Danchimviet - http://danchimviet.com
Từ khủng hoảng địa ốc Mỹ đến khủng hoảng tài chính thế giới
http://danchimviet.com/articles/565/1/T-khng-hong-a-c-M-n-khng-hong-tai-chinh-th-gii/TrangPage1.html
Đinh Xuân Quân

 
Tác Giả: Đinh Xuân Quân
Đăng lên/Published on 30.10.08
 
Nay ta sẽ đứng trước một thế giới với một cơ cấu tài chính sẽ phải thay đổi nhiều. Đây có phải là dịp may để tiến tới một cơ cấu tài chính bình đẳng hơn trên thế giới?

Ảnh hưởng trên hệ thống tài chính thế giới ra sao?
Trong những năm qua đã có nhiều dấu hiệu thị trường địa ốc gặp khó khăn, bong bóng địa ốc xẹp. Thị trường tài chính “mở - ít kiểm soát” cho nên việc này dẫn đến “khủng hoảng tài chính”.  

Trong nhiều năm dưới sự giám sát của ông Greenspan, Qũy Liên Bang – Fed đã để “thị trường” tự điều hành – mở và ít kiểm soát. Nay chính ông Greenspan cũng phải thú nhận là đã quá tin tưởng vào thị trường và ông ta bị xốc.

Các nợ địa ốc được gói thành các tín dụng mới về địa ốc: trái phiếu CDO (Collateral Debt Obligations) và CLO (Collateral Loan Obligations) – hay dùng thế chấp nợ - thành các trái phiếu đầu tư là dưới thời Greenspan.  
 
Khi khủng hoảng xẩy ra, Bộ Tài chính và Quỹ Fed đã phải giúp cứu vớt nhiều ngân hàng đầu tư Bear Stearns (BS) qua việc “bảo đảm nợ” để ngân hàng J.P Morgan - Chase mua lại BS với giá là 30 tỷ đô; “quốc hữu hóa” 2 Ngân hàng tài trợ địa ốc Freddie Mac và Fanny Mae vì sợ phản ứng dây chuyền trong khu vực đia ốc. Quỹ Fed cũng quyết định cứu công ty bảo hiểm lớn nhất của Mỹ AIG qua việc đầu tư vào vốn qua một khoảng cho vay 85 tỉ đôla và nay còn cho vay thêm 37.5 tỷ, cứu vớt ngân hàng đầu tư Merrill Lynch bằng cách đứng đằng sau giúp Bank of America mua lại ngân hàng đầu tư này. Nhưng quỹ Fed và BTC đã để cho ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản. 

Việc này đã gây rối loạn trong thị trường tài chính. Trong nhiều tuần, các các ngân hàng trung ương Mỹ, Anh, Âu châu, Thụy sĩ, Nhật, v.v. đã phải đổ nhiều tỷ đô vào thì trường tài chính ngân hàng trên thế giới để giúp lấy lại “niềm tin”. Theo phản ứng dây chuyền, thị trường tài chính thế giới gặp khó khăn và các thị trường tài chính – chứng khoán tại Mỹ, Âu châu và Á châu đã sụp theo thị trường New York.      

Cuối cùng lưỡng viện, đã quyết định cứu vớt thị trường tài chính – lấy lại “niềm tin” thị trường tài chính với một khoản tiền khổng lồ là $ 700 tỷ đô. 

Lúc đầu các nước Âu châu đã đánh giá thấp cách “giám sát” của hệ thống ngân hàng đầu tư - SEC (Security Exchange Commission) và chỉ trích mạnh mẽ nguyên nhân “khủng hoảng” từ Mỹ - quá tham tiền. TT Pháp Sarkozy, Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi và TT Anh Brown cho là lỗi tại Mỹ. Các nước Âu châu muốn một “tư bản đầu tư” chứ không phải “đầu cơ”.

“Vừa chê người ngày hôm trước thì ngày hôm sau bà TT Angela Merkel cũng phải cứu vớt hệ ngân hàng Đức (Hypo Bank). Từ Iceland, đến Ireland, hệ thống ngân hàng lâm vào tình trạng khủng hoảng. Nay khủng hoảng địa ốc - tài chính tại Mỹ trở thành một khủng hoảng tài chính thế giới. 

Làm sao có thể cắt nghĩa chỗ đi từ “bong bóng” địa ốc xì tại Mỹ đến khủng hoảng tài chính - tín dụng thế giới? Làm sao sửa lại hệ thống tài chính?  

