Danchimviet - http://danchimviet.com
Di tản (4)
http://danchimviet.com/articles/544/1/Di-tn-4/TrangPage1.html
Huỳnh Ngọc Tuấn

 
Tác Giả: Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng lên/Published on 23.10.08
 
...“biệt ly nhớ nhung từ đây, chiếc lá rơi theo heo mây, người về có hay...”. Tín chết lặng người đi, sao Tường lại chọn bản nhạc này vào lúc này chứ! Bản nhạc - từng từ, từng nốt, làm tan vỡ tâm hồn đang đau đớn; nó xô lên những con sóng ẩn trú nơi sâu thẳm trong tâm hồn, làm quặn đau tâm thức...

Chiến sự mỗi ngày thêm ác liệt về cường độ và mở rộng về không gian. Vùng an ninh là vùng lãnh thổ chính phủ Việt Nam Cộng Hoà kiểm soát mỗi ngày càng bị thu hẹp và chia cắt. Gia đình Tín quyết định sửa sang, và mở rộng hầm trú ẩn cho kiên cố và tiện nghi hơn. Ông thợ ở gần nhà được giao phó công việc này cùng ba người thợ phụ việc. Ông thợ xây gầy, cao, và nhanh nhẹn, khoảng 50 tuổi, trông ông già hơn số tuổi và khuôn mặt khắc khổ. Có lẽ ông có một tuổi thơ vất vả.

Hầm trú ẩn cũ, nông và hẹp, phần nắp hầm bằng bê tông hơi mỏng. Cha anh sợ không chịu nổi những loại đạn có sức công phá lớn. Tất cả đều phải được sửa lại, rộng hơn, sâu hơn và có sức chịu đựng lớn hơn. Sắt, thép, ximăng, cát sỏi được đổ đầy cả một khoảng sân. Khoảnh sân này, không rộng lắm, khi dọn về đây, lúc ấy Tín mới 12 tuổi, Tín đã trồng trên đó một cây xoài. Bây giờ cây đã khá cao, tán lá đã che mát cả một vùng. Tín vẫn hay ngắm nghía nó hàng ngày vào những buổi sớm mai, hay những buổi chiều tà. Nhà anh trước đây sát cạnh nhà Thương. Tuổi thơ anh phủ đầy bóng lá, hương hoa trong khu vườn yên tĩnh, thơ mộng mà Thương là một nàng tiên bé nhỏ.

Ông thợ nói với cha anh, trong làn khói thuốc lá và thoảng cả mùi rượu:

- Anh quyết định sửa lại hầm là sáng suốt. Chiến sự sẽ ác liệt, và không loại trừ trọng pháo sẽ được sử dụng với mật độ dày đặc.

Ông ta nói chuyện rất sành sỏi và trôi chảy. Tín rất ngạc nhiên về sự am hiểu tình hình của ông ta. Tín phục ông ta và cũng muốn bắt chuyện:

- Chẳng lẽ người ta pháo kích cả vào khu dân cư?

- Không ai cố ý pháo kích vào khu dân cư nhưng khi cần sử dụng hỏa lực áp đảo thì người ta không loại trừ. Hơn nữa, trọng pháo nó đâu có mắt, tên bay đạn lạc là chuyện thường. Chiến tranh khó tránh được thương vong cho nên phải đề phòng. Ông ta nói bằng một giọng sắc lạnh. Tín hỏi:

- Có lẽ là bác nghe radio nhiều. Thường thì bác nghe đài gì?

Ông ta bình thản nhả khói thuốc và trả lời:

- BBC và đài của phía bên kia. Cha anh nói:

- Người ta có điều kiện thì người ta đi nước ngoài. Mình nghèo thì chỉ có thể làm thế này thôi. Chỉ mong trời đất che chở cho tai qua, nạn khỏi.

Ông ta nói với vẻ khinh khỉnh:

- Đây là đất nước của mình, tội gì phải đi đâu anh. Thằng Pháp, thằng Mỹ nó đâu có thương dân mình. Chỉ có mình mới thương mình thôi.

Ba Tín chậm rãi ngồi xuống bên chiếc bàn tròn, trên đó để rất nhiều trái cây và nước giải khát cho thợ dùng. Và cũng bằng giọng chậm rãi, ông nói:

- Trong cuộc chiến này, tôi chẳng thấy người ngoại quốc nào giết dân mình, chỉ có mình giết mình là nhiều nhất. Vì cái gì mới được chứ. Tôi thấy cuộc chiến này quá điên khùng.

Mắt ông thợ xây sáng quét, ông ta linh hoạt hẳn lên vì có đề tài để tranh luận:

- Cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh giải phóng.

