Trời đã sáng, Tín giật mình nhìn đồng hồ: đã 7h30. Anh xuống nhà đi tắm và qua uống trà với ba như mọi ngày. Ba gầy và già đi, trầm tư và buồn bã. Chị Thi vào:

- Mày ăn cơm rồi chở chị đi chợ nghe.

Chợ Cồn những ngày cuối tháng 3/1975 thật là lạ - lạ đến mức kỳ quái. Những thứ cần mua thì hiếm, dầu ăn, đường, bột ngọt giá cắt cổ. Có rất nhiều người bày bán những thứ không ai mua: vải vóc, áo quần và chén đĩa - tất cả đều là hàng ngoại Mỹ, Nhật, Đài Loan. Họ bán rẻ như cho. Anh nhìn thấy một người nông dân khệ nệ ôm một chồng chén dĩa Nhật mới toanh và rất đẹp. Ông ta mua với giá chỉ bằng một tô phở bò. Tín thấy chán nản quá! Anh mua 10 lon Coca - Cola vì mấy hôm nay anh chưa hề được uống. Chị Thi rủa anh:

- Thằng quỉ, mày mua cái đó làm chi?

Anh trả lời tỉnh bơ:

- Em uống chứ làm gì. Chị nhìn lắc đầu với một nụ cười:

- Tình thế này mà mày vẫn còn phong lưu.

Trên đường về, Tín thấy sự hỗn loạn đã lên tới mức không còn kiểm soát được nữa. Máy bay gầm rú trên đầu, tiếp tục di tản. Trên đường những chiếc xe quân đội bị bỏ lại la liệt, án ngữ những lối đi vốn đã chật hẹp. Có những người lính đào ngũ đi lang thang, quấy nhiễu, họ uống rượu say rồi đánh nhau. Có lẽ vì buồn chán và tuyệt vọng. Họ từ những mặt trận khác đổ về đây, không còn quân kỉ, không còn chỉ huy, họ tự do trong sự tuyệt vọng. Anh dừng lại lắng nghe hai sĩ quan đang tranh luận với nhau để biết họ nghĩ gì và tình hình xấu đến mức độ nào. Một sĩ quan có vẻ kiên nghị, bừng bừng nhiệt huyết :

- Phải đánh một trận chứ, để coi “mèo nào thắng mỉu nào”.

Người kia có vẻ buồn rầu, ủ rũ hơn:

- Cũng chẳng giải quyết được điều gì. Mỹ đã bỏ rơi chúng ta, đánh nhau chỉ dẫn đến chết chóc và tàn phá. Chúng ta không thể thắng khi chúng ta không còn đồng minh và đối phương thì thế lực hơn hẳn chúng ta.

Dù thế nào, anh cũng mến phục hai con người đó.

Về đến nhà, anh thấy một gia đình, họ có vẻ là những nông dân, đang tá túc trước hiên. Anh không ngạc nhiên: chiến tranh mà. Họ có năm người: người chồng to lớn lực lưỡng, người vợ bệnh hoạn nằm trên chiếc chiếu còn rất mới nhưng bị rách toạc, ba người con: người con trai khoảng 20 tuổi và hai cô gái. Anh chào họ một cách lễ độ như người đã quen, anh không muốn làm họ sợ và áy náy vì thân phận của mình. Người đàn ông đáp lời:

- Chào cô cậu.

Qua giọng nói anh nhận ra họ là người Huế. Tín nhớ đến ba Thương. Anh hỏi với hi vọng mong manh:

- Chú có biết bác sĩ Hoàng, ở khoa ngoại bệnh viện Huế không, khoảng 50 tuổi.

Ông ta lắc đầu:

- Chúng tôi là nông dân làm sao biết mấy ổng được. Tôi ở Mỹ Chánh chạy vào đây. Tín hỏi ông:

- Tình hình Huế thế nào?

Ông ngồi tựa lưng vào tường, tay vòng ôm gối:

- Mất tới nơi rồi.

Tín chào ông ta và nói thêm:

- Mọi người cần gì thì nói, nếu được cháu sẽ cố giúp.

Đến trưa, hai cha con ông mang về hai bao gạo 50 kg và một bao bia BGI… Ông vào gặp Tín vẻ ngại ngùng:

- Cháu mua giúp chú hai bao gạo - và ông chỉ bao bia (những chai bia BGI đựng trong bao sọc xanh) - tôi cần tiền mua thuốc cho ba nhà tôi. Bệnh viện không có ai, gần như đóng cửa.

Anh nhớ lại lời hứa của mình khi sáng. Anh đồng ý và hỏi ông:

- Chú muốn bán bao nhiêu. Ông ta mừng rỡ nói:

- Thế thì tốt quá. Cháu cho hai bao gạo một ngàn đồng còn bia thì tuỳ đưa bao nhiêu thì đưa. Anh tưởng mình nghe nhầm. Mới hôm qua chị Thi mua 300đ/1ang gạo. Anh hỏi lại và được ông giải thích:

- Gạo này tôi lấy ở kho dự trữ - kho an toàn đó.