Bài này sẽ cố thông tin cho độc giả về:

1) Liên hệ tài trợ địa ốc và khủng hoảng tín dụng;
2) Khủng hoảng tài chính và giám sát ngân hàng - quy định Basle; 
3) Tương lai hệ thống tài chính thế giới ra sao?  

1. Tài trợ địa ốc tại Mỹ - liên quan nợ địa ốc, ngân hàng đầu tư và bảo hiểm - ảnh hưởng dây chuyền trên thế giới 

Địa ốc

Bước đầu là khi một người đi mua nhà thì cần phải có đủ điều kiện “credit – tín dụng” hay khả năng trả các món nợ ngân hàng. Khi người đi vay có tình trạng “tín dụng tốt” họ sẽ được hưởng “lãi suất ưu – prime rate.”  Để có thêm thương vụ (lời), trong thập niêm 90 các ngân hàng địa ốc chấp nhận cho một số người chưa đủ điều kiện “tín dụng” - nói tóm là không đủ điền kiện cũng đựợc mua nhà nhưng trả lãi suất cao hơn (sub-prime hay tạm gọi là lãi suất thứ cấp). Vì vậy tại California, một số người chưa đủ điều kiện mua nhà đã sắp hàng đi mua nhà do đó gây tình trạng giá nhà tăng một cách “kỳ cục”. Kiểu làm việc mới này gọi là – sub-prime hay thứ cấp. 
 
Dịch vụ ngân hàng là cho vay tiền để phát triển, để kinh doanh. Các thành viên ngân hàng cần “quản lý rủi ro – risk management” để bảo đảm tiền thân chủ của họ được bảo đảm tốt, ít rủi ro. Khi họ cho vay thì theo quy định về giám sát ngân hàng Basle 2 thì các ngân hàng phải giảm tỷ lệ rủi ro tối đa qua việc giữ tỷ lệ giữa tiền vốn, số tiền thân chủ gởi và số tín dụng họ có thể cho vay. 

Quy định Basle 2 - Giám sát ngân hàng

Gần đây vào năm 1984, ngân hàng Continental Illinois đã phá sản vì các nợ xấu và chính phủ đã phải bỏ ra $3.5 tỷ để mua các nợ xấu và qua việc này đã quốc hữu hóa ngân hàng này. Sau đó có vụ các ngân hàng tiết kiệm Saving & Loans trong đó chính phủ mất nhiều năm mới giải quyết được.   

Trong cơn khủng hoảng chỉ có 2 ngân hàng trên 9,000 ngân hàng dưới sự giám sát của Feb bị phá sản: Wachovia và Washington Mutual. Nhưng tại Mỹ các người gởi ngân hàng được cơ quan bảo hiểm ngân hàng bảo hiểm đến mức $100,000 (nay $250,000) cho mỗi trương mục và người gởi tiền được bảo hiểm an toàn. 

Trong một kinh tế thị trường ngân hàng cho vay để kiếm lời. Nhưng họ phải đánh giá đúng mức “rủi ro tài chính - khả năng trả nợ,” của người đi vay. 

Trên thế giới đều có nhiều quy định giám sát ngân hàng - quy chế Basle 2 trong đó các ngân hàng phải theo để giảm rủi ro tài chính. Quy chế Basle 2 nhằm đòi hỏi các ngân hàng phải giữ 3 điều kiện: vốn ngân hàng (ít nhất 8%) để trả những mất mát; hai là giám sát ngân hàng; ba là kỷ luật và trong suốt trong việc báo cáo. Chính quy định Basle 2 nhấn mạnh việc quản lý “rủi ro”. Quy định Basle 2 đòi giảm rủi ro ngân hàng phá sản bàng cách đòi hỏi:

- vốn ngân hàng tương đương với rủi ro;
- đánh giá rủi ro;
- chia tài sản thành nhiều lớp;
- dự trữ tín dụng xấu;
- báo cáo kế toán lới lỗ theo tiêu chuẩn quốc tế;   
- và một số quy định khác như không cho người trong cuộc vay

Trong việc đánh giá rủi ro, các ngân hàng dùng các “chương trình vi tính để tính rủi ro” nhưng việc áp dụng quy định Basle 2 còn ở những bước đầu.

