Danchimviet - http://danchimviet.com
Di tản (8)
http://danchimviet.com/articles/560/1/Di-tn-8/TrangPage1.html
Huỳnh Ngọc Tuấn

 
Tác Giả: Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng lên/Published on 29.10.08
 
Trong chiến tranh, người Việt Nam đã bị phân hoá, một ranh giới vô hình nhưng lạnh lùng và nghiệt ngã chia cắt họ. Khi dân tộc bị chia cắt bởi những tư tưởng, những chủ thuyết thì dân tộc đó sẽ suy yếu.

Tín về đến nhà. Mẹ anh đang chờ trước sân, vẻ hốt hoảng lộ ra trên khuôn mặt già nua. Mẹ anh chạy vội ra khi anh xuất hiện ở cổng.

- Ôi con trai, con không sao chứ?

- Dạ không sao, mẹ ạ.

Mẹ Tín vuốt mái tóc hơi dài và rất nghệ sĩ của anh, bà xoa xoa lưng và vỗ nhè nhẹ.

- Con không sao là tốt rồi, thôi lên xe đi con.

Mẹ anh khệ nệ xách túi xách của anh và của mẹ. Mẹ anh là một người đàn bà nhỏ nhắn và thấp, chỉ tới vai anh. Anh thấy mẹ cằn cỗi từ những ngày gần đây. Mẹ mất ngủ và hơi bị khó thở. Anh đỡ hai tuí xách từ tay mẹ,nhưng mẹ không chịu.

- Để mẹ xách cho, con lên xe đi.

Ba anh từ phía sau trách bà :

- Bà để cho nó. Nó lớn rồi. Bà cứ coi nó như đứa bé lên năm mãi hay sao.

Họ lên xe, mẹ anh dùng khăn lau ghế cho anh ngồi. Bà ngồi một bên ngắm nghía con. Xe lăn bánh sau khi chất lên trần rất nhiều hành lý, dây nhợ chằng chịt bao quanh khối hành lý đó. Xe chạy ngang qua khu vực nhà Thương ở, anh chồm người ra ngoài để nhìn cho kỹ. Nhà Thương ở đó, chỗ vòm cây cao và xanh rờn. Anh rưng rưng nước mắt, bất chợt anh nhớ đến Tường và bài hát của Doãn Mẫn: ”biệt ly nhớ nhung từ đây, chiếc lá cuốn theo heo mây….”. Anh thấy mình chỉ là một chiếc lá bị cơn lốc thời cuộc ném đi một cách tàn nhẫn. Xe đã chạy xa rồi, vòm cây mờ dần và khuất hẳn. Lòng Tín giờ đây tan nát. Mẹ hiểu và an ủi anh.

- Con đừng lo, con bé Thương nó có tướng mệnh phụ, sẽ không sao đâu.

Anh biết mẹ chỉ an ủi anh thôi. Nhưng sợ mẹ lo lắng, anh cũng gượng cười. Bây giờ xe đã chạy rất xa, hai bên đường là cánh đồng lúa mênh mông, xanh rờn. Trời không gió, những khóm tre bao quanh những xóm nhà nhỏ chơ vơ giữa cánh đồng đứng lặng yên như buồn bã. Trên những con đê cỏ xanh mượt, người ta vẫn thả trâu - những con trâu to mập đủng đỉnh vừa đi vừa gặm cỏ. Hình như ở đây không hề có chiến tranh, anh nói với ba:

- Nông dân thế mà sướng, họ chẳng lo gì, chẳng chạy đi đâu hết.

Ba anh cười buồn buồn:

- Tài sản của nông dân chỉ có đất ruộng và trâu bò, họ biết làm gì được.

Anh chợt hiểu ra:

- Như vậy, nghĩa là trong cuộc đời này, chúng ta không thể lựa chọn. Ai đó hoặc hoàn cảnh nào đó đã lựa chọn cho chúng ta rồi - số phận - người ta gọi như vậy.

Chị Thi - con của bà cô ngồi phía sau, với một cô con gái hai tuổi đang ngủ trên tay:

- Thằng này trở thành ông cụ non hồi nào vậy?

Mẹ Tín ói mửa vì xe chạy quá nhanh và cũng vì mẹ quá yếu. Anh lo lắng nhìn mẹ, mặt mẹ xanh và hơi thất thần. Anh xoa dầu cho mẹ.

- Mẹ hít thở thật sâu nghe mẹ, sẽ đỡ thôi, mẹ ngồi ra cửa đi.

