- Trang Chủ
- Quê Hương Mến Yêu
- Hà Nội - Thành phố của những ngõ ngách
Hà Nội - Thành phố của những ngõ ngách
- Tác Giả Phạm Thị Thu Hiền
- Đăng ngày 30.10.08
- Quê Hương Mến Yêu
Từ tiểu Bang Victoria (Úc) chị họ tôi bay về Hà Nội sau 30 năm xa cách, và lần gặp lại này, chị lại cuốn tôi vào những kỷ niệm xưa, chị bảo : "Đi xa bao năm rồi Hà Nội trong chị vẫn là "mái ngói lô xô" trong tranh của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái, là "sông hồng tiếng hát 4000 năm" của nhà thơ Chế Lan Viên, là những mảnh đời lam lũ trong phóng sự của nhà văn Vũ Trọng Phụng, là những con người kiên trì "sống mãi với thủ đô" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, là cách sống, nghệ thuật ẩm thực của người Thủ đô trong tác phẩm của Thạch Lam, Vũ Bằng, là hiện thực "lửa cháy ngút trời", "người ra đi đầu không ngoảnh lại" của nhà thơ Nguyễn Đình Thi, là nỗi niềm "tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân" của nhạc sĩ Phú Quang, là cuộc sống bình dị với "quán cóc liêu xiêu một câu thơ" vốn quen thuộc của bao nhiêu cư dân Hà Nội".
Thành thực tôi không ngờ chất Hà Nội trong chị còn cụ thể và sống động đến thế, cụ thể và sống động như những con người vẫn hàng ngày hàng giờ đang sống trong lòng Hà Nội vậy.
Chia xẻ với chị nỗi nhớ Hà Nội, tôi chỉ còn biết lẽo đẽo đi theo chị tìm lại các ngõ phố một thời để ôn lại những kỷ niệm xưa. Quả là các ngõ phố đã làm nên diện mạo của người Hà Nội mà nhà văn Nguyễn Tuân - bậc thầy về ngôn ngữ của làng văn Việt Nam từng ví "Hà Nội là thành phố của những ngõ ngách". Theo ông, Hà Nội có vài chục con phố và chừng ấy ngõ, nghĩa là phố nhiều như ngõ, song cái thời của ông, Hà Nội chưa "trượt chân quá đà" và bung ra khủng khiếp như hiện tại. Thời ông sống, một con phố đã có tới vài ngõ, thậm chí cả chục ngõ. Ngõ chằng chịt, ngõ đan xen, rồi từ ngõ mẹ đẻ ra ngõ con mà nay người Hà Nội gọi là ngách, tất nhiên bây giờ còn cả hẻm nữa. Nghiã là "Tứ đại đồng đường" mà thời ông chỉ "nhị đại" thậm chí "tam đại đồng đường" là cùng.
Chính vì lắm ngõ, nhiều ngách mà người sống trong các ngõ ngách nhiều hơn trên mặt đường, mặt phố, và thế mới đẻ ra thành mặt tiền, mặt ngõ, giá chênh nhau tới cả chục lần. Tuy vậy trước khi lột xác như hôm nay, Hà Nội bao đời là kinh thành của Đại Việt, vẫn mang dáng dấp của một cái làng to. Ngay cạnh một số khách sạn, nhà nghỉ bây giờ như khách sạn Bảo Sơn, khách sạn Phương Nam, khách sạn đại Dương, nhà hàng Thế kỷ vẫn còn tên gọi là làng Khương Thượng, làng Kim liên, làng Nhân Chính v.v... Còn nguyên cả đường đất, thửa ruộng, ao hồ, hợp tác xã Nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp v.v…
Nhờ công cuộc "hiện đại hoá, công nghiệp hoá" mà ngõ thành phố, ngách thành ngõ, thậm chí cả hẻm cũng lên đời do mở đường lấy đất xây dựng các công trình trọng điểm, nhà văn hoá, khu vui chơi, siêu thị v.v… song nhà cửa vẫn lổn nhổn cao thấp to nhỏ khác nhau vì nhà giàu, nghèo, trình độ phân hoá thật khủng khiếp.