Khủng hoảng tài chính xẩy ra khi các ngân hàng quá sử dụng “leverage – tỷ lệ giữa vốn và tín dụng quá cao.”  Ví dụ muốn giải quyết vấn đề rủi ro tín dụng subprime, ngân hàng phải giảm rủi ro trên vốn, họ có thể gọi thêm vốn (để giữ tỷ lệ trong quy chế Basle) hay bán các nợ xấu. Cách tốt nhất là ngân hàng giữ tỷ lệ vốn và tín dụng theo quy định Basle. 

Nói tóm, một ngân hàng được coi là quản lý tốt khi rủi ro này thấp.   

Vì vậy, khi một ngân hàng cho vay về địa ốc hay về các tín dụng khác họ phải giữ các món nợ địa ốc (mortgage) trong sổ sách của họ và do đó không thể cho vay thêm vì các tỷ lệ tài chính và kế toán ngân hàng nghiêm khắc. Muốn có thêm phương tiện cho vay thêm, các ngân hàng sẽ bán các món nợ trong sổ sách của họ cho các ngân hàng chuyên về địa ốc “Fannie Mae” và “Freddie Mac” để chuyển các món nợ trong sổ sách của họ qua sổ sách Freddie Mac và Fannie Mae, nhờ vậy họ có thêm khả năng tài trợ (refinance) tín dụng và thêm lời.     

Cơ quan giám sát SEC không làm nhiệm vụ 

Các ngân hàng đầu tư theo một chương trình giám sát “tự nguyện,” không phải theo quy định Basle 2.  Theo luật Gramm-Leach-Bliley Act, SEC giám sát các ngân hàng đầu tư và các định chế dính vào thị trường chứng khoán, nhưng không giám sát các chi nhánh.  

Chủ tịch SEC (Security Exchange Commission – Cơ quan giám sát thị trường chứng khoán) ông Christopher Cox công nhận là việc giám sát và theo dõi Bear Stearns đã không đúng mức. Ông đã công nhận là việc giám sát các cơ quan tài chính tại Wall Street (các ngân hàng đầu tư và các cơ quan Hedge Fund) đã làm tăng gia khủng hoảng tài chính và SEC đã không làm nhiệm vụ trao phó.  Nay 5 ngân hàng đầu tư không còn vì phá sản hay bị các ngân hàng thương mại mua hay trở thành ngân hàng dưới sự giám sát của Fed. 

Như vậy là khủng hoảng tài chính một phần là do cơ quan SEC không làm nhiệm vụ - giám sát các cơ quan tài chính. 
  
Qua vụ khủng hoảng tài chính này coi như Quỹ Fed đã giám sát ngân hàng và nay SEC chỉ còn giám sát các công ty chứng khoán (brokerage and security firms). Khủng hoảng tài chính là do SEC không hoàn thành nhiệm vụ của họ. 

Các công ty đánh giá không làm nhiệm vụ

Trong vụ này, tại sao các CDOs hay CLOs có thể bán được? Vì các công ty đánh giá tài chính đã không làm việc một cách đúng mức. Họ đánh giá các trái phiếu AAA trong khi có quá nhiều rủi ro trong các tín dụng địa ốc.

Trái phiếu đầu tư lây sang toàn cầu 

Ở đây thì các ngân hàng đầu tư như Bears Stern, Lehman Brother, Merrill Lynch, v.v.. mới chế nhiều loại tín dụng mới về địa ốc, gọi là chia sẽ rủi ro tín dụng. Hai cái tín dụng mới về địa ốc là CDO (Collateral Debt Obligations) và CLO (Collateral Loan Obligations) – hay dùng chấp nợ (các nợ được gói gém và bán ra cho các nhà đầu tư qua các trái phiếu đầu tư). Các món nợ trở thành các trái phiếu đầu tư còn được gọi là các derivatives. 
 
Các ngân hàng đầu tư như Merrill Lynch, Bear and Stearn, v.v.. mua các nợ ngân hàng (mortgage), “gói gém các nợ thứ cấp - sub-prime” thành CDO hay CLO – thành trái phiếu, bán cho các nhà đầu tư trên thế giới do đó các ngân hàng có thêm phương tiện. Trên lý thuyết các derivatives là những dụng cụ tài chính chia sẽ rủi ro tài chính cho các nhà đầu tư khác. Khi gói các món nợ địa ốc dưới hình thức CDO hay CLO, lúc đầu còn có thể biết rủi ro nhưng khi việc này lan rộng, không ai có thể biết là các món nợ này tốt hay không – khó có thể đánh giá món nợ.

