II- Những nghi án lịch sử
11 năm trong cương vị thái sư - chuyên truyền đạt những điều hay lẽ phải những kiến thức uyên thâm sâu sắc cho con cái các bậc quân vương trong triều, trong sự tin cậy tuyệt đối của vua Lý nhân Tông (1072 - 1127). Không ngờ Tháng 3 năm 1096, ông gặp nạn, bị ghép vào tội mưu phản giết vua, và bị đi đầy ở vùng Thao Giang (nay là vùng Tam Thanh, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ), một vùng núi độc, rừng thiêng mà đến tận bây giờ, người dân vẫn còn truyền khẩu câu ca:
Sông Thao nước đục, bờ nông,
Ai lên tới đó thì không đường về
Từ địa vị của người khai quốc công thần, cầm cân nẩy mực, thân cận với triều đình trở thành kẻ mưu phản, đại ác, lẽ ra ông bị tru di tam tộc như lịch sử sau này đã lặp lại với vụ án Lệ chi viên của quan đại thần Nguyễn Trãi. Chỉ nhờ công lao của ông với lịch sử nước nhà, cũng là bởi triều đại ông sống, thiên về đạo phật, kiêng sát sinh (cả nước có tới 50% số dân là sư sãi trong chùa), nên ông chỉ bị án di lý, đi đầy trăm dặm, không đến nỗi phải mất mạng mình cùng mạng con cháu ba đời...
Ở độ tuổi gần 60 mà phải đầy lên mạn ngược, gió lam, chướng khí, trong cảnh oan khiên, không biết ông sống thêm được bao năm, song khi mất, ông được cận thần, người ăn kẻ ở đưa về chôn cất ở quê nhà. Nơi đó là thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay, ngay trong khu vực chùa Bút Tháp.
Hiện tại sau gần 1003 năm, vụ án hồ dâm đàm vẫn còn là một nghi án lịch sử, mà phần oan khiên vẫn nghiêng về phía ông.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tháng 3-1096 nhà vua ngự trên thuyền nhỏ ra hồ Dâm Đàm (hồ Tây ngày nay) để xem ngư dân đánh cá. Đang yên lành, chợt có mây mù nổi lên, giữa đám mây mù, bất thần nhà vua và các cận thần nghe thấy tiếng mái chèo rào rào và một chiếc thuyền nhỏ lao vun vút đến. Hoảng sợ, nhà vua liền lấy giáo ném vào chỗ ấy. Ngay lập tức mây mù tan, vua thấy trong thuyền là con hổ vằn vện rõ to đang nhe răng giơ vuốt gầm gừ. Giữa lúc mọi người tái mặt sợ hãi, lắp bắp "Việc nguy rồi!", thì Mạc Thận - vốn quen với việc sông nước và cảnh quan tây hồ trong những lần đánh bắt cá nên đầy bình tĩnh - quăng lưới trùm lên mình hổ. Sau khi biết hổ bị sa bẫy, mọi người bình tâm nhìn lại và nhận ra con hổ chính là Thái sư Lê Văn Thịnh.
Từ sợ thành giận, nhà vua ra lệnh cho các quan đại thần lấy giây sắt trói nghiến lại và giải về triều, chịu cùm và giam cho tới chết. Sau đó, nghĩ tới công lao cũ của vị thái sư - một chức bậc quan trọng nhất nhì trong triều đình bấy giờ, nên đã tha tội chết, chỉ đày lên miền nước độc rừng thiêng thuộc thượng lưu sông Nhị.
Sau nghìn năm nhìn lại, dưới ánh sáng khoa học hiện đại, tác giả nghiêng về phía trạng nguyên Lê Văn Thịnh bị oan nhiều hơn. Có thể vì là người tinh thông lỗi lạc, lại quan hệ với vua và các quần thần như người ăn kẻ ở trong nhà nên khi thấy vị vua trẻ ra hồ xem ngư dân đánh cá (khi ấy vua Lý Nhân Tông mới bước sang tuổi 45) nên Lê Văn Thịnh nẩy ra ý định nghịch ngợm, trêu trọc bằng cách khoác tấm da hổ lên người rồi ngồi rình ở ven bờ trong đám lau lách rậm rạp (cách đây cả nghìn năm thì Hồ Tây còn um tùm, rậm rạp, lắm chim muông, thú dữ lắm). Khi thấy thuyền của vua tiến ra giữa hồ, liền lợi dụng lúc sương mù dày đặc nổi lên, chèo thuyền bơi ra, doạ vua một phen chơi, không ngờ nhà vua vì lo sợ cuống cuồng mà làm lệch thuyền, khiến thuyền bị lật úp, rơi tõm xuống hồ, cả tấm thân nghìn vàng ướt lướt thướt, run lẩy bẩy. Thế là từ đùa hoá thật, hoá mù ra mưa, Lê văn Thịnh bị khép tội mưu phản, giết vua để cướp ngôi.