Phố Khâm Thiên, Nguyễn Thái Học, Đội Cấn, Nguyễn Lương Bằng… rất nhiều ngõ, mỗi ngõ là một thế giới riêng, có ngõ như ngõ Văn Chương là cả một phường. Ngõ đặc biệt nhất - có lẽ là ngõ Cấm Chỉ - truyền thuyết của một thời xa xưa nay còn ghi lại dấu ấn bởi tên gọi của ngõ. Chuyện kể rằng chú bé Chổm ngày xưa là một cậu bé nghèo xơ nghèo xác song đi đến đâu cũng có quầng sáng to trên đầu, vốn tính háu ăn lại có biệt tài lạ lùng là sáng ra hễ sà vào hàng nào thì hàng đó lập tức bán đắt như tôm tươi, thế là các bà các cô bán hàng thịt, gạo bánh bún các kiểu cứ thi nhau chào mời bằng được... Miệng ăn núi lở, Chổm ta trở thành người mắc nợ khắp kinh thành, đi đến đâu cũng có người chạy theo đòi nợ. Trốn tránh mãi không lại, đến khi chuyện vỡ lở, Chổm bị đưa lên công đường, nhà vua thấy mặt mũi thông minh sáng sủa thì thương tình, liền ban cho một một đường thoát hiểm, bèn ra sắc lệnh: Hễ đòi nợ Chổm ở đâu thì đòi nhưng khi đã vào trong cái ngõ ấy rồi thì cấm chỉ. Ai trái lệnh sẽ mắc tội khi quân, bị xử trảm. Từ sắc lệnh "cấm chỉ" ấy mà thành tên ngõ.
Ngõ Tạm Thương lại bắt nguồn từ tích xưa, chuyện cũ. Trước đó có kho lương tạm thời do những anh lính đứng gác. Buồn tình liền kiếm chuyện làm quà với những cô gái vốn cả nể, hay thương người, khi các chú lính trạm chuyển đi, chuyện tình một thưở thành tạm thời chốc lát và tên ngõ được đặt thành "tạm thương"... nhưng những mối tình "tạm thương" không bao giờ thành dĩ vãng bởi tên ngõ vẫn còn đó, minh chứng cho mối tình lỡ độ đường, yêu vụng nhớ thầm thưở nào...
Ngõ Hàng Lọng dài mấy chục mét, một bên là nhà dân bên kia là tường của bộ công an. Dân phố ngày xưa chuyên làm ô lọng nên tên nghề mới thành tên ngõ. Sau ngày giải phóng thủ đô, nó được mang tên mới là đường Nam Bộ, khi Bắc Nam thống nhất đổi thành đường Lê Duẩn, nhưng người dân chẳng ai thích tên ấy, phần lớn lớp già vẫn gọi bằng tên "Hàng Lọng" cũ, lớp trẻ hỗn hào hơn cứ gọi bừa là "đường đa thê" hoặc "đường con lợn của Đảng" cho dễ nhớ, dễ phân biệt với các tên tuổi lừng danh, xứng đáng khác.
"Vào Cu Ba, ra Vạn Kiếp" là tên người dân sống lâu đời trong ngõ vẫn gọi. Ngõ này nằm giữa bệnh viện Việt Nam - Cu Ba và đường Trần Hưng Đạo - cái tên như nói rõ cảnh ngộ của bao kiếp người sống trong lòng ngõ... Bên kia còn một ngõ nữa không hiểu vì sao không có biển đề, người dân quen miệng gọi ngõ lao động để phân biệt ngõ của những con người cần cù lao động nghèo khổ với các ngõ phố đài các cao sang khác. Thời kỳ Đảng đổi mới tư duy đặt lại thành ngõ 90, cánh văn nhân yêu mến tài của cụ Nguyễn Tuân thường gọi đùa là ngõ Nguyễn Tuân. Nơi đó trên gác hai có nhà của văn hào Nguyễn Tuân. Trong căn phòng nhỏ ông từng giải thích tên gọi của từng loại rượu cho cánh nhà văn trẻ, theo cách hiểu của ông, nào rượu lậu, quốc lủi, làng vân rồi rượu bộ, rượu mắt ếch v.v…
Nhà văn Băng Sơn - người được coi là một nhà Hà Nội học vì sự am tường về văn hoá nghệ thuật, sinh hoạt, cũng như địa lý Hà Nội, khẳng định Hà Nội bây giờ có tới 500 phố, và hơn 100 ngõ, nhiều nhà thơ văn quen thuộc của Việt Nam đã gắn bó với các ngõ Hà Nội như nhà thơ Trần Huyền Trân ở ngõ cống trắng, Vũ Hoàng Chương ở ngõ Thanh Miến, nhà văn Kim Lân ở ngõ Hạ Hồi, nhà văn Thạch Lam và thi sĩ Vân Đài ở ngõ Trúc Lạc (gần Hồ Tây) nhà văn Sơn Tùng ở ngõ Văn Chương v.v…
Thành thực tôi không ngờ chất Hà Nội trong chị còn cụ thể và sống động đến thế, cụ thể và sống động như những con người vẫn hàng ngày hàng giờ đang sống trong lòng Hà Nội vậy.