Ông nói và cười một cách xấu hổ. Tín à lên một tiếng và trả tiền. Tất cả 1500 đồng. Anh mang gạo và bia vào nhà với sự giúp đỡ của hai cha con người nông dân. Khi họ đã ra ngoài, cô hai, anh ba la Tín om sòm:

- Mi mua bia làm chi, thằng phá nhà. Trên bom dưới đạn sung sướng lắm hả. Anh chỉ cười tháo bia ra, mang hai mươi chai vào tủ lạnh.

Buổi trưa cả nhà ăn cơm. Đó là buổi trưa ngày 24/3/1975. Anh Nhân và anh Khanh (anh Khanh là rể của cô hai - chồng chị Thi, còn anh Nhân là rể của cô bốn  tuy lớn hơn Tín mười tuổi nhưng trong gia đình vẫn là vai em) từ Tam Kỳ ra. Anh Khanh là giáo viên, anh Nhân là sĩ quan cảnh sát dã chiến. Anh Khanh rất vui khi gặp vợ con,anh nói rất nhiều, có cả những điều không cần thiết. Anh Nhân thì buồn rầu vì lo lắng vợ con còn ở lại Tam Kỳ không di tản được. Anh lặng lẽ ngồi xuống ăn cơm. Tín chạy vào lấy hết số bia trong tủ lạnh, cho thêm vào đó hai mươi chai. Anh Nhân vẫn lặng lẽ uống bia, từ khi bước chân vào nhà anh chỉ nói mỗi một câu: ”Tam Kỳ thất thủ rồi”. Còn anh Khanh thì nói liên miên hết chuyện này sang chuyện khác, toàn những chuyện rùng rợn. Trong những chuyện kinh hoàng đó, chuyện nào anh cũng là trung tâm hoặc đóng một vai trò quan trọng. Từ trước đến nay anh vẫn vậy, cho nên khó xác định được sự khả tín trong những câu chuyện của anh. Sợ anh đi quá trớn trong một hoàn cảnh mà ai cũng không vui này chị Thi vợ anh ngăn lại:

- Thôi! Anh bớt ba hoa đi cho và cũng uống ít thôi. Anh cụt hứng quay sang Tín.

- Bia ở đâu đây?

- Em mua! Anh khanh vỗ vai Tín:

- Anh thích cái tính hào hoa của cậu, ở đâu hoàn cảnh nào cũng vậy. Hằng gì các cô gái mê cậu là đúng.

Tín cười, không phải vì lời khen của anh mà vì thái độ bình thản của anh. Anh vui vẻ như một cậu bé, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nếu có ai chỉ trích, anh vẫn thản nhiên và quên ngay.

- Còn nhiều lắm, anh uống đi.

Anh Nhân ngăn lại:

- Thôi đừng uống nữa, có rất nhiều người di tản ra từ Tam Kỳ, mình chia nhau đi dạo coi thử có ai quen để hỏi thăm tin tức của gia đình.

Tín đồng ý, anh cũng có chút hi vọng mong manh, biết đâu Thương và gia đình ra đây thì sao. Anh thầm cầu xin Thượng đế thương xót cho những người bất hạnh. Anh chạy xe vòng vòng, hết đường này qua đường khác, chậm rãi để quan sát từng người trên đường. Rất dễ phân biệt người di tản và dân địa phương: người di tản thì bơ phờ, áo quần xộc xệch dơ bẩn (vì lo lắng và sợ hãi). Anh dừng lại khi thấy những người tị nạn nghỉ tạm dưới những hàng cây ven đường hay bất cứ chỗ nào có thể: đó là hiên của một gia đình đã ra đi, là khoảng sân rộng của nhà ai đó, và nhiều nhất là ở những bến xe, ở trại tiếp cư.

Tại trại tiếp cư, anh thấy rất nhiều người, có người thì nằm trên chiếu trải trên đất, đa số ngồi bó gối, trông họ thiểu não, buồn chán, không còn sinh khí. Các cô gái nằm ngủ vì mỏi mệt, họ không buồn quan tâm đến có đôi mắt xoi mói nào nhìn trộm không. Tín đi lẫn vào trong đám người lố nhố. Anh nhìn xung quanh, rồi nhìn xa nhìn gần, nhìn trước nhìn sau. Có rất nhiều người như anh - họ bị lạc mất người thân, họ cũng đang dáo dát tìm, có người lạc mẹ, có người lạc con. Tiếng khóc, tiếng rên rĩ  xé lòng. Anh không dám nhìn cái cảnh đau buồn đó, nó quá tàn nhẫn, quá phi lý. Đôi lúc tim anh rộn lên niềm vui sướng. Anh cuống cuồng chạy đến vì một mái tóc, một dáng đi giống quá, nhưng rồi lại thất vọng khi đứng trước một cô gái xa lạ. Cô gái và bà mẹ nhìn anh thông cảm. Anh lại đi từ nơi này sang nơi khác, buồn rầu, vô vọng.