- Trang Chủ
- Phiếm Luận
- Chàng Trư thời mở cửa
Chàng Trư thời mở cửa
- Tác Giả: Hồ Thiền Quang
- Đăng ngày 18.10.08
- Phiếm Luận
- Chưa xếp hạng
Bác tôi là cửa hàng trưởng cửa hàng “comfo’’ bình dân từ nhiều năm nay. Khi nhà nước xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp, các cửa hàng ăn uống thương nghiệp mậu dịch Quốc doanh, từ chỗ đông vui nhộn nhịp, chen lấn xô đẩy như chùa bà Banh cả lượt, liền bị thu hết phép thiêng, các tín chủ mười phương không ai bảo ai cũng vứt lại cây gậy thần quyền lực (tác dụng như những ô tem phiếu) để chuyên chọc vào cái chỗ “dày dày đúc sẵn” luôn “banh’’ ra của bà để xin phúc, tài, lộc, thọ, vinh hoa, phú qúy, cầu an, hưởng lạc v.v... bỗng bỏ đi vãn. Chùa bị đổi tên thành chùa bà Đanh, còn để lại câu tục ngữ “vắng ngắt’’ như hôm nay.
Còn bác tôi, từ khi cửa hàng ăn uống chuyển thành... nhà hoang, không còn cái để “banh" ra, cũng không ai lai vãng bỏ tiền lệ phí nuôi nhân viên cửa hàng, đành nhào ra vỉa hè kiếm sống. Vừa nuôi cả bầy trứng gà, trứng vịt lít nhít con mình lại nuôi cả đàn cháu chồng khi bố mẹ chúng không may thiệt phận. Thịt với da tim, óc tách rời như người bình thường lại không muốn, cứ thích như thơ Tố Hữu tả : “Thịt với da tim óc dính liền”, mẹ vào nhà thương điên, bố vào nhà xác... để lại bày con lít nhít cho chị ruột nuôi. Giờ đứa nào đứa nấy đều đã ra giàng. Đứa vào... sở thú, đứa ra thảo cầm viên, có đứa rách việc hơn, còn theo máy bay ra xuất khẩu tận nước ngoài. Toàn những việc không tên, không tuổi, chẳng một chút tai, tiếng gì mà rủng rỉnh chật ống, lũ lượt kéo nhau đi ở riêng cả lượt.
Sở dĩ bác vẫn phải giữ nguyên cơ nghiệp này, phần vì khách đông, phần vì thói quen. Trước cứ 2, 3 giờ sáng là đụng dao thớt, “nổi lửa lên em’’ để phục vụ các vị thượng đế ăn sáng, thành quen. Giờ có bỏ nghề hoặc ỉ lại cho “Ô sin’’ cũng không thể nằm cố, hay ngủ rốn được. Tuổi già chả thèm sáng, lăn lóc mãi không ngủ được nên các vị bô lão quanh cửa hàng cứ hễ nghe bác đụng dao thớt là lọ mọ trở dậy tập thể dục. Vừa thở, vừa hô, 1,2,3... khoẻ(!) Khi ngót bụng lại tìm vào quán bác điểm tâm, lót dạ, trò chuyện, bù khú.
Chỉ chuyện phở bò, song quán bác tôi là một trong ít quán còn giữ được hương vị, cách thức chế biến từ thời phở nước ta được du nhập từ tàu phù vào. Bánh thái bằng tay, ngoài hương liệu, thảo quả còn cả xá sùng. Nước dùng vừa ngọt, vừa đậm, thơm điếc mũi, vị thơm thấm vào tận đầu lưỡi, đến tim phổi, dạ dày, đánh thức con tì, con vị nên bao giờ cũng đông khách nhất phố. Chỉ quãng mười giờ sáng, mấy trăm bát phở đã hết veo, nhường chỗ cho chim quay, gà tần, lươn xào, cá hấp, ốc nướng, bê thui, bò hầm v.v.. Toàn đặc sản cao cấp mà thời bao cấp chỉ có ở trong các cửa hàng Tôn Đản, Nhà thờ, hoặc quá quắt lắm là chợ Đồng xuân.
Vừa bày hàng ra tủ chào mời túi tiền của các vị thượng đế cao cấp, bác vừa tủm tỉm bình luận:
- Ngày xưa ấy à, vỉa hè này chỉ là của nhân dân anh hùng thôi nhớ. Toàn rau dưa lằng nhằng, lấy đâu ra cao lương mĩ vị thế này ?
Nhìn theo tay bác, tôi chợt nhớ tới câu sấm truyền bất hủ của một thời:
“Tôn Đản là của vua quan
Nhà thờ là của trung gian nịnh thần
Đồng xuân là của thương nhân
Vỉa hè là của... nhân dân anh hùng”.