Hậu quả của việc này là:

- Các ngân hàng không cần xét các hồ sơ một cách kỹ lưỡng, “làm ăn tháo” vì họ biết là các món nợ sẽ bán cho các ngân hàng đầu tư – gói thẳng CDOs – rồi bán ra thị trường đầu tư.  Như vậy đa số ngân hàng tránh làm việc đánh giá “rủi ro” một cách lỹ lưỡng.
- Các nhà đầu tư/ngân hàng đầu tư trên thế giới mua các trái phiếu này vì lời cao, họ mua thêm bảo hiểm AIG cho chắc - bớt lo về rủi ro.    

Vì địa ốc tăng, các ngân hàng tiếp tục làm việc này khi trị giá nhà tăng trong nhiều năm đánh giá trên $500 ngàn tỷ (500 trillion). Các nợ prime hay sub-prime trở thành CDOs hay CLOs do đó không còn trong sổ sách ngân hàng, đúng tỷ lệ các cơ quan giám sát ngân hàng Fed mong muốn. 

Khi lãi suất tăng, các người vay tiền mua nhà kiểu sub-prime không đủ khả năng trả nợ tín dụng, phá sản cho nên các ngân hàng phải tái thẩm định trị giá nợ của họ trong sổ sách cho nên phải giảm việc cho vay.

Trong một thế giới toàn cầu hóa, các định chế - tổ chức tài chính dễ bị lung chuyển vì những hợp đồng tài chính ràng buộc các ngân hàng với nhau – qua các tín dụng phụ gọi là derivatives.  

Các ngân hàng đầu tư như Bear Stearns, Lehman brother v.v.. và các cơ quan tài chính Hedge fund không ở dưới sự giám sát của Fed mà dưới sự giám sát của SEC (Security Commission Commission - Cơ quan giám sát chứng khóan). Trong thời kỳ ông Greenspan, ông luôn ủng hộ việc các ngân hàng đầu tư và muốn cho họ có tự do làm ăn. 

Các ngân hàng đầu tư như Lehman Brothers, Bear and Stearns, Merrill Lynch, v.v.. gói các món nợ “prime hay sub-prime” thành các phiếu đầu tư CDOs hay CLOs và bán ra trên thị trường quốc tế - luôn luôn hoạt động theo nguyên tắc “rủi ro cao, phần thưởng lớn” do đó lĩnh lời tối đa.

Trái phiếu lây sang bảo hiểm

Khi các ngân hàng Âu châu mua các CDOs hay CLOs đó họ muốn bớt rủi ro cho nên mua các bảo hiểm do AIG bán ra trong dây chuyền này. Trong việc này và trong nhiều năm các lãnh đạo ngân hàng đầu tư lời rất nhiều – khi giá nhà tiếp tục tăng. 

Khi “bong bóng” đia ốc xì vào 2007, giá nhà – và giá trị món nợ nhất là các “sub-prime” bị ảnh hưởng (vì các người vay tiền đi mua nhà không có khả năng trả nợ thì lãi suất tăng – thì sub-prime ngày càng trở thành gánh nợ cao). 

Khi bong bóng xì, thì trị giá các món nợ CDOs và CLOs giảm trị giá và các ngân hàng bắt đầu đòi bảo hiểm trả tiền. Như vậy ta thấy ảnh hưởng giây chuyền từ địa ốc, đến việc bán sub-prime trên thế giới và bảo hiểm làm kẹt dây chuyền hệ thống tài chính, gây sự mất “niềm tin.” Các ngân hàng đòi AIG phải trả các bảo hiểm. AIG là một hãng lớn, có trị giá cao nhưng vì có quá nhiều bảo hiểm đòi cho nên kẹt tiền mặt. Do đó AIG gặp khó khăn và phải kêu chính phủ cứu trợ. 

Tại sao tín dụng bị kẹt?

Việc này gây khủng hoảng tài chính và hệ thống tài chính thế giới bị kẹt làm kẹt tín dụng? Bình thường thì các ngân hàng vẫn cho nhau vay tiền rất ngắn hạn (1 ngày đến 2 ngày). Các ngân hàng cho vay lẫn nhau với lãi suất tương đương với lãi suất Quỹ Fed. Trong nhiều năm qua các ngân hàng đầu tư đã hái được quá nhiều lợi lộc khi thị trường địa ốc hưng thịnh.