- Giải phóng à, tôi không hiểu! Ba Tín nhẹ nhàng phản ứng, nhưng có vẻ cương quyết, vì ba anh tin vào những kinh nghiệm và suy tư của ông.

Ông thợ xây nói và diễn đạt nó bằng bàn tay to và chắc nịch:

- Anh thấy không, nó muốn biến nước ta thành một thứ thuộc địa kiểu mới, và đất nước này là đất nước của những người giàu có. Còn người dân thì có cái gì. Mọi cái đều ở trong tay của bọn tư sản.

Ba anh lặng thinh trước những lời lẽ đầy phẫn uất, và thiên lệch. Chỉ còn lại ông ta tuôn ra những gì ông suy nghĩ và ôm ấp.

-  Ở các nước Đông Âu và Liên Xô, nhà máy - xí nghiệp là của công nhân. Người dân là chủ đất nước, công nhân là chủ nhà máy.

Ông ta nói với cái luận điệu giống với Sơn - bạn Tín. Sao họ suy nghĩ giống nhau như vậy! Ai đã nói với họ điều ấy. Tín thoáng hiểu ra: ở miền Nam này, phương tiện thông tin đâu có thiếu. Ba anh mỉm cười:

- Ông này khuynh tả quá nặng rồi. Nhưng tôi khuyên ông, điều gì cũng phải nhìn bằng cái tâm bình thản. Chỉ khi bình thản ta mới sáng suốt và không thiên lệch.

Tín vào phòng của mình, nằm dài, nhìn lên trần. Tín so sánh những gì ông thợ xây và Sơn nói thì ở các nước xã hội chủ nghĩa đúng là thiên đường rồi. Thế nhưng tại sao lại có bức tường Berlin, rồi dòng người tị nạn đi tìm tự do và hạnh phúc. Một bên là lời nói của ông thợ hồ, một bên là lời nói của mẹ Thương - người phụ nữ mà anh thương yêu và kính trọng, một người phụ nữ mẫu mực và nhân hậu. Tín rùng mình khi hình dung đến những thây người rách nát, xanh xao, bê bết  máu nằm vắt vẻo trên bức tường Berlin khi cuộc vượt thoát thất bại.


Tường, Hưng đến nhà Tín. Họ cùng đi tắm sông “lần cuối cùng” như Tường đã nói. Họ đi về một vùng quê yên tĩnh nằm sát thị xã. Con đường đất đỏ ngoằn nghèo chạy giữa những khu vườn đầy bóng cây - những ngôi nhà cổ kính và bé nhỏ. Những chiếc cổng rêu phong; những giếng nước được xây bằng đá núi, hoặc đá ong, thành giếng thấp và đầy rêu xanh, nước mát và trong. Những bờ tre dày che kín những căn nhà, những cây vú sữa sum sê,tán lá rất gần; xoài, nhãn, dừa, vô vàn  những cây ăn trái. Những vườn cây này có một kỉ niệm sâu sắc với họ từ bé.Họ đi từ vườn này sang vườn khác. Khi tắm sông về bụng đói, họ vào những vườn cây này để mua vú sữa, xoài, dừa, và cũng không ít lần liều lĩnh hái trộm.

Bờ sông dốc và cao. Bờ cao ấy chạy dài về phía núi, xa là rừng cây thấp. Rừng cây thấp với vườn nhà lẫn lộn. Họ tựa xe vào những cây bứa (những cây bứa có lá xanh, tròn và chua, trái gần giống với trái măng cụt, nhưng vàng khi chín, vừa chua, vừa ngọt).

Men xuống theo một triền dốc thấp, cát ở bờ sông lạo xạo, êm đềm dưới chân. Bóng chiều đang xuống chầm chậm bên kia sông. Hàng cây bên ấy cao và thẳng tắp. Nắng nhuộm vàng những tán lá xôn xao gió, nắng vàng trải xuống bờ sông bên kia - những ánh vàng rực rỡ lấp lánh. Gió chiều nay cũng lặng lẽ, chỉ có một vài thoáng gió chạy đuổi nhau trên hàng cây. Mặt nước sông yên tĩnh, nên hai bờ như rộng hơn. Tường không muốn tắm, đi lang thang dọc bờ sông, như tìm kiếm và lưu giữ những kỉ niệm. Tín và Hưng hiểu tâm trạng của Tường nên lặng lẽ đi phía sau. Dáng người cao lớn, hơi gầy một chút; thời gian gần đây, trông Tường như một diễn viên đẹp và đầy ấn tượng. Vừa đi họ vừa nhặt những miếng đá mỏng và liếc nó trên mặt sông. Những miếng đá mảnh dẻ, nhảy từng bước ngắn dần trên mặt nước và nhẹ nhàng chìm xuống. Tường chọn một gốc cây có rể tua tủa chạy ngang và đâm xuống bờ cát. Tín hỏi Tường, để xoá đi sự yên lặng:

- Mấy hôm nay mày có đến chỗ Hạnh không? Cô ấy thế nào?

