Hai giờ chiều, xe đến Đà Nẵng. Xe chạy vào đường Nguyễn Hoàng, dừng lại trước một ngôi nhà khá lớn,có sân rộng rãi. Ngôi nhà to nhưng rất đơn điệu, đây là nhà mà ba anh nhờ một người bà con thuê từ mấy ngày trước, năm chỉ vàng trong 3 tháng. Ông chủ nhà - người thấp, đậm, da trắng, đôi mắt hơi đỏ, ông ăn mặt sang trọng. Nhìn ông, anh biết là hạng người giàu có, có nhiều mối quan hệ và thành đạt. Ông dẫn ba và Tín đi giới thiệu căn nhà. Nhà 3 dãy, dãy trước hướng ra đường, có hai gian rộng - một là phòng khách, một là điện thờ Phật; 2 dãy phía sau đối diện nhau, ở giữa là khoảng sân hẹp và giếng nước. (Ở đây dùng nước máy, giếng để dự phòng). Hai dãy nhà này đều có lầu. Gia đình anh được thuê hẳn một dãy như vậy, dãy nhà này có một phòng vệ tinh, nhà bếp, nhà ăn, còn trên lầu là nơi nghỉ ngơi.
Tín thấy một nơi tạm dung như thế này là tốt lắm rồi. Anh đã nghĩ nó tệ hơn kia. Căn nhà này cũng đơn điệu và khô khan, không biết ông chủ của căn nhà này thuộc hạng người nào, quan chức hay thương nhân, hay là kẻ đầu cơ; ông ta giàu có, lịch lãm, nhưng cũng tẻ nhạt như căn nhà này. Ông chuẩn bị ra đi, đồ đạc ông để lại hết, chỉ có hành lí nhẹ mang theo người. Vợ ông đẹp và sang trọng. Bảy người con: 3 trai, 4 gái ở vào tuổi đi học. Thằng bé nhỏ nhất khoảng 4 tuổi. Gia đình ông chuẩn bị xuống tàu, ông chào mọi người, sau khi đã dặn dò kỹ:
- Buổi tối, nhờ bà con thắp hương nơi bàn thờ Phật.
Họ đi qua trước mặt anh. Một cô gái bằng tuổi Thương, cũng mái tóc gợn sóng, dáng người mảnh mai, nhưng đôi mắt thì không đẹp bằng đôi mắt Thương - mắt Thương to sáng và ánh nhìn dịu dàng, còn cô bé này thì hơi kiêu hãnh. Khi đi qua trước mắt anh, cô cố tình chạm hành lí vào người anh với một nụ cười khiêu khích. Không phản ứng gì, Tín chẳng còn tâm trạng nào để chú ý đến sự khiêu khích đó - dáng đi nhún nhảy và hơi điệu, anh nghĩ:- Cô bé này thật nông cạn.
Sau khi người chủ nhà ra đi, Tín và gia đình sắp xếp mọi chuyện cho những ngày sắp tới. Tất cả đều ngăn nắp, sạch sẽ. Mấy đứa nhỏ: em gái út của Tín, hai cô con gái nhỏ của cô út anh, rất vui vì được ở cùng nhau trong căn nhà mới. Tín và ba anh đi xem xét một lượt trong căn nhà, bắt đầu từ nhà bếp. Nhà bếp rộng và thoáng, gồm có bếp và kho chứa củi. Cả nhà anh 18 người, có thể dùng trong 6 tháng. Còn ở một góc nhà bếp khác, anh thấy có rất nhiều chum vại. Ba anh bảo chị Thi mở ra xem có gì trong đó. Có hai chum mắm nục và mắm cơm, một chum cá ngừ thính, một chum nhỏ hơn là mắm ruốt, một chum cà pháo muối, chị Thi rất mừng. Như vậy là có cái ăn rồi, chỉ còn thiếu gạo. Tín và ba anh đi qua phòng ăn. Phòng ăn cũng rộng, một dãy bàn dài và sạch sẽ, tủ đựng chén, đối diện với tủ đựng chén là một tủ lạnh to tuớng. Tín mở tủ, hơi lạnh thoát ra, không có gì, chỉ có mấy chai nước lọc. Một chiếc xe Honda 50 còn mới ở một góc phòng. Một chiếc TV 14 in đặt trên một chiếc tủ khác gần đó.
Tín và ba quyết định đi thăm xã giao mấy nhà hàng xóm ở căn nhà đối diện. Anh và ba vào căn nhà đầu tiên, một người đàn ông đứng tuổi đang đọc báo trên ghế xếp. Người đàn ông hói đầu, lưng hơi cong, người hơi gầy nhưng khoẻ mạnh và linh hoạt. Ông mau mắn đón hai người vào nhà, chỉ bộ ghế salon kê giữa nhà:
- Mời anh và cháu ngồi.