Giờ đây họ phải chấp nhận đi xuống. Nhưng khi mất “niềm tin,” họ không biết là các ngân hàng họ cho vay có nợ xấu đia ốc nhiều hay ít, có bị phá sản hay không? Có mang nhiều CDOs hay không? Có khả năng thanh toán hay không cho nên các ngân hàng ngưng cho vay lẫn nhau. Vì họ thiếu niềm tin, và các CDOs và CLOs không rõ ràng trong sổ sách cho nên tốt hơn là không cho vay, và vì vậy hệ thống tài chính thế giới bị kẹt. Nếu không cho vay ngắn hạn lẫn nhau, hệ thống tín dụng thế giới bị kẹt – vì khủng hoảng niềm tin. 

Khủng hoảng niềm tin mang đến chỗ các ngân hàng không tiếp tục cho vay, gây trì trệ kinh tế. 

Do đó các ngân hàng trung ương phải bơm tiền ngắn hạn cho hệ thống tài chính để họ tiếp tục có khả năng cho vay.

Thị trường tài chính thế giới lâm vào “khủng hoảng” vì phản ứng dây chuyền.     


2. Khủng hoảng lan ra thế giới

Đa số các nước bị ảnh hưởng vì họ có hệ thống tài chính khá cao – mua các CDOs, v.v.. như Âu châu, Á châu (Hong Kong, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật, Singapore, v.v..) và vùng Vịnh (Dubai, Doha, v.v..). Họ có hệ thống tài chính, có dư tiền và có khả năng sử dụng các “derivatives” vì các dịch vụ tài chính được trao đổi qua điện tử, lan tràn mau chóng. Do đó VN hay các nước phi châu, các nước còn chậm tiến, chưa có hệ thống tài chính tối tân ít bị ảnh hưởng.
 
Các nước như Nhật và TQ tưởng họ sẽ không bị lây vì theo họ khủng hoảng tài chính là do Mỹ và các nước phương tây. Kỳ này thì các thị trường chứng khóa Nhật và Nam Hàn và Thượng Hải bị lâm vào tình trạng xuống dốc và ngân hàng trung ương Nam Hàn phải trợ giúp và bảo đảm. Khi kinh tế bị trì trệ nó sẽ ảnh hưởng đến kinh tế và sản xuất. 

Iceland – một hòn đảo nhỏ là nước đầu tiên phá sản – cần vay để cứu vãn khu vực ngân hàng của họ mua quá nhiều trái phiếu. Nước thứ hai là Ireland (Ãi nhĩ lan) phải bảo hiểm cho các người gởi tiền ngân hàng, v.v.. Khủng hoảng cũng không tha các ngân hàng Âu châu từ Anh đến Ái Nhĩ Lan, rồi đến Pháp và Bỉ, Đức đến Hy lạp.  

Tuy tín dụng thứ cấp - subprime là đầu khởi nan – nhưng các ngân hàng Âu cũng dùng tỷ lệ bảy (leverage) quá cao (tỷ lệ vốn - tín dụng 8 – 10 lần), thiếu giám sát cho nên lây vào khủng hoảng. Ví dụ là ngân hàng Hypo Bank của Đức với tỷ lệ bảy (vay gấp 8 lần số tiền gởi trong các trương mục).

Các ngân hàng Âu châu mặc dù không bị nợ địa ốc như trường hợp Wachovia và Washington Mutual nhưng những nợ khác khá cao, còn nhiều hơn tình trạng ngân hàng Mỹ gấp bội. Nói tóm tỷ lệ tín dụng quá cao so với tỷ lệ vốn trong quy định Basle.

Vì khủng hoảng Mỹ trở thành khủng hoảng thế giới, nhiều nước từ Âu đến Á cần đến sự giúp đỡ của IMF. 

Iceland đuợc trợ giúp $2 tỷ; Ukraine $17.5 tỷ; Hungary $25 tỷ, v.v.. Pakistan, và nhiều nước khác sẽ bị lây. Nhưng nhiều nước có triển vọng bị ảnh hưởng “khủng hoảng tài chính – địa ốc” Dubai, Arập Saudi, tại Trung Đông cũng bị lây.      

Làm sao cứu thị “trường tài chính” 

Trước hết, các ngân hàng trung ương và Quỹ Fed đã phải bơm tiền vào hệ thống “tài chính ngân hàng,” cho các ngân hàng vay ngắn hạn, gây “niềm tin” vào hệ thống tài chính ngân hàng. 

