Giới hạn của Tự Do trong xã hội Dân Chủ
Nói đến giới hạn của Tự Do thì nó cũng thay đổi tùy theo xã hội Dân Chủ được đề cập đến. Nếu bắt đầu từ một xã hội Dân Chủ nào đó thì lại vi phạm nguyên tắc suy luận của Descartes và Socrates. Làm sao để biết được xã hội nào có một nền Dân Chủ chân chính nhất mà tất cả đều công nhận để bắt đầu? Nền Dân Chủ chính thống nhất đã được Socrates chứng minh là ngu xuẩn nhất bằng cả tính mạng của mình. Thôi thì bắt đầu từ số không và nghĩ xem giới hạn Tự Do lý tưởng nhất đối với tôi phải là như thế nào cho một xã hội vừa Dân Chủ vừa vững bền.
Quyền Tự Do nói chung là muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn tin gì thì tin, muốn viết gì thì viết. Trong một xã hội Dân Chủ, ai cũng được huởng các quyền tự do như nhau. Để cùng nhau tận hưởng, giới hạn Tự Do phải được đặt ở mức tối thiểu, vì nếu đặt ở mức tối đa, thì quẳng luôn hai chữ Tự Do cho xong. Phỏng theo luật bù trù thì ai cũng có thể nói, viết, làm, và tin những điều tôi nói, viết, làm, và tin. Đó là công bằng xã hội. Nếu tôi không muốn ai nói, viết, làm, tin gì có hại đến đời sống của tôi, thì ngược lại tôi không cũng được nói, viết, làm, và tin những gì có hại cho người khác. Để có được một xã hội vững bền, giới hạn tự do ở mức tối thiểu nhất là “không làm những gì mình không muốn người ta làm đối với mình.” Nếu có thể cùng nhau thiết lập một danh sách như thế mà ghép nó vào khuôn khổ thì xong chuyện. Nhưng thực tế không phải thế. Cần phải đào sâu thêm nữa để gạt bỏ những được nêu ra từ nỗi sợ hãi vô lý của mình.
Tôi có bao giờ nghĩ tôi sẽ chết hoặc quốc gia sẽ lâm nguy vì bị người ta chửi không? Nếu tôi trả lời rằng có, thì lý do tại sao? Nhiều người sẽ nghe theo kẻ chửi mà giết hại tôi sao? Vậy kẻ chửi phải chửi rất có lý hoặc là những người nghe theo KIẾN THỨC phải rất nông cạn, có phải không? Nếu kẻ chửi tôi có lý đến thế, thì ngày chết của tôi đã gần kề, tôi có nên xét lại chính mình và sửa đổi trước khi quá muộn không? Nếu hắn chửi vô lý, và tôi vẫn sợ những người chung quanh mình vì hiểu biết nông cạn nghe theo, thì tôi có nên biện minh và chứng minh rằng mình vô tội không? Hay là tôi nghĩ rằng bịt mồm kẻ chửi là cách hay nhất? Cho dù tôi không có khái niệm gì về quyền Tự Do Ngôn Luận, tôi vẫn biết là thế giới có rất nhiều người không cùng quan điểm với tôi. Con số đó bao nhiêu so với những người chung quanh tôi? Đến một lúc nào đó tôi sẽ nghĩ rằng bịt hết mồm những kẻ chửi là một chuyện bất khả thi. Khi đó, tôi có nảy sinh ý muốn bịt tai những kẻ chung quanh tôi để họ khỏi nghe hay không? Kiến Thức của họ nếu không nông cạn, thì sự lo sợ của tôi có thuyên giảm hay không cho dù tôi bịt được tai họ? Và nếu Kiến Thức của họ thật nông cạn, bịt tai họ lại, họ sẽ mãi là những người nông cạn, tôi sẽ mãi mãi tìm cách bịt tai họ cho đến ngày tàn, đến lúc tôi chết đi phải tìm người tiếp tục bịt tai họ lại? Họ sẽ làm gì nếu họ bắt đầu nghe được?