Còn bây giờ đúng là người làm ra tiền, ra tiêu chuẩn thật, chứ đâu phải ngược lại: Tem phiếu, tiêu chuẩn làm ra con người ? Chúng ta bình đẳng trước... túi tiền và cũng nhờ túi tiền mà vừa ngẩng cao đầu với xã hội, vừa bình đẳng trước Pháp luật(!).
Bốn mươi năm phục vụ cho nhà nước, vừa rời khỏi bầu vú mẹ đã sà vào bầu vú quan liêu bao cấp, phận “làm dâu trăm họ” phải kèn cựa, cạnh tranh, thu gom, bớt xén, móc nối, dấm dúi, đục nước béo cò để mút mát từng giọt sữa rơi vãi, thừa cặn của bà mẹ nghèo, ảo tưởng, nuôi con. Bác thấu hiểu cảnh đời, cảnh người, từ cái đầu xã hội chủ nghĩa đến cái đuôi định hướng... và trở nên ứng đối linh hoạt trong việc chiều chuộng đủ mọi đối tượng khách hàng, từ thượng vàng, hạ cám... từ phở 5 nghìn đồng “không người lái’’ đến phở 30 nghìn đồng đập trứng, thêm nạm, gầu, thịt, nước béo v.v... Cơm cũng vậy, người ít tiền chỉ ngồi dăm phút gọi một nghìn cơm, một nghìn canh kèm một miếng đậu phụ (Phải ngẩn ngơ đến phút chót để quyết định). Đến các vị gáy phẳng, bụng phệ, ngồi bệt mấy tiếng, tu hết vài két bia, ăn vã nửa quầy thức ăn bác cũng biết mà chiều chuộng, miễn đảm bảo nguyên tắc: “phục vụ nhân dân là chính, lấy phúc đức là căn bản’’.
- Lấy lãi chứ bác, tưởng bác nói nghịu, tôi nhắc.
- Cha bố con mẹ đẻ anh, bác quát, tôi lấy lãi để xuống diêm vương làm từ thiện, ủng hộ quỹ “xoá đói giảm nghèo’’ ở dưới ấy à ? Hay là để Diêm Vương chỉ mặt, thả vào vạc dầu sôi ? Cả tôi lẫn bác trai cậu đều được hưởng tiêu chuẩn, chế độ lâu dài của nhà nước, con cái vương giả cả... Cậu không thấy mười lăm, hai mươi cô Ô sin nhà tôi đều là con cháu trong họ, ngoài làng đấy à? Cả ngày chổng mông gập gối, bán mặt cho đất, bán lưng cho giời mà giời có thương, đất có thấu đâu, có đủ để vắt mũi bỏ vào miệng đâu ? Tôi gọi ra đây bán hàng phục vụ thượng đế, cứ từ 2 giờ sáng đến 2 giờ chiều rồi tận dụng cơm thừa, canh cặn nuôi lợn... chả nở nụ cười thu hoạch, cười như Mán được mùa ngô, quanh năm suốt tháng ấy à ?
Còn bác tôi, từ khi cửa hàng ăn uống chuyển thành... nhà hoang, không còn cái để “banh" ra, cũng không ai lai vãng bỏ tiền lệ phí nuôi nhân viên cửa hàng, đành nhào ra vỉa hè kiếm sống. Vừa nuôi cả bầy trứng gà, trứng vịt lít nhít con mình lại nuôi cả đàn cháu chồng khi bố mẹ chúng không may thiệt phận. Thịt với da tim, óc tách rời như người bình thường lại không muốn, cứ thích như thơ Tố Hữu tả : “Thịt với da tim óc dính liền”, mẹ vào nhà thương điên, bố vào nhà xác... để lại bày con lít nhít cho chị ruột nuôi. Giờ đứa nào đứa nấy đều đã ra giàng. Đứa vào... sở thú, đứa ra thảo cầm viên, có đứa rách việc hơn, còn theo máy bay ra xuất khẩu tận nước ngoài. Toàn những việc không tên, không tuổi, chẳng một chút tai, tiếng gì mà rủng rỉnh chật ống, lũ lượt kéo nhau đi ở riêng cả lượt.
Sở dĩ bác vẫn phải giữ nguyên cơ nghiệp này, phần vì khách đông, phần vì thói quen. Trước cứ 2, 3 giờ sáng là đụng dao thớt, “nổi lửa lên em’’ để phục vụ các vị thượng đế ăn sáng, thành quen. Giờ có bỏ nghề hoặc ỉ lại cho “Ô sin’’ cũng không thể nằm cố, hay ngủ rốn được. Tuổi già chả thèm sáng, lăn lóc mãi không ngủ được nên các vị bô lão quanh cửa hàng cứ hễ nghe bác đụng dao thớt là lọ mọ trở dậy tập thể dục. Vừa thở, vừa hô, 1,2,3... khoẻ(!) Khi ngót bụng lại tìm vào quán bác điểm tâm, lót dạ, trò chuyện, bù khú.