Việc này đã được làm và các ngân hàng trung ương lần đầu tiên đã ngồi lại với nhau bơm tiền mặt vào hệ thống ngân hàng. 

Chính phủ có thể cứu thị trường tài chính bằng cách nào?
 
Thứ nhất các định chế tài chính – ngân hàng Mỹ gặp khó khăn vì các món nợ xấu do các tín dụng địa ốc vẫn còn trong sổ sách của họ. Vì các nợ xấu này cho nên các ngân hàng thiếu vốn để cho vay.

1989, khu vực tài chính Mỹ cũng đã gặp khó khăn qua vụ “savings and loans” ngân hàng tiết kiệm. Cách làm là dùng “Resolution Trust Corporation,” một công ty quốc doanh mua các nợ xấu – và địa ốc của các ngân hàng tiết kiệm. Vào thập niên 90, chính phủ Nhật cũng dùng cách này giải quyết các nợ xấu của khu vực ngân hàng xuống dốc vì các nợ địa ốc. 

Công ty Resolution Trust (RT) mua các nợ xấu, qua đó thanh toán các nợ xấu trên sổ sách các ngân hàng tiết kiệm, cho phép họ trở lại làm ăn bình thường, tiếp tục cho vay. Công ty RT sẽ giữ số nợ này, giải quyết dần các nợ này và sau đó bán lại các nợ này cho khu vực tư.

Kế hoạch $700 tỷ nhằm mua các nợ xấu. Khi các nợ xấu được chính phủ mua thì các ngân hàng và định chế tài chính sẽ được nhiều nhà đầu tư bơm tiền - tăng vốn và (vì chỉ còn nợ tốt trong sổ sách của họ) nhờ vậy, các định chế tài chính có thể cấp tín dụng cho kinh tế. 

Nhưng làm sao biết được đâu là CDOs xấu hay CLOs xấu. Khi phân chia các trái phiếu này đòi hỏi thì giờ trong khi thị trường chứng khoán, thị trường tín dụng bị ứ động. 

Thứ hai là tăng vốn ngân hàng. Vì vậy, chính phủ và ngân hàng Fed có thể dùng vốn chính phủ đổ vào vốn các ngân hàng – qua đó kiểm soát ngân hàng, nâng tỷ lệ nợ và vốn ở một mức chấp nhận được và đây cũng là giải pháp ngân hàng trung ương Anh làm. Vì vậy chính phủ và ngân hàng Fed có thể dùng $250 tỷ để bỏ vào vốn, mua các ngân hàng bị nạn. 

Còn có một số vấn đề Quỹ Fed và Bộ tài chính phải tái xét:

Lương các lãnh đạo ngân hàng đầu tư. Số lương của 5 ngân hàng đầu tư lớn trong 5 năm qua là 66 tỷ đô. Một ví dụ là Merrill Lynch mặc dù ông O’Neill Chủ tịch TGĐ bị “đẩy ra” trong năm 2007, ông ta đã lĩnh $160 triệu đô. Hãng Merrill Lynch – gần như phá sản - đã phải bán cho ngân hàng Bank of America. Một điều là các ông chủ tịch TGĐ này có một lương kếch xù, trên 100 triệu đô. "Các ngân hàng đầu tư muốn có các kết quả cao để chứng minh cấp lương cao cho các lãnh đạo của họ. Họ phải lấy nhiều rủi ro lớn – nhưng khi làm quá trớn – trong địa ốc hay các khu vực khác thì đi đến bế tắc." Đây là một bế tắc khi “tư bản” không được giám sát đúng mức.

Việc thứ 2 là phải tái suy nghĩ lại thị trường tín dụng và các rủi ro ngân hàng đầu tư. Việc chuyển các nợ ngân hàng thành các trái phiều - obligations cho các nhà đầu tư mua là những công cụ tài chính khó nắm và cần phải có thêm giám sát một cách lỹ lưỡng. Nếu không có giám sát thì nó trở thành quá trớn, có thể làm toàn bộ tài chính bị tê liệt vì ở thời buổi toàn cầu hóa, mọi dịch vụ đều dính dây chuyền. Theo chủ tịch Quỹ Fed ông Ben Bernanke, thì cần một "khung giám sát chặt chẽ hơn đối với các ngân hàng đầu tư và các thành viên thị trường chứng khóa".

