cửa, phải bỏ về. Bà Bát, cứ sáng sớm hoặc tối trời lại dỗ dành khuyên giải để dắt ông ra khỏi nhà như dắt một đứa trẻ, để ông thơ thẩn hái hoa, bắt bướm, nghịch cây. Ngay cả hoa bèo, hoa rau muống cũng trở thành nỗi đam mê yêu thích của ông, giúp ông tạm quên chứng đau đầu. Thời gian cuối ông phải nhận một kết cục oan nghiệt mà cả nhà không dám nói, đó là con trai ông, vốn làm ở Sân bay Nội Bài, mua được một chiếc xe kích của cộng hoà dân chủ Đức, trong khi tiền còn phải vay mượn đã bị trấn trên đường từ Nội Bài về. Quá tiếc chiếc xe đẹp đẽ, mới mua nên đã kiên quyết không chịu bỏ của chạy lấy người mà giằng co với lũ cướp, để bị mất mạng. Khi đó ông đang nằm bệnh viện. Vào những phút giây hiếm hoi tỉnh táo, không thấy con vào thăm, ông hỏi thì cả nhà đều nói tránh là "đang đi công tác xa nhà". Mãi tới ngày giỗ 49, cả nhà làm giỗ, người ra người vào chia buồn, dự lễ, không thể giấu được, đành nói rõ với ông. Ít ngày sau, đến lượt ông ra đi trong vật vã, hối tiếc, đau đớn. Người làng bảo ông bị thành hoàng của làng phạt vì tội đã báng bổ thánh thần, bẻ cong lịch sử (**), biến danh nhân văn hoá thành kẻ phản diện, tiếm quyền bỉ ổi.
Ngày nay, đền thờ Thái sư Lê văn Thịnh còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật phong phú như: hai ngai thờ tượng ông, bộ bát bửu, thần tích, 5 đạo sắc phong, đạo sớm nhất phong năm 1853, đạo muộn nhất năm 1924 và hệ thống bia đá khắc dựng từ thời Nguyễn, đôi câu đối, cuốn thư và nhiều đồ thờ bằng đồng, gỗ, gốm, sứ. Đó là những di sản văn hóa quý từ thời Hậu Lê để lại, góp phần làm tăng thêm giá trị lịch sử và nghệ thuật cho nước nhà.
Tượng ông đặt trong khám thờ sơn son thếp vàng lộng lẫy ở phần trang trọng nhất nơi Hậu cung. Nghệ thuật tạc tượng, điêu khắc gỗ, sơn son thếp vàng điêu luyện, lột tả chân dung thư thái của vị quan Thái sư tài năng, đức độ - người đã có công lao to lớn trong việc rèn dạy đấng quân vương thời niên thiếu, đồng thời cả trong mặt trận ngoại giao, kinh bang tế thế với vương triều nhà Tống để đòi lại lãnh thổ cho đất nước từ thời Lý, cách đây cả nghìn năm, ngược hẳn với pho tượng rồng đầy uất kết "miệng cắn thân, chân xé mình" phía ngoài miếu thờ.
![]() |
| Tượng Thái sư Lê Văn Thịnh trong đền thờ tại thôn xã Đông Cứu, Gia Lương, Hà Bắc. Bài vị phía sau ghi: Lê Thái sư Đại vương. Nguồn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia |
Năm 2004 đền thờ ông mới được Bảo tàng Bắc Ninh và UBND tỉnh xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa, song điều trớ trêu là hình ảnh ông - kẻ phản tặc, thí nghịch, gian hùng trong vở chèo tuy đã bị cắt bỏ, song nhiều người trong giới chính sử của nước nhà vẫn coi ông là trọng tội. Ngay cả nhà sử gia lỗi lạc Ngô Sĩ Liên cũng viết về thái sư Lê Văn Thịnh: "Kẻ làm tôi, phạm tội giết vua, cướp ngôi mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua quá tin sùng đạo Phật..." Theo vết chân của Ngô sĩ Liên, nhiều nhà sử học đương thời vẫn cho rằng: Sau gần 900 năm, nỗi oan khuất cuả ông mới được làm sáng tỏ, thì chứng tỏ ông là kẻ đại nghịch, vì sau lưng ông khi đó là một thế lực thù nghịch muốn lật đổ ngai vàng của vua, nên mới mượn lốt hổ để doạ vua. Bởi vùng hồ Tây khi ấy thỉnh thoảng vẫn có hổ xuất hiện... Chỉ vì âm mưu không thành mà phải chịu đi đày. Và vụ án hồ dâm đàm là vụ án có thật 100%, được lưu truyền lại nhiều đời trong lịch sử. Nếu bị oan, thì không phải đợi đến 897 năm (1096- 1993) mới được giải oan. Sự giải cứu này hoàn toàn do ý đồ của con cháu họ Lê, vì muốn cởi bỏ tiếng xấu cho ông tổ của mình nên đã tìm mọi cách để lật lại vụ án. Phía nhà nước cộng sản vì không muốn tiếp diễn cảnh máu chảy đầu rơi, người dân chém giết lẫn nhau nên đã xuề xoà mọi chuyện. Điển hình của xu hướng này là nhà sử học Bùi Thiết, người đã viết cuốn " Đối thoại sử học" và bị nhà nước cộng sản coi là một trong 7 kẻ đốt ngôi đền lịch sử Việt Nam, sau khi cấm lưu hành cuốn sách của ông.