Chỉ chuyện phở bò, song quán bác tôi là một trong ít quán còn giữ được hương vị, cách thức chế biến từ thời phở nước ta được du nhập từ tàu phù vào. Bánh thái bằng tay, ngoài hương liệu, thảo quả còn cả xá sùng. Nước dùng vừa ngọt, vừa đậm, thơm điếc mũi, vị thơm thấm vào tận đầu lưỡi, đến tim phổi, dạ dày, đánh thức con tì, con vị nên bao giờ cũng đông khách nhất phố. Chỉ quãng mười giờ sáng, mấy trăm bát phở đã hết veo, nhường chỗ cho chim quay, gà tần, lươn xào, cá hấp, ốc nướng, bê thui, bò hầm v.v.. Toàn đặc sản cao cấp mà thời bao cấp chỉ có ở trong các cửa hàng Tôn Đản, Nhà thờ, hoặc quá quắt lắm là chợ Đồng xuân.
Vừa bày hàng ra tủ chào mời túi tiền của các vị thượng đế cao cấp, bác vừa tủm tỉm bình luận:
- Ngày xưa ấy à, vỉa hè này chỉ là của nhân dân anh hùng thôi nhớ. Toàn rau dưa lằng nhằng, lấy đâu ra cao lương mĩ vị thế này ?
Nhìn theo tay bác, tôi chợt nhớ tới câu sấm truyền bất hủ của một thời:
“Tôn Đản là của vua quan
Nhà thờ là của trung gian nịnh thần
Đồng xuân là của thương nhân
Vỉa hè là của... nhân dân anh hùng”.
Còn bây giờ đúng là người làm ra tiền, ra tiêu chuẩn thật, chứ đâu phải ngược lại: Tem phiếu, tiêu chuẩn làm ra con người ? Chúng ta bình đẳng trước... túi tiền và cũng nhờ túi tiền mà vừa ngẩng cao đầu với xã hội, vừa bình đẳng trước Pháp luật(!).
Bốn mươi năm phục vụ cho nhà nước, vừa rời khỏi bầu vú mẹ đã sà vào bầu vú quan liêu bao cấp, phận “làm dâu trăm họ” phải kèn cựa, cạnh tranh, thu gom, bớt xén, móc nối, dấm dúi, đục nước béo cò để mút mát từng giọt sữa rơi vãi, thừa cặn của bà mẹ nghèo, ảo tưởng, nuôi con. Bác thấu hiểu cảnh đời, cảnh người, từ cái đầu xã hội chủ nghĩa đến cái đuôi định hướng... và trở nên ứng đối linh hoạt trong việc chiều chuộng đủ mọi đối tượng khách hàng, từ thượng vàng, hạ cám... từ phở 5 nghìn đồng “không người lái’’ đến phở 30 nghìn đồng đập trứng, thêm nạm, gầu, thịt, nước béo v.v... Cơm cũng vậy, người ít tiền chỉ ngồi dăm phút gọi một nghìn cơm, một nghìn canh kèm một miếng đậu phụ (Phải ngẩn ngơ đến phút chót để quyết định). Đến các vị gáy phẳng, bụng phệ, ngồi bệt mấy tiếng, tu hết vài két bia, ăn vã nửa quầy thức ăn bác cũng biết mà chiều chuộng, miễn đảm bảo nguyên tắc: “phục vụ nhân dân là chính, lấy phúc đức là căn bản’’.
- Lấy lãi chứ bác, tưởng bác nói nghịu, tôi nhắc.
- Cha bố con mẹ đẻ anh, bác quát, tôi lấy lãi để xuống diêm vương làm từ thiện, ủng hộ quỹ “xoá đói giảm nghèo’’ ở dưới ấy à ? Hay là để Diêm Vương chỉ mặt, thả vào vạc dầu sôi ? Cả tôi lẫn bác trai cậu đều được hưởng tiêu chuẩn, chế độ lâu dài của nhà nước, con cái vương giả cả... Cậu không thấy mười lăm, hai mươi cô Ô sin nhà tôi đều là con cháu trong họ, ngoài làng đấy à? Cả ngày chổng mông gập gối, bán mặt cho đất, bán lưng cho giời mà giời có thương, đất có thấu đâu, có đủ để vắt mũi bỏ vào miệng đâu ? Tôi gọi ra đây bán hàng phục vụ thượng đế, cứ từ 2 giờ sáng đến 2 giờ chiều rồi tận dụng cơm thừa, canh cặn nuôi lợn... chả nở nụ cười thu hoạch, cười như Mán được mùa ngô, quanh năm suốt tháng ấy à ?