Dù sao đi nữa, khi nhà bị cháy thì phải chửa cháy trước. 

Phải cứu thị trường tài chính – tín dụng vì trong một khủng hoảng nhiều người vô tội bị dính. Ví dụ tại Mỹ trên 40% dân Mỹ đầu tư vào thị trường chứng khoán qua quỹ hưu bổng 401 K. Ngoài ra các người gởi tiền ngân hàng cũng cần được chính phủ ra tay cho bảo hiểm tiền của họ không bị mất khi ngân hàng phá sản. 

Khi ngân hàng bị kẹt - ứ động, kinh tế bị kẹt vì thiếu tín dụng và nhiều người sẽ bị thất nghiệp – kinh tế đi tới tình trạng suy trầm (recession) hay suy thoái (depression). Vì vậy chính phủ phải ra tay chữa cháy – nói tóm chính phủ phải ra tay làm nhiệm vụ bảo hiểm. 
 
Vì khủng hoảng dính đến nhiều nước Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) phải lên tiếng, chính phủ Hoa kỳ cũng phải mời nhiều chính phủ trên thế giới tham gia bàn luận tìm giải pháp.

IMF phải ra tay cứu – cho Iceland vay và gần đây Ukraine (16 tỷ), Hungari, Pakistan cũng cần sự trợ giúp của IMF.  

Một hậu quả tốt là giá dầu thô đi từ $147 đô/thùng khiến giá nhiên liệu tăng vọt gây lạm phát trên thế giới – nay tụt xuống dưới $70 đô/thùng. Việc này làm nhiều kinh tế gia thở phào và các nước dùng dầu làm đòn bẩy như Venezuela, Nga, Iran, v.v.. đang xuống nước, làm hiền.

3. Tương lai hệ thống tài chính thế giới

Dù sao đi nữa, khu vực tài chính Mỹ sẽ cần giám sát kỹ hơn, nhất là nó lan sang toàn cầu. Khủng hoảng tài chính cho thấy là các ngân hàng đầu tư đã dùng nhiều công cụ tài chính mới như CDOs, CLOs, để kiếm lời mau chóng. Đây là những việc “quá trớn” của Wall street vì cách suy nghĩ “ít kiểm soát chừng nào tốt chừng đó.”

Vì khủng hoảng Mỹ trở thành khủng hoảng thế giới, IMF và nhiều nước từ Âu đến Á đến Châu Mỹ Latinh đến Trung đông bị lây và lên tiếng đòi thay đổi khung cảnh và cơ cấu tài chính thế giới. 

Các nước đang lên như TQ với dự trữ trên $2,000 tỷ, Ấn, Brazil với một số tích trữ hối đoái kếch xù đòi hỏi đặt lại phần hùn vốn của họ tại IMF (được quy định ngay sau thế chiến thứ 2), họ đòi có tiếng nói quan trọng hơn trên tài chính thế giới.


27 nước Âu châu và 16 nước Á châu họp tại Bắc Kinh đòi hỏi một cơ cấu “Bretton Woods” – khung cảnh tài chính thế giới mới. Như vậy có nhiều vấn đề mới trên thế giới:

1) Trong ngắn hạn, làm sao guồng máy kinh tế Mỹ chạy trở lại và tránh suy trầm? Làm sao thời gian trì trệ - suy trầm kinh tế sẽ ngắn nhất? Càng sớm làm cho guồng máy kinh tế Mỹ chạy lại thì nó sẽ làm giảm ảnh hưởng xấu trên dân chúng tại Mỹ và trên thế giới vì kinh tế Mỹ sẽ lôi kéo kinh tế thế giới. 

2) Ảnh hưởng nước Mỹ trên thế giới có phần xuống và chỗ đứng của Mỹ có được thay bằng các nước đang lên như TQ không? Các nước như TQ, Nhật, đầu tư rất nhiều vào trái phiếu Mỹ có thể rút ra bỏ chạy hay không? Kinh tế đang đi vào thời gian suy trầm (recession) vì khủng hoảng tài chánh – vì ảnh hưởng “tâm lý hốt hoảng” của dân đầu tư khiến thị trường chứng khoán sụp đổ, lên xuống bất thường hàng ngày, ảnh hưởng từ Wall street đến Anh hay Âu châu, Á châu v.v.. Trong thời gian ngắn hạn, sẽ còn nhiều đàm phán.