Cũng có thể vì nhà vua ham vui tửu sắc, hay có vấn đề về sức khoẻ, ngồi trong cung cấm lâu ngày nên khi bơi ra giữa hồ gặp cảm mạo, giữa sương mù bảng lảng như khói như mây, nên trông gà hoá cuốc, trông vị thái sư lại thành hổ vằn vện nên đã kết tội oan sai cho cận thần của mình.
Nhiều giả thuyết nghiêng về việc Lê Văn Thịnh - với tư cách tể tướng, Thái sư nên đã thực hiện cải cách về chế độ kinh tế - xã hội, quân sự theo tân pháp của nhà Tống do Vương An Thạch đứng đầu. Điều đáng tiếc, các cải cách này được lợi cho muôn dân nhưng lại đụng vào lợi ích thiết thân của các quan lại trong triều nên đã thất bại thảm hại, bản thân Vương An Thạch bị đuổi về quê đuổi gà, làm vườn cho vợ. Thời đó, các thể chế Đại Việt đều mô phỏng theo thể chế của nhà Tống nên khi Vương An Thạch bị thất sủng thì Lê văn Thịnh cũng phải chịu kết cục tương tự.
Còn một giả thuyết khác, vẫn thường xảy ra với các triều đại từ xưa đến nay là trạng nguyên Lê văn Thịnh do quá nghiêm khắc trong việc dạy bảo các cậu ấm cô chiêu của hoàng tộc theo đúng lễ nghĩa phép tắc của triều đình nên bị ganh ghét, đàm tiếu, đố kỵ rồi bị các đại thần vu oan giá hoạ mà phải chịu án lưu đầy cho khuất mắt họ?
Lý giải về việc này, sử sách xưa chép lại: "Đương thời, khi còn là tể tướng, Lê Văn Thịnh có một người hầu cận, nguyên quán ở Việt Nam, nhưng theo học thầy tàu tận Trung Quốc, biết làm phép thả hơi mù và biến thành hổ báo để doạ nạt mọi người cầu lợi, cầu vinh, ra oai với thiên hạ. Do yêu mến vị trạng nguyên đầu tiên của nước nhà mà truyền đạt lại cho thầy và Lê Văn Thịnh đã dày công luyện rèn để học được phép thuật ấy rồi lập tâm giết vua để cướp ngôi. Khi kế hoạch bị bại lộ đã bị khép tội, đánh tuột mọi chức tước, lột áo mũ ô sa và chịu án lưu đày".
Dù thế nào thì mọi sự lý giải về trạng nguyên Lê văn Thịnh vẫn chỉ là phỏng đoán, song các giả thiết nghiêng về việc ông bị hàm oan là có thật
Chắc hẳn trước khi chết ông đã để lại lời trăn trối cho con cháu và họ hàng thân thích, vì thế, vào thời hậu Lê, khi ông đã được giải oan, cháu con ông mới cho đúc một pho tượng bằng đá nguyên khối tạc hình một con rắn lớn (dạng rồng) trong tư thế "miệng cắn thân, chân xé mình" hòng toát lên nỗi đau đớn, phẫn uất như vậy. Theo quan điểm của người dân xã Đông Cứu, pho tượng chính là hiện thân của Lê Văn Thịnh, trạng khai khoa của nền quốc học Việt Nam, người đã chịu hàm oan trong vụ án hồ Dâm Đàm từ thời nhà Lý.
Việc phát hiện ra pho tượng và lập miếu thờ hoàn toàn ngẫu nhiên và thật lắm huyền thoại. Số là vào khoảng thập niên 90, những lũ trẻ làng vốn lăn lê bò xoài với những trò chơi bắn bi, nghịch đất, bỗng phát hiện ra giữa đám đất đá gần đường có một phiến đá vảy rồng. Lúc đầu phiến đá chỉ là một chấm tròn nhỏ bằng đồng xu. Do tò mò, lũ trẻ lấy tay xoa hết lớp đất bên trên làm phiến đá lộ dần ra bằng bàn tay rồi bằng cả miệng chậu, cái mâm... Càng xoa rộng lớp đất phía trên, phiến đá vẩy rồng càng hiện lên rõ nét, trở thành sự quan tâm chú ý cho cả làng. Lập tức các bậc bô lão trong làng đem chuyện trình lên ủy ban nhân dân xã đông Cứu, uỷ ban nhân dân huyện Gia Bình, rồi uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Khi chuyên viên, cán bộ của sở văn hoá thông tin tận trung ương tìm về, lớp đất đã được đào sâu xuống cả mét để lộ ra toàn bộ thân tượng kỳ vĩ, uất kết. Sợ để tượng ở nguyên vị trí cũ, ngay dưới chân đồi, đông người qua lại sẽ bị thất thố hoặc bị vùi lấp như cũ, nên sau nhiều ngày bàn thảo, dân làng đã quyết định hô thần để rời tượng. Trong quá trình khai quật, vì nôn nóng hay do sơ xuất mà nửa thân sau của tượng bị gãy nứt, đứt đôi, vì thế khi tượng đã được đưa lên đồi cao và xây miếu thờ, 5 trong số vài chục người khiêng đã bị thiệt mạng, tất cả đều là người của thôn Bảo Pháp.
(Còn tiếp)
© 2008 www.danchimviet.com