Tôi nghĩ rằng câu trả lời đầu tiên phải là “không”. Nếu không tôi là người sống trong sợ hãi, bấp bênh, lo lắng chỉ vì một lời nói. Đối với những gì người ta viết hoặc người ta tin, những câu hỏi của tôi cũng như thế thôi. Nếu tôi trả lời rằng có, thì tôi là người sống trong sợ hãi, bấp bênh, vì một bài viết, vì một niềm tin của kẻ khác. Sự sợ hãi của tôi rất vô lý, nhưng đối với tôi sẽ rất thật. Vì một khi tôi phản ứng theo sự sợ hãi vô lý của mình, tôi sẽ sống mãi trong sự sợ hãi đó. Và xã hội của tôi chỉ có một lối thoát, đó là phải liên tục tranh giành và bấu vếu địa vị độc tôn để có thể nói, tin, viết, và làm những gì mình thích. Còn những người khác thì ráng nhịn đến khi tôi yếu thế, họ sẽ lấn lên để rồi tôi sẽ phải nhẫn nhục phụ trọng chờ thời. Cũng rất khó nói khi kẻ bất đồng chính kiến với tôi nắm quyền, họ sẽ làm gì đối với tôi. Sống với những người kiến thức nông cạn chung quanh mình là thế đó. Nếu bịt được tai họ và tự mình vo ve những lời đường mật, thì họ là những chú cừu ngoan ngoãn phục vụ cho tôi. Nhưng nếu tôi thất bại trong việc bưng bít thông tin, thì họ sẽ là những quả bom được cài đặt chờ người khác đến châm ngòi vì kiến thức họ nông cạn bởi thông tin bị bưng bít, chứ nào phải họ khờ dại. Và trước việc toàn cầu hóa thông tin, kinh tế. Tôi có được may mắn để thành công không?
Tôi nghĩ đây chính là lý do Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Tín Ngưỡng, Tự Do Báo Chí không phải là một sự lo lắng đối với xã hội Dân Chủ ở Hoa Kỳ và nhiều nước tân tiến khác như Gia Nã Đại, Anh Quốc, Pháp Quốc. Chính quyền bớt nhiều nỗi lo và người dân có thêm cơ hội trao giồi Kiến Thức của mình. Kiến Thức người dân càng được nâng cao, xã hội càng thêm bền vững và tiến bộ. Lo sợ vu vơ dẫn đến một xã hội sống trong hoang mang, khủng hoảng.
Nói, viết, và tin nói chung không ảnh hưởng trực tiếp đến an nguy cá nhân và an ninh quốc gia. Những trường hợp cá biệt sẽ được xử lý theo từng sự việc dựa vào bằng chứng và lý lẽ rõ ràng (không phải kết tội vu vơ) chứng minh được rằng những sự ảnh hưỡng gián tiếp thật sự đã và đang gây hại đến cá nhân và an nguy quốc gia. Nhưng làm lại là một chuyện hoàn toàn khác. Cái khuôn khổ mà các Quyền Tự Do nên được đặt vào là một bộ luật rõ ràng được chấp hành nghiêm minh nhằm hạn chế những hành động thực tế gây hại đến đời sống người khác và an nguy quốc gia. Nếu một cá nhân nào nghĩ mình có thể làm điều gì đó gây hại đến người khác nhưng không ai có thể làm gì mình, Quyền Tự Do của họ nên bị tước đoạt. Đó là khải niệm riêng của tôi về Tự Do Nhân Quyền và giới hạn của nó.
Triết lý Socrates và Kiến Thức trong lĩnh vực Chính Trị
The Republic (Cộng Hòa) là một mẫu đối thoại theo triết lý Socrates được viết lại bởi Plato vào năm 360 trước Công Nguyên. Trong đó, triết gia Socrates được dời đến trước Cephalus, Glaucon, và Adeimantus để tranh luận về những luận đề chính trị cho một thành phố lý tưởng [utopia] với tên gọi Công Bình [Just City] (được tạo dựng trong lý thuyết) và những định nghĩa sẵn có của hai từ Công Lý. Một lần nữa, Socrates lại chứng minh những định nghĩa được dặt ra hoàn toàn vô giá trị. Socrates cũng cho rằng lòng ham muốn không phải là động lực khiến con người làm điều bất chính, mà là sự bất lực, vì họ không có khả năng đạt được nguyện vọng của mình một cách chân chính. Theo ông, Công Lý là những gì có thể duy trì và hoàn thiện ba đức tính cốt yếu: Chừng Mực, Hiểu Biết, và Can Đảm. Công cuộc duy trì và hoàn thiện này được thực hiện bởi những người thích hợp nhất để làm những việc cần phải làm. Quan niệm này dẫn đến ba thành phần thích hợp nhất: kẻ cai trị (thiết lập luật lệ công minh), người lính (chấp hành mệnh lệnh đưa ra), và người thực hiện (tuân thủ những mệnh lệnh). Phải chăng đây là ý tưởng phôi thai của hệ thống Tam Quyền Phân Lập (Separation of Power), đặc điểm của một số quốc gia Dân Chủ vững mạnh như Úc và Hoa Kỳ?