Ba anh bảo tài xế chạy chậm lại, mẹ ngồi bên cửa sổ thỉnh thoảng vẫn ói. Tín mong cho nhanh đến nơi để mẹ nghỉ ngơi. Bây giờ chỉ còn cách Đà Nẵng 30km. Đường đi có rất nhiều hố, do đạn pháo đào lên. Một chiếc xe nằm giữa ruộng, bánh xe chổng ngược lên trời. Ở đây, ruộng thấp hơn mặt đường khoảng 3m. Có người chết, anh thấy những chiếc chiếu và mền củ kỹ, có cái rách nát đắp kín những xác người, nhưng vẫn thấy hai bàn chân tái nhợt, xám ngoắt. Xe dừng lại, một số người đàn ông bước xuống, Tín đi theo ba. Ba anh dở mấy tấm chiếu đắp những người xấu số. Anh thấy 4 người đàn ông, 2 đàn bà và một cháu bé. Nhìn hành lí của họ, anh biết họ cũng là những người di tản như anh. Còn chiếu và mền thì anh biết là của mấy bác nông dân gần đó cho họ, chờ thân nhân đến nhận. Anh thấy thương cảm cho họ vô cùng. Làm sao thân nhân họ biết đựoc, không điện thoại, không liên lạc, không cảnh sát, làm sao đây?! Điều chắc chắn là các bác nông dân ở gần đây sẽ phải chôn cất họ thôi. Anh quay lại xe, mẹ anh đang ngồi bên vệ đường với mấy người phụ nữ trong gia đình. Mẹ có đỡ mệt hơn một tí.

Hai giờ chiều, xe đến Đà Nẵng. Xe chạy vào đường Nguyễn Hoàng, dừng lại trước một ngôi nhà khá lớn,có sân rộng rãi. Ngôi nhà to nhưng rất đơn điệu, đây là nhà mà ba anh nhờ một người bà con thuê từ mấy ngày trước, năm chỉ vàng trong 3 tháng. Ông chủ nhà - người thấp, đậm, da trắng, đôi mắt hơi đỏ, ông ăn mặt sang trọng. Nhìn ông, anh biết là hạng người giàu có, có nhiều mối quan hệ và thành đạt. Ông dẫn ba và Tín đi giới thiệu căn nhà. Nhà 3 dãy, dãy trước hướng ra đường, có hai gian rộng - một là phòng khách, một là điện thờ Phật; 2 dãy phía sau đối diện nhau, ở giữa là khoảng sân hẹp và giếng nước. (Ở đây dùng nước máy, giếng để dự phòng). Hai dãy nhà này đều có lầu. Gia đình anh được thuê hẳn một dãy như vậy, dãy nhà này có một phòng vệ tinh, nhà bếp, nhà ăn, còn trên lầu là nơi nghỉ ngơi.

Tín thấy một nơi tạm dung như thế này là tốt lắm rồi. Anh đã nghĩ nó tệ hơn kia. Căn nhà này cũng đơn điệu và khô khan, không biết ông chủ của căn nhà này thuộc hạng người nào, quan chức hay thương nhân, hay là kẻ đầu cơ; ông ta giàu có, lịch lãm, nhưng cũng tẻ nhạt như căn nhà này. Ông chuẩn bị ra đi, đồ đạc ông để lại hết, chỉ có hành lí nhẹ mang theo người. Vợ ông đẹp và sang trọng. Bảy người con: 3 trai, 4 gái ở vào tuổi đi học. Thằng bé nhỏ nhất khoảng 4 tuổi. Gia đình ông chuẩn bị xuống tàu, ông chào mọi người, sau khi đã dặn dò kỹ:

- Buổi tối, nhờ bà con thắp hương nơi bàn thờ Phật.

Họ đi qua trước mặt anh. Một cô gái bằng tuổi Thương, cũng mái tóc gợn sóng, dáng người mảnh mai, nhưng đôi mắt thì không đẹp bằng đôi mắt Thương - mắt Thương to sáng và ánh nhìn dịu dàng, còn cô bé này thì hơi kiêu hãnh. Khi đi qua trước mắt anh, cô cố tình chạm hành lí vào người anh với một nụ cười khiêu khích. Không phản ứng gì, Tín chẳng còn tâm trạng nào để chú ý đến sự khiêu khích đó - dáng đi nhún nhảy và hơi điệu, anh nghĩ:- Cô bé này thật nông cạn.

Sau khi người chủ nhà ra đi, Tín và gia đình sắp xếp mọi chuyện cho những ngày sắp tới. Tất cả đều ngăn nắp, sạch sẽ. Mấy đứa nhỏ: em gái út của Tín, hai cô con gái nhỏ của cô út anh, rất vui vì được ở cùng nhau trong căn nhà mới. Tín và ba anh đi xem xét một lượt trong căn nhà, bắt đầu từ nhà bếp. Nhà bếp rộng và thoáng, gồm có bếp và kho chứa củi. Cả nhà anh 18 người, có thể dùng trong 6 tháng. Còn ở một góc nhà bếp khác, anh thấy có rất nhiều chum vại. Ba anh bảo chị Thi mở ra xem có gì trong đó. Có hai chum mắm nục và mắm cơm, một chum cá ngừ thính, một chum nhỏ hơn là mắm ruốt, một chum cà pháo muối, chị Thi rất mừng. Như vậy là có cái ăn rồi, chỉ còn thiếu gạo. Tín và ba anh đi qua phòng ăn. Phòng ăn cũng rộng, một dãy bàn dài và sạch sẽ, tủ đựng chén, đối diện với tủ đựng chén là một tủ lạnh to tuớng. Tín mở tủ, hơi lạnh thoát ra, không có gì, chỉ có mấy chai nước lọc. Một  chiếc xe Honda 50 còn mới ở một góc phòng. Một chiếc TV 14 in đặt trên một chiếc tủ khác gần đó.