Ba Tín kính cẩn và nhỏ nhẹ:
- Cảm ơn ông.
Ông ta ngồi xuống và nói với xuống nhà dưới:
- Bà ơi, có khách, mang cho tôi một ấm trà .
Một người đàn bà khoảng 60 tuổi, mập và cao lớn, có vẻ nặng nề, nhưng khuôn mặt và nụ cười hiền từ mang trà lên và cùng ngồi. Bà hỏi giọng ân cần và nhỏ nhẹ:
- Ông và cậu từ Tam Kỳ ra?
- Dạ!
Bà nói tiếp:
- Tôi vẫn hay vô đó buôn bán, nghe giọng nói là tôi nhận ra. Bà quay sang Tín:
- Cháu bao nhiêu tuổi?
- Dạ, 18 tuổi.
Bà cười và nhìn anh âu yếm:
- Đẹp trai thật!
Anh cười không biết trả lời sao. Ông chủ nhà mời họ uống trà.
- Thôi trước lạ sau quen. Chúng ta đã là hàng xóm rồi, có cần gì ông cứ hỏi. Giúp được, tôi sẽ cố gắng.
Ba anh trả lời xã giao:
- Chắc là phải nhờ cậy ông bà nhiều.
Ông ta vuốt mái đầu hói :
- Tôi nói thì không phải chứ ông đưa gia đình ra đây để làm gì, vất vả, tốn kém, còn nhà cửa tài sản nữa, không chừng kẻ gian lấy hết.
Ba anh trả lời :
- Ông nói cũng phải. Nhưng thấy người ta di tản nhiều quá, mình cũng sợ.
Ông ta đặt chén trà đã cạn xuống và rót thêm vào, thêm cả cho khách, lại vuốt mái tóc hói.
- Ông sợ cái gì mới được chứ?
-Tôi cũng không biết, sợ bom đạn, sợ những người phía bên kia cũng có.
Ông ta nói một cách sôi nổi và gãy gọn giống như đã chuẩn bị từ trước:
- Phía bên kia là ai? Họ cũng là người Việt Nam cả. Có thằng Mỹ, thằng Tây nào đâu. Mình là người Việt, đây là đất nước của mình, chẳng phải đi đâu cả.
Ba anh phân trần:
- Cũng biết thế, nhưng vẫn sợ.
- Như vậy là ông bị cái luận điệu tuyên truyền hù doạ rồi. Tôi cược với ông là mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Rồi ông sẽ ân hận vì chuyến đi này…- ông nói giọng kéo dài - cộng sản cũng là người Việt Nam, tại sao phải sợ chứ?
Ba anh khen ngợi xã giao:
- Ông có vẻ am hiểu tình hình.
Tín hiểu tính của ba anh. Khi ông nói như vậy có nghĩa là ông không tin gì vào những gì người đối thoại đã nói. Trong chiến tranh, người Việt Nam đã bị phân hoá, một ranh giới vô hình nhưng lạnh lùng và nghiệt ngã chia cắt họ. Khi dân tộc bị chia cắt bởi những tư tưởng, những chủ thuyết thì dân tộc đó sẽ suy yếu. Một dân tộc văn minh thì có nhiều tư tưởng nhiều quan niệm, nhưng nó không tạo nên mâu thuẫn và chia cắt. Anh nhìn thấy điều đó. Cũng như giữa ba anh và người đàn ông này - họ ngồi đối diện nhau qua một cái bàn nhỏ, nhưng suy nghĩ của họ thì xa nhau muôn trùng. Ba anh chuyển đề tài:
- Ông bà được mấy cháu?
Bà chủ nhà cởi mở:
- Chúng tôi được hai cháu gái. Chúng nó có chồng hết rồi, chỉ còn hai vợ chồng già buồn lắm.
Họ cáo từ và đi thăm người hàng xóm kế bên. Một người đàn ông có dáng vẻ của một công chức, trong bộ pijama trắng sạch sẽ, đôi kính cận dày cộm. Khuôn mặt đầy đặn, cử chỉ mực thước. Ông nói ít, thỉnh thoảng lại đẩy đôi kính nặng trể xuống. Ông chỉ hỏi thăm sức khỏe gia đình, việc học hành của Tín và tình hình trong Tam Kỳ.
Tín và ba anh cáo từ ra về. Ông chủ nhà niềm nở nói với Tín:
- Thỉnh thoảng qua đây chơi.
(Còn tiếp)
© 2008 www.danchimviet.com