Chia xẻ với chị nỗi nhớ Hà Nội, tôi chỉ còn biết lẽo đẽo đi theo chị tìm lại các ngõ phố một thời để ôn lại những kỷ niệm xưa. Quả là các ngõ phố đã làm nên diện mạo của người Hà Nội mà nhà văn Nguyễn Tuân - bậc thầy về ngôn ngữ của làng văn Việt Nam từng ví "Hà Nội là thành phố của những ngõ ngách". Theo ông, Hà Nội có vài chục con phố và chừng ấy ngõ, nghĩa là phố nhiều như ngõ, song cái thời của ông, Hà Nội chưa "trượt chân quá đà" và bung ra khủng khiếp như hiện tại. Thời ông sống, một con phố đã có tới vài ngõ, thậm chí cả chục ngõ. Ngõ chằng chịt, ngõ đan xen, rồi từ ngõ mẹ đẻ ra ngõ con mà nay người Hà Nội gọi là ngách, tất nhiên bây giờ còn cả hẻm nữa. Nghiã là "Tứ đại đồng đường" mà thời ông chỉ "nhị đại" thậm chí "tam đại đồng đường" là cùng.
![]() |
| Một ngõ phố trên đường Nguyễn Thái Học (Ảnh: Xuân Tùng) |
Chính vì lắm ngõ, nhiều ngách mà người sống trong các ngõ ngách nhiều hơn trên mặt đường, mặt phố, và thế mới đẻ ra thành mặt tiền, mặt ngõ, giá chênh nhau tới cả chục lần. Tuy vậy trước khi lột xác như hôm nay, Hà Nội bao đời là kinh thành của Đại Việt, vẫn mang dáng dấp của một cái làng to. Ngay cạnh một số khách sạn, nhà nghỉ bây giờ như khách sạn Bảo Sơn, khách sạn Phương Nam, khách sạn đại Dương, nhà hàng Thế kỷ vẫn còn tên gọi là làng Khương Thượng, làng Kim liên, làng Nhân Chính v.v... Còn nguyên cả đường đất, thửa ruộng, ao hồ, hợp tác xã Nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp v.v…
Nhờ công cuộc "hiện đại hoá, công nghiệp hoá" mà ngõ thành phố, ngách thành ngõ, thậm chí cả hẻm cũng lên đời do mở đường lấy đất xây dựng các công trình trọng điểm, nhà văn hoá, khu vui chơi, siêu thị v.v… song nhà cửa vẫn lổn nhổn cao thấp to nhỏ khác nhau vì nhà giàu, nghèo, trình độ phân hoá thật khủng khiếp.