3) Khi có khủng hoảng tài chính, đáng lẽ đồng dollar phải tụt giá nhưng ngược lại đã lên giá so với đồng Euro và các đồng tiền khác. Việc này cho thấy nhiều người có tiền vẫn chạy trú nấp vào hệ thống tiền Mỹ. Có thể đồng dollar và hệ thống tài chính Mỹ đã phạm nhiều lỗi, nhưng hiện nay trên thế giới đồng dollar vẫn còn vững chắc.

4) Sau khi chê Mỹ thì Âu châu lâm vào khủng hoảng tín dụng – hệ thống ngân hàng của họ cũng bị kẹt – vì có quá nhiều trái phiếu kiểu CDOs hay CLOs. Các ngân hàng Âu châu dùng tỷ lệ bảy quá cao – làm sao họ có thể tránh sự giám sát của các cơ quan giám sát Âu châu? 27 nước Âu châu nói nhưng có thể gây ảnh hưởng mới trên thế giới hay không?

5) Nay cơ cấu tài chính thế giới bị lung lay. Liệu IMF sẽ phải thay đổi và thay đổi thế nào? Các nước Âu châu, Á châu và các nước đang lên như Brazil, TQ, Ấn độ, v.v.. dư ngoại tệ và tiền mặt và họ đang đòi hỏi tái xác định chỗ đứng mới của họ tại các cơ quan quốc tế như IMF, World Bank.   

Có hai cách suy nghĩ chính: kiểm soát thị trường qua các điều lệ giám sát khắt khe hơn hay làm sao giám sát trong một khung cảnh thị trường hay kiểm soát? 

Khung cảnh tài chính thế giới sẽ đi về đâu?

Tạm Kết luận 

1. “Khủng hoảng” tài chính đi từ thị trường địa ốc Mỹ lan qua khu vực tài chính Mỹ và nay trở thành khủng hoảng tài chính thế giới.  
2. Các ngân hàng đầu tư Mỹ trong nhiều năm dưới sự giám sát của ông Greenspan đã “chế ra những dụng cụ tài chính mới,” đã gây phản ứng dây chuyền – toàn cầu hóa – tốt cũng như xấu.
3. Cơ quan giám sát SEC đã không làm nhiệm vụ một cách đứng đắn vì cách suy nghĩ “ít giám sát chừng nào hay chừng đó.”  
4. Các cơ quan đánh giá “rủi ro nợ tài chính” đã không làm nhiệm vụ đánh giá một cách đứng đắn.  
5. Khi thị trường địa ốc xuống dốc, các con nợ phá sản - trị giá nợ trên sổ sách các ngân hàng giảm – làm giảm khả năng cho vay của các ngân hàng – đi đến kẹt tín dụng. 
6. Từ địa ốc – đến lãi suất thứ cấp – đến bảo hiểm cho nên Bộ tài chính và Fed phải ra tay cứu AIG vì nó sẽ ảnh hưởng đến các quỹ hưu bổng và hàng triệu dân. 
7. Bộ tài chính và Quỹ Fed giải quyết căn bệnh một cách mau chóng có kế hoạch cứu thị trường tài chính – tái gây “niềm tin.”  Và sau đó thị trường tài chính Mỹ lây sang thị trường tài chính trên thế giới cho nên gây việc “mất niềm tin” trên thị trường tài chính thế giới, làm kẹt hệ thống tín dụng thế giới.
8. Các thị trường Âu châu, Á châu, Châu Mỹ Latinh và cả Trung đông cũng bị lây vì ảnh hưởng đi từ tài chính sang kinh tế - suất khẩu và các công ty phải đóng cửa.   
9. IMF phải cứu nhiều nước lâm vào tình trạng khó khăn tài chính từ Iceland đến Ukraina, Hungary đến Pakistan, v.v..
10. Các nước đang lên, có dư dự trữ ngoại tệ thừa thắng xông lên đòi sửa đổi hệ thống – cơ cấu tài chính quốc tế. Trong những tháng tới sẽ có nhiều thay đổi trong hệ thống tài chính thế giới. 

Nay ta sẽ đứng trước một thế giới với một cơ cấu tài chính sẽ phải thay đổi nhiều. Đây có phải là dịp may để tiến tới một cơ cấu tài chính bình đẳng hơn trên thế giới?    

© 2008 www.danchimviet.com