Socrates cũng cho rằng trong trường hợp lý tưởng nhất, kẻ cai trị sẽ là những nhà triết học, nhà thông thái lỗi lạc vì con người thường có khuynh hướng đi đến sai lầm, bất kể trong xã hội chính trị nào. Theo đó, Kiến Thức (và chỉ Kiến Thức mà thôi, bất kể Dân Chủ hay Cộng Sản) là yếu tố chính để có được một xã hội hoàn mỹ vững bền. Nhưng thử hỏi, các nhà thông thái lỗi lạc có bao giờ phí tổn thời gian quý báu của mình với ý muốn thống trị kẻ khác? Có mấy lãnh tụ chính trị trong lịch sử cổ đại và cận đại đáng để gọi là một triết gia? Và trong những kẻ nắm quyền lực chính trị xưa nay, có mấy người là truyền nhân của một triết gia nào đó?
Nếu một thủ lĩnh chính trị là truyền nhân thấu hiểu triết lý chân truyền của một triết gia, sự thành đạt sẽ ra sao? Nhìn vào những chiến tích phi thường và chính sách hòa hợp của Alexandros Đại Đế, tôi phải công nhận rằng: “rất hữu hiệu!”. Nhằm truy vấn triết lý Socrates trong sự thành công của Alexandros Đại Đế, tôi nghĩ rằng cách tốt nhất là bắt đầu từ Plato. Những gì chúng ta có thể biết được về Socrates gần như hoàn toàn từ những mẫu đối thoại do Plato viết lại, nên việc cho rằng Plato đã có được chân truyền của Socrates rất hợp lý vì chúng ta không thể biết thêm được gì về Socrates. Trong khi đó thì tên tuổi triết gia cổ đại Hy Lạp Aristotle, thầy của Alexandros Đại Đế, đã được gắn liền với tên tuổi của Socrates và Plato - thầy của Aristotle – trong triết học cổ đại Tây Phương. Aristotle là người đầu tiên sáng lập một hệ thống triết học Tây Phương toàn diện bao gồm đạo đức, mỹ học, lôgic, khoa học, chính trị, và siêu hình học. Đối với Aristotle, Plato là một người thầy “rất thân yêu” của ông.
Vua Phillip của Macedona đã mời Aristotle về dạy học cho con ông, Alexandros. Và trong vài năm tiếp nối, Aristotle đã nhận trách nhiệm dạy dỗ Alexandros. Ông đã huấn luyện Alexandros về mọi mặt như thuật hùng biện và văn học. Đồng thời, ông cũng gợi lên sở thích của Alexandros về khoa học, y học, và triết học. Ở tuổi 20, Alxandros chấp chính sau khi vua Phillip bị ám sát, đánh bại các thế lực chống đối ở các thành phố lận cận, và bắt đầu công cuộc chinh phạt Ba Tư, xâm chiếm Ấn Độ và chinh phục hầu như toàn bộ thế giới được biết đến vào thời đó. Tuy được liệt chung vào danh sách những nhà chiến lược quân sự vĩ đại trong lịch sử (như Thành Cát Tư Hãn, Napoléon, Julius Caesar, v.v… ) sự thông thái của Alexander vượt trội hơn những nhân vật khác ở chính sách hòa hợp của ông: Ông đưa người ngoại tộc vào hàng ngũ binh lực của mình và khuyến khích binh lính lập gia đình với người dân địa phương ở những vùng đất chinh phục được. Chính bản thân ông cũng đã ứng dụng các tập tục khác và lập gia đình với hai công chúa từ các nước khác. Ngay trước khi Alexandros Đại Đế qua đời, chính người Hy Lạp cũng đã xem ông là vong bản và không công nhận ông còn là ngưòi Hy Lạp nữa. Nhưng đối với tôi, những gì Alexandors đã làm không có tính chất vong bản, mà là một sự thông thái mà người ít ai hiểu được. Sự thông thái đã giúp cho một nhà quân sự tiến gần đến mục đích chinh phục thế giới: Lòng nhân ái và sự thiếu vắng của “tinh thần dân tộc.”