Phố Khâm Thiên, Nguyễn Thái Học, Đội Cấn, Nguyễn Lương Bằng… rất nhiều ngõ, mỗi ngõ là một thế giới riêng, có ngõ như ngõ Văn Chương là cả một phường. Ngõ đặc biệt nhất - có lẽ là ngõ Cấm Chỉ - truyền thuyết của một thời xa xưa nay còn ghi lại dấu ấn bởi tên gọi của ngõ. Chuyện kể rằng chú bé Chổm ngày xưa là một cậu bé nghèo xơ nghèo xác song đi đến đâu cũng có quầng sáng to trên đầu, vốn tính háu ăn lại có biệt tài lạ lùng là sáng ra hễ sà vào hàng nào thì hàng đó lập tức bán đắt như tôm tươi, thế là các bà các cô bán hàng thịt, gạo bánh bún các kiểu cứ thi nhau chào mời bằng được... Miệng ăn núi lở, Chổm ta trở thành người mắc nợ khắp kinh thành, đi đến đâu cũng có người chạy theo đòi nợ. Trốn tránh mãi không lại, đến khi chuyện vỡ lở, Chổm bị đưa lên công đường, nhà vua thấy mặt mũi thông minh sáng sủa thì thương tình, liền ban cho một một đường thoát hiểm, bèn ra sắc lệnh: Hễ đòi nợ Chổm ở đâu thì đòi nhưng khi đã vào trong cái ngõ ấy rồi thì cấm chỉ. Ai trái lệnh sẽ mắc tội khi quân, bị xử trảm. Từ sắc lệnh "cấm chỉ" ấy mà thành tên ngõ.
Ngõ Tạm Thương lại bắt nguồn từ tích xưa, chuyện cũ. Trước đó có kho lương tạm thời do những anh lính đứng gác. Buồn tình liền kiếm chuyện làm quà với những cô gái vốn cả nể, hay thương người, khi các chú lính trạm chuyển đi, chuyện tình một thưở thành tạm thời chốc lát và tên ngõ được đặt thành "tạm thương"... nhưng những mối tình "tạm thương" không bao giờ thành dĩ vãng bởi tên ngõ vẫn còn đó, minh chứng cho mối tình lỡ độ đường, yêu vụng nhớ thầm thưở nào...
Ngõ Hàng Lọng dài mấy chục mét, một bên là nhà dân bên kia là tường của bộ công an. Dân phố ngày xưa chuyên làm ô lọng nên tên nghề mới thành tên ngõ. Sau ngày giải phóng thủ đô, nó được mang tên mới là đường Nam Bộ, khi Bắc Nam thống nhất đổi thành đường Lê Duẩn, nhưng người dân chẳng ai thích tên ấy, phần lớn lớp già vẫn gọi bằng tên "Hàng Lọng" cũ, lớp trẻ hỗn hào hơn cứ gọi bừa là "đường đa thê" hoặc "đường con lợn của Đảng" cho dễ nhớ, dễ phân biệt với các tên tuổi lừng danh, xứng đáng khác.
"Vào Cu Ba, ra Vạn Kiếp" là tên người dân sống lâu đời trong ngõ vẫn gọi. Ngõ này nằm giữa bệnh viện Việt Nam - Cu Ba và đường Trần Hưng Đạo - cái tên như nói rõ cảnh ngộ của bao kiếp người sống trong lòng ngõ... Bên kia còn một ngõ nữa không hiểu vì sao không có biển đề, người dân quen miệng gọi ngõ lao động để phân biệt ngõ của những con người cần cù lao động nghèo khổ với các ngõ phố đài các cao sang khác. Thời kỳ Đảng đổi mới tư duy đặt lại thành ngõ 90, cánh văn nhân yêu mến tài của cụ Nguyễn Tuân thường gọi đùa là ngõ Nguyễn Tuân. Nơi đó trên gác hai có nhà của văn hào Nguyễn Tuân. Trong căn phòng nhỏ ông từng giải thích tên gọi của từng loại rượu cho cánh nhà văn trẻ, theo cách hiểu của ông, nào rượu lậu, quốc lủi, làng vân rồi rượu bộ, rượu mắt ếch v.v…
Nhà văn Băng Sơn - người được coi là một nhà Hà Nội học vì sự am tường về văn hoá nghệ thuật, sinh hoạt, cũng như địa lý Hà Nội, khẳng định Hà Nội bây giờ có tới 500 phố, và hơn 100 ngõ, nhiều nhà thơ văn quen thuộc của Việt Nam đã gắn bó với các ngõ Hà Nội như nhà thơ Trần Huyền Trân ở ngõ cống trắng, Vũ Hoàng Chương ở ngõ Thanh Miến, nhà văn Kim Lân ở ngõ Hạ Hồi, nhà văn Thạch Lam và thi sĩ Vân Đài ở ngõ Trúc Lạc (gần Hồ Tây) nhà văn Sơn Tùng ở ngõ Văn Chương v.v…