Lý giải về việc Thái sư "hoá hổ" trên thuyền, nhiều người bảo do tướng mạo ông từ bé đã giống hổ, nên giữa sương mù dâng lên dày đặc, nhà vua mới lầm tưởng. Ngay cả mẹ đẻ ông, nhiều lần vô tình ngắm ông học bài cũng ngất sỉu, đánh rơi cây đèn trên tay vì tướng mạo, vóc dạng, hình hài ông giống hệt một chú hổ con. Điều này ngược hoàn toàn với pho tượng của ông nơi đền thờ, nét mặt hài hoà, cân đối, lộ rõ vẻ thư thái, an nhàn, tinh thông, uyên bác của một vị trạng nguyên, tiến sĩ, thái sư...
Tóm lại cho đến giờ phút này, khi cả nghìn năm đã trôi qua thì việc xác định về ông vẫn còn nhiều tranh cãi, và nỗi oan khuất của ông còn hiển hiện từng ngày qua chính pho tượng bằng đá nguyên khối, tạc hình một con rồng lớn đang nằm co quắp, đặt trong miếu thờ ngay hông đền.
Hà Nội - Bắc Ninh tháng 11-2008
(Kết)
© 2008 www.danchimviet.com
**Rất có thể Tào Mạt qua nghiên cứu lịch sử xưa để lại nên đã theo lời bàn của sử gia Ngô Sĩ Liên mà đưa tên thái sư vào diện phản nghịch trong vở chèo của mình
Rỉ Tai
Các loạt bài/Article Series
This article is part 3 of a 3 part series. Other articles in this series are shown below:
-
Trạng nguyên Lê Văn Thịnh - Oan khiên đến tận bao giờ? (3)
1 Response to "Trạng nguyên Lê Văn Thịnh - Oan khiên đến tận bao giờ? (3)" 
|
said this on 11 Nov 2008 12:28:36 PM EST
Những văn bản lịch sử dù được ghi lại dưới bất cứ hình thức nào, nó cũng luôn chỉ là một nưả sự thật, khó mà quyết đoán cho đó là một sự thật hoàn toàn.
Lịch sử lúc nào cũng chẳng thiếu những nghi án dưới mắt các nhà nghiên cứu. Không thể cả tin những gì được gọi là lịch sử, mà hãy nghiên cứu đối thoại với lịch sử. Nghiên cứu đối thoại là tìm hiểu mặt sau mặt trái cuả lịch sử, qua chân dung cuả người viết sử dưới ngọn bút đương đại. Ngọn bút long hay ngọn bút sắt, mực màu đen hay mực màu đỏ thẳm; dòng lịch sử sẽ hiện lên dưới ngọn bút và toả ra muôn màu sắc cuả mực. Nên người ái quốc đôi khi lại là kẻ phản quốc, và ngược lại kẻ phản quốc trở thành người ái quốc. Sự xung đột nhị nguyên còn hổn man mông muội truân chuyên để tìm trở về thái cực. Không có lịch sử nào chân thật hơn con tim thường hằng bất biến. Trong sáng như gương, soi tỏ mọi hình ảnh khá trung thực, nhưng hoàn toàn không lưu lại một dấu vết, sau khi đến và đi. Con tim thường hằng bất biến đó là con tim Việt Nam. Không có lịch sử nào trung thực hơn con tim Việt Nam vĩnh hằng. Ca rằng: Việt Nam trong máu tim ta, Muôn thu ngàn kiếp mãi là Việt Nam. Xin trân trọng. |



Author/Admin)