Tường dựa vào một cái rễ lớn có vẻ mệt mỏi và buồn vời vợi.

- Ngày nào tao cũng đến, Hạnh cứ khóc hoài, gầy hẳn và xanh xao. Tao không biết phải làm gì, mọi lời nói bây giờ không còn ý nghĩa gì với Hạnh. Đường nào thì tụi mình cũng chia tay, không phải do ý mình mà do hoàn cảnh. Tao thấy bất lực khi đứng trước một hoàn cảnh mà mình phải chấp nhận như một số mệnh.

Dừng lại một chút, rồi Tường nói tiếp:

- Trước đây, tao cũng có ý định sang Mỹ du học. Anh chị tao ở đó nên tao hiểu cuộc sống với những cơ hội bên đó. Học để phục vụ đất nước, bên đó có nhiều cái để mình học: học kinh doanh, quản lý, công nghệ và học cả nền dân chủ của họ.

Hưng nói với một chút bất bình:

- Việt Nam Cộng Hoà chẳng phải cũng rất dân chủ đấy thôi!

Tường nói quả quyết:

- So với Hoa Kì thì Việt Nam Cộng Hoà cũng chưa thực sự dân chủ đâu.

Tín hỏi như một anh chàng nhà quê:

- Có nghĩa là nước Mỹ rất tuyệt vời?

Tường gật đầu chậm rãi:

- Rất tuyệt. Mày thấy không, bất cứ một người nào của bất cứ quốc gia nào cũng muốn định cư ở Mỹ. Nước Mỹ hội tụ những nhân tài, các chính khách lưu vong, những nhà khoa học, những học giả, những văn nghệ sĩ và rất nhiều những người bình thường. ”Đất lành chim đậu”, ông bà ta đã nói rồi mà. Nhưng với tao, cơ hội đến nước Mỹ, lại đến trong cay đắng. Không biết khi tao ra đi, Hạnh có đủ nghị lực để vượt qua không? Tao mong là Hạnh sẽ quên tao và tìm một niềm vui mới… Nhưng tao hiểu Hạnh, điều đó không dễ chút nào. Tao không thể ở lại với Hạnh được, như vậy mẹ tao sẽ không sống nổi, tim bà có vấn đề.

- Đã định ngày đi chưa?

- Mười lăm ngày nữa, sẽ làm tiệc chia tay ở nhà tao. Tao muốn đến đây và đến một số nơi khác nữa - những nơi mà tao không thể quên được, vì nó là tuổi thơ của tao. Hi vọng là hai đứa mày cũng đi.

Hưng nói với cái vẻ vô tư và hài hước vốn có:

- Ba đứa mình cùng tuổi Tuất sinh năm 1958. “Mạng bình địa mộc, tam mộc thành lâm”. Thằng Tường đi rồi, hai đứa còn lại thành cái gì đây.

- Chẳng thành cái gì cả, rừng đã mất chỉ còn cây. Cây mà không thành rừng thì cây đơn độc. Tường đứng dậy vừa đi vừa nói.

Chiều xuống thấp, mặt trời đã khuất, dòng sông yên tĩnh và quen thuộc biết bao. Không biết nó có cảm nhận được gì không, khi phải chia tay với một người bạn. Riêng Tín, anh thấy đôi mắt Tường thăm thẳm buồn. Tường đứng trên bờ cao nhìn dòng sông, bịn rịn.

Mười lăm ngày trôi qua. Trong mười lăm ngày ngắn ngủi ấy, Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi rất nhiều vùng đất mà trước đây họ kiểm soát. Tình hình hỗn mang, dân chúng thì như một bầy kiến hỗn loạn chạy quanh chiếc tổ sắp bị vỡ tung. Có nhà thì xây lại hầm trú ẩn để “cố thủ”, có người chạy về nông thôn, và chẳng biết chạy đi đâu; điều kiện vật chất không có, họ chờ đợi trong buồn phiền và căng thẳng. Có gia đình thì định di tản đi Đà Nẵng. Ở đó, có thể vào Sài Gòn bằng đường biển nếu Đà Nẵng bị đe doạ hoặc thất thủ.

