2. Khủng hoảng lan ra thế giới
Đa số các nước bị ảnh hưởng vì họ có hệ thống tài chính khá cao – mua các CDOs, v.v.. như Âu châu, Á châu (Hong Kong, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật, Singapore, v.v..) và vùng Vịnh (Dubai, Doha, v.v..). Họ có hệ thống tài chính, có dư tiền và có khả năng sử dụng các “derivatives” vì các dịch vụ tài chính được trao đổi qua điện tử, lan tràn mau chóng. Do đó VN hay các nước phi châu, các nước còn chậm tiến, chưa có hệ thống tài chính tối tân ít bị ảnh hưởng.
Các nước như Nhật và TQ tưởng họ sẽ không bị lây vì theo họ khủng hoảng tài chính là do Mỹ và các nước phương tây. Kỳ này thì các thị trường chứng khóa Nhật và Nam Hàn và Thượng Hải bị lâm vào tình trạng xuống dốc và ngân hàng trung ương Nam Hàn phải trợ giúp và bảo đảm. Khi kinh tế bị trì trệ nó sẽ ảnh hưởng đến kinh tế và sản xuất.
Iceland – một hòn đảo nhỏ là nước đầu tiên phá sản – cần vay để cứu vãn khu vực ngân hàng của họ mua quá nhiều trái phiếu. Nước thứ hai là Ireland (Ãi nhĩ lan) phải bảo hiểm cho các người gởi tiền ngân hàng, v.v.. Khủng hoảng cũng không tha các ngân hàng Âu châu từ Anh đến Ái Nhĩ Lan, rồi đến Pháp và Bỉ, Đức đến Hy lạp.
Tuy tín dụng thứ cấp - subprime là đầu khởi nan – nhưng các ngân hàng Âu cũng dùng tỷ lệ bảy (leverage) quá cao (tỷ lệ vốn - tín dụng 8 – 10 lần), thiếu giám sát cho nên lây vào khủng hoảng. Ví dụ là ngân hàng Hypo Bank của Đức với tỷ lệ bảy (vay gấp 8 lần số tiền gởi trong các trương mục).
Các ngân hàng Âu châu mặc dù không bị nợ địa ốc như trường hợp Wachovia và Washington Mutual nhưng những nợ khác khá cao, còn nhiều hơn tình trạng ngân hàng Mỹ gấp bội. Nói tóm tỷ lệ tín dụng quá cao so với tỷ lệ vốn trong quy định Basle.
Vì khủng hoảng Mỹ trở thành khủng hoảng thế giới, nhiều nước từ Âu đến Á cần đến sự giúp đỡ của IMF.
Iceland đuợc trợ giúp $2 tỷ; Ukraine $17.5 tỷ; Hungary $25 tỷ, v.v.. Pakistan, và nhiều nước khác sẽ bị lây. Nhưng nhiều nước có triển vọng bị ảnh hưởng “khủng hoảng tài chính – địa ốc” Dubai, Arập Saudi, tại Trung Đông cũng bị lây.
Làm sao cứu thị “trường tài chính”
Trước hết, các ngân hàng trung ương và Quỹ Fed đã phải bơm tiền vào hệ thống “tài chính ngân hàng,” cho các ngân hàng vay ngắn hạn, gây “niềm tin” vào hệ thống tài chính ngân hàng.
Việc này đã được làm và các ngân hàng trung ương lần đầu tiên đã ngồi lại với nhau bơm tiền mặt vào hệ thống ngân hàng.
Chính phủ có thể cứu thị trường tài chính bằng cách nào?
Thứ nhất các định chế tài chính – ngân hàng Mỹ gặp khó khăn vì các món nợ xấu do các tín dụng địa ốc vẫn còn trong sổ sách của họ. Vì các nợ xấu này cho nên các ngân hàng thiếu vốn để cho vay.
1989, khu vực tài chính Mỹ cũng đã gặp khó khăn qua vụ “savings and loans” ngân hàng tiết kiệm. Cách làm là dùng “Resolution Trust Corporation,” một công ty quốc doanh mua các nợ xấu – và địa ốc của các ngân hàng tiết kiệm. Vào thập niên 90, chính phủ Nhật cũng dùng cách này giải quyết các nợ xấu của khu vực ngân hàng xuống dốc vì các nợ địa ốc.
Công ty Resolution Trust (RT) mua các nợ xấu, qua đó thanh toán các nợ xấu trên sổ sách các ngân hàng tiết kiệm, cho phép họ trở lại làm ăn bình thường, tiếp tục cho vay. Công ty RT sẽ giữ số nợ này, giải quyết dần các nợ này và sau đó bán lại các nợ này cho khu vực tư.
Kế hoạch $700 tỷ nhằm mua các nợ xấu. Khi các nợ xấu được chính phủ mua thì các ngân hàng và định chế tài chính sẽ được nhiều nhà đầu tư bơm tiền - tăng vốn và (vì chỉ còn nợ tốt trong sổ sách của họ) nhờ vậy, các định chế tài chính có thể cấp tín dụng cho kinh tế.
Nhưng làm sao biết được đâu là CDOs xấu hay CLOs xấu. Khi phân chia các trái phiếu này đòi hỏi thì giờ trong khi thị trường chứng khoán, thị trường tín dụng bị ứ động.
Thứ hai là tăng vốn ngân hàng. Vì vậy, chính phủ và ngân hàng Fed có thể dùng vốn chính phủ đổ vào vốn các ngân hàng – qua đó kiểm soát ngân hàng, nâng tỷ lệ nợ và vốn ở một mức chấp nhận được và đây cũng là giải pháp ngân hàng trung ương Anh làm. Vì vậy chính phủ và ngân hàng Fed có thể dùng $250 tỷ để bỏ vào vốn, mua các ngân hàng bị nạn.