Tín và ba quyết định đi thăm xã giao mấy nhà hàng xóm ở căn nhà đối diện. Anh và ba vào căn nhà đầu tiên, một  người đàn ông đứng tuổi đang đọc báo trên ghế xếp. Người đàn ông hói đầu, lưng hơi cong, người hơi gầy nhưng khoẻ mạnh và linh hoạt. Ông mau mắn đón hai người vào nhà, chỉ bộ ghế salon kê giữa nhà:

- Mời anh và cháu ngồi.

Ba Tín kính cẩn và nhỏ nhẹ:

- Cảm ơn ông.

Ông ta ngồi xuống và nói với xuống nhà dưới:

- Bà ơi, có khách, mang cho tôi một ấm trà .

Một người đàn bà khoảng 60 tuổi, mập và cao lớn, có vẻ nặng nề, nhưng khuôn mặt và nụ cười hiền từ mang trà lên và cùng ngồi. Bà hỏi giọng ân cần và nhỏ nhẹ:

- Ông và cậu từ Tam Kỳ ra?

- Dạ!

Bà nói tiếp:

- Tôi vẫn hay vô đó buôn bán, nghe giọng nói là tôi nhận ra. Bà quay sang Tín:

- Cháu bao nhiêu tuổi?

- Dạ, 18 tuổi.

Bà cười và nhìn anh âu yếm:

- Đẹp trai thật!

Anh cười không biết trả lời sao. Ông chủ nhà mời họ uống trà.

- Thôi trước lạ sau quen. Chúng ta đã là hàng xóm rồi, có cần gì ông cứ hỏi. Giúp được, tôi sẽ cố gắng.

Ba anh trả lời xã giao:

- Chắc là phải nhờ cậy ông bà nhiều.

Ông ta vuốt mái đầu hói :

- Tôi nói thì không phải chứ ông đưa gia đình ra đây để làm gì, vất vả, tốn kém, còn nhà cửa tài sản nữa, không chừng kẻ gian lấy hết.

Ba anh trả lời :

- Ông nói cũng phải. Nhưng thấy người ta di tản nhiều quá, mình cũng sợ.

Ông ta đặt chén trà đã cạn xuống và rót thêm vào, thêm cả cho khách, lại vuốt mái tóc hói.

- Ông sợ cái gì mới được chứ?

-Tôi cũng không biết, sợ bom đạn, sợ những người phía bên kia cũng có.

Ông ta nói một cách sôi nổi và gãy gọn giống như đã chuẩn bị từ trước:

- Phía bên kia là ai? Họ cũng là người Việt Nam cả. Có thằng Mỹ, thằng Tây nào đâu. Mình là người Việt, đây là đất nước của mình, chẳng phải đi đâu cả.

Ba anh phân trần:

- Cũng biết thế, nhưng vẫn sợ.

- Như vậy là ông bị cái luận điệu tuyên truyền hù doạ rồi. Tôi cược với ông là mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Rồi ông sẽ ân hận vì chuyến đi này…- ông nói giọng kéo dài - cộng sản cũng là người Việt Nam, tại sao phải sợ chứ?

Ba anh khen ngợi xã giao:

- Ông có vẻ am hiểu tình hình.

Tín hiểu tính của ba anh. Khi ông nói như vậy có nghĩa là ông không tin gì vào những gì người đối thoại đã nói. Trong chiến tranh, người Việt Nam đã bị phân hoá, một ranh giới vô hình nhưng lạnh lùng và nghiệt ngã chia cắt họ. Khi dân tộc bị chia cắt bởi những tư tưởng, những chủ thuyết thì dân tộc đó sẽ suy yếu. Một dân tộc văn minh thì có nhiều tư tưởng nhiều quan niệm, nhưng nó không tạo nên mâu thuẫn và chia cắt. Anh nhìn thấy điều đó. Cũng như giữa ba anh và người đàn ông này - họ ngồi đối diện nhau qua một cái bàn nhỏ, nhưng suy nghĩ của họ thì xa nhau muôn trùng. Ba anh chuyển đề tài:

- Ông bà được mấy cháu?

Bà chủ nhà cởi mở:

- Chúng tôi được hai cháu gái. Chúng nó có chồng hết rồi, chỉ còn hai vợ chồng già buồn lắm.

Họ cáo từ và đi thăm người hàng xóm kế bên. Một người đàn ông có dáng vẻ của một công chức, trong bộ pijama trắng sạch sẽ, đôi kính cận dày cộm. Khuôn mặt đầy đặn, cử chỉ mực thước. Ông nói ít, thỉnh thoảng lại đẩy đôi kính nặng trể xuống. Ông chỉ hỏi thăm sức khỏe gia đình, việc học hành của Tín và tình hình trong Tam Kỳ.

Tín và ba anh cáo từ ra về. Ông chủ nhà niềm nở nói với Tín:

- Thỉnh thoảng qua đây chơi.
(Còn tiếp)

© 2008 www.danchimviet.com