Tường tổ chức bữa tiệc chia tay trong hoàn cảnh như vậy. Hơn 60 giấy mời gởi đi, chỉ có gần 30 người đến dự… Đó là những người tâm giao, gần gũi với Tường hoặc Hạnh. Trong bóng mát của khu vườn quen thuộc, nhiều chiếc bàn đặt nối liền nhau phủ nỉ đỏ, dưới tán lá của những cây mận, cây nhãn sum suê; những cành lá thật gần, chỉ cần với tay là tới. Những mùa hè trước, những cành cây này rũ xuống với những chùm nhãn ngọt lịm, những trái mận đủ màu, mọng nước và đẹp mắt. Trên bàn, bày rất nhiều thức ăn ngon và lạ được những đầu bếp khéo tay nấu rất cầu kỳ. Rất nhiều nước ngọt lon và chai của những hãng nước giải khát nổi tiếng. Tường và Hạnh ngồi ở đầu bàn, vị trí của người chủ, họ ngồi gần bên nhau sang trọng và rực rỡ trong những bộ trang phục đắt tiền. Nhưng nhìn họ, Tín thấy đau lòng. Tường thì ủ rũ và gầy đi nhiều, mắt Tường sâu, chỉ có cái vẻ lịch lãm là vẫn nguyên vẹn. Còn Hạnh thì tệ hơn nhiều, vẻ đẹp quyền quí đã héo hon đi; Hạnh mệt mỏi và ủ ê. Họ ngồi như những pho tượng, nụ cười héo hắt, đôi mắt chất chứa niềm đau tuyệt vọng, vì thiên đường ước mơ của họ hoàn toàn bị sụp đổ. Tường đứng lên, tay nâng ly Champagne, Hạnh ở bên cạnh, giọng Tường chậm rãi và buồn bã như sắp khóc:

- Hôm nay,mời các bạn đến đây để dự tiệc chia tay… Điều mà mình không bao giờ dự kiến. Tưởng rằng một ngày nào đó rất gần, cũng tại nơi đây, chúng tôi sẽ đón chào các bạn dự tiệc cưới. Nhưng cuộc chiến ác liệt này đã phá huỷ tất cả - tất cả, những ước mơ và những dự định bình thường nhất cũng tan vỡ hết. Người ta nói đó là định mệnh nhưng mình không tin ở định mệnh. Đó là sự lựa chọn sai lầm của con người, và con người, nhất là những thế hệ trẻ phải trả giá cho sự sai lầm đó. Cầu trời cho mọi việc tốt đẹp trở lại, và mình lại quay về; cầu xin ơn trên cho chúng ta không ai phải chịu bất hạnh, mất mát. Với niềm hy vọng đó, chúng tôi mời các bạn nâng cốc.

Tín và Thương chọn một chỗ hơi xa Tường và Hạnh. Tín không đủ can đảm để nhìn thấy Hạnh trong tình cảnh hiện nay. Cô ấy như người mất hồn và suy sụp. Khác với những buổi tiệc trước đây, rất ồn ào; mọi người nói với nhau rất nhỏ; thức ăn trên bàn không ai đụng tới. Họ chỉ uống nước, nhiều người uống như một cái máy, uống liên miên, để không còn thấy chết cứng ở cái bàn tiệc này. Tâm trạng họ rối bời những lo âu và hoảng sợ.

Tường với cây ghita để sẵn bên cạnh đứng lên hát: “biệt ly nhớ nhung từ đây, chiếc lá rơi theo heo mây, người về có hay...”. Tín chết lặng người đi, sao Tường lại chọn bản nhạc này vào lúc này chứ! Bản nhạc - từng từ, từng nốt, làm tan vỡ tâm hồn đang đau đớn; nó xô lên những con sóng ẩn trú nơi sâu thẳm trong tâm hồn, làm quặn đau tâm thức, làm vỡ tung lồng ngực, làm cho thân người tê dại và buốt đau…. Những cô gái  gục đầu xuống bàn khóc nức nở, đôi vai run lên. Họ khóc ấm ức và đau đớn. Thương gục đầu trên bàn, mái tóc mây mượt mà phủ trên tấm nỉ đỏ. Tín đặt tay lên vai Thương vuốt nhè nhẹ an ủi. Thương tìm bàn tay Tín quờ quạng và yếu đuối, như một người chơi vơi giữa dòng nước. Tường vẫn hát giọng đầy nước mắt: “Người về u buồn ngất trời, người ra đi với ngàn nhớ thương”. Tín trách sao Tường lại chọn bản nhạc này nhưng cũng vô cùng cảm động, vô cùng cảm ơn Tường đã chọn bản nhạc này để hát hôm nay. Dường như Doãn Mẫn đã viết cho họ thì phải? Không còn kiềm chế được nữa, Hạnh nức nở, tiếng khóc bi thương như một con chim bị trúng đạn, tiếng khóc giận hờn và tuyệt vọng. Tường buông đàn, ôm Hạnh vào lòng. Bữa tiệc chìm trong nước mắt.
(Còn tiếp)

© 2008 www.danchimviet.com