Danchimviet - http://danchimviet.com
Chàng Trư thời mở cửa
http://danchimviet.com/articles/529/1/Chang-Tr-thi-m-ca/Page1.html
Hồ Thiền Quang

 
Tác Giả Hồ Thiền Quang
Đăng/Published on 18.10.08
 
Bốn mươi năm phục vụ cho nhà nước, vừa rời khỏi bầu vú mẹ đã sà vào bầu vú quan liêu bao cấp, phận “làm dâu trăm họ” phải kèn cựa, cạnh tranh, thu gom, bớt xén, móc nối, dấm dúi, đục nước béo cò để mút mát từng giọt sữa rơi vãi, thừa cặn của bà mẹ nghèo, ảo tưởng, nuôi con. Bác thấu hiểu cảnh đời...

Bác tôi là cửa hàng trưởng cửa hàng “comfo’’ bình dân từ nhiều năm nay. Khi nhà nước xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp, các cửa hàng ăn uống thương nghiệp mậu dịch Quốc doanh, từ chỗ đông vui nhộn nhịp, chen lấn xô đẩy như chùa bà Banh cả lượt, liền bị thu hết phép thiêng, các tín chủ mười phương không ai bảo ai cũng vứt lại cây gậy thần quyền lực (tác dụng như những ô tem phiếu) để chuyên chọc vào cái chỗ “dày dày đúc sẵn” luôn “banh’’ ra của bà để xin phúc, tài, lộc, thọ, vinh hoa, phú qúy, cầu an, hưởng lạc v.v... bỗng bỏ đi vãn. Chùa bị đổi tên thành chùa bà Đanh, còn để lại câu tục ngữ “vắng ngắt’’ như hôm nay.

Còn bác tôi, từ khi cửa hàng ăn uống chuyển thành... nhà hoang, không còn cái để  “banh" ra, cũng không ai lai vãng bỏ tiền lệ phí nuôi nhân viên cửa hàng, đành nhào ra vỉa hè kiếm sống. Vừa nuôi cả bầy trứng gà, trứng vịt lít nhít con mình lại nuôi cả đàn cháu chồng khi bố mẹ chúng không may thiệt phận. Thịt với da tim, óc tách rời như người bình thường lại không muốn, cứ thích như thơ Tố Hữu tả : “Thịt với da tim óc dính liền”, mẹ vào nhà thương điên, bố vào nhà xác... để lại bày con lít nhít cho chị ruột nuôi. Giờ đứa nào đứa nấy đều đã ra giàng. Đứa vào... sở thú, đứa ra thảo cầm viên, có đứa rách việc hơn, còn theo máy bay ra xuất khẩu tận nước ngoài. Toàn những việc không tên, không tuổi, chẳng một chút tai, tiếng gì mà rủng rỉnh chật ống, lũ lượt kéo nhau đi ở riêng cả lượt.

Sở dĩ bác vẫn phải giữ nguyên cơ nghiệp này, phần vì khách đông, phần vì thói quen. Trước cứ 2, 3 giờ sáng là đụng dao thớt, “nổi lửa lên em’’ để phục vụ các vị thượng đế ăn sáng, thành quen. Giờ có bỏ nghề hoặc ỉ lại cho “Ô sin’’ cũng không thể nằm cố, hay ngủ rốn được. Tuổi già chả thèm sáng, lăn lóc mãi không ngủ được nên các vị bô lão quanh cửa hàng cứ hễ nghe bác đụng dao thớt là lọ mọ trở dậy tập thể dục. Vừa thở, vừa hô, 1,2,3... khoẻ(!) Khi ngót bụng lại tìm vào quán bác điểm tâm, lót dạ, trò chuyện, bù khú.

Chỉ chuyện phở bò, song quán bác tôi là một trong ít quán còn giữ được hương vị, cách thức chế biến từ thời phở nước ta được du nhập từ tàu phù vào. Bánh thái bằng tay, ngoài hương liệu, thảo quả còn cả xá sùng. Nước dùng vừa ngọt, vừa đậm, thơm điếc mũi, vị thơm thấm vào tận đầu lưỡi, đến tim phổi, dạ dày, đánh thức con tì, con vị nên bao giờ cũng đông khách nhất phố. Chỉ quãng mười giờ sáng, mấy trăm bát phở đã hết veo, nhường chỗ cho chim quay, gà tần, lươn xào, cá hấp, ốc nướng, bê thui, bò hầm v.v.. Toàn đặc sản cao cấp mà thời bao cấp chỉ có ở trong các cửa hàng Tôn Đản, Nhà thờ, hoặc quá quắt lắm là chợ Đồng xuân.

Vừa bày hàng ra tủ chào mời túi tiền của các vị thượng đế cao cấp, bác vừa tủm tỉm bình luận:

- Ngày xưa ấy à, vỉa hè này chỉ là của nhân dân anh hùng thôi nhớ. Toàn rau dưa lằng nhằng, lấy đâu ra cao lương mĩ vị thế này ?

Nhìn theo tay bác, tôi chợt nhớ tới câu sấm truyền bất hủ  của một thời:

“Tôn Đản là của vua quan
Nhà thờ là của trung gian nịnh thần
Đồng xuân là của thương nhân
Vỉa hè là của... nhân dân anh hùng”.

Còn bây giờ đúng là người làm ra tiền, ra tiêu chuẩn thật, chứ đâu phải ngược lại: Tem phiếu, tiêu chuẩn làm ra con người ? Chúng ta bình đẳng trước... túi tiền và cũng nhờ túi tiền mà vừa ngẩng cao đầu với xã hội, vừa bình đẳng trước Pháp luật(!).

Bốn mươi năm phục vụ cho nhà nước, vừa rời khỏi bầu vú mẹ đã sà vào bầu vú quan liêu bao cấp, phận “làm dâu trăm họ” phải kèn cựa, cạnh tranh, thu gom, bớt xén, móc nối, dấm dúi, đục nước béo cò để mút mát từng giọt sữa rơi vãi, thừa cặn của bà mẹ nghèo, ảo tưởng, nuôi con. Bác thấu hiểu cảnh đời, cảnh người, từ cái đầu xã hội chủ nghĩa đến cái đuôi định hướng... và trở nên ứng đối linh hoạt trong việc chiều chuộng đủ mọi đối tượng khách hàng, từ thượng vàng, hạ cám... từ phở 5 nghìn đồng “không người lái’’ đến phở 30 nghìn đồng đập trứng, thêm nạm, gầu, thịt, nước béo v.v... Cơm cũng vậy, người ít tiền chỉ ngồi dăm phút gọi một nghìn cơm, một nghìn canh kèm một miếng đậu phụ (Phải ngẩn ngơ đến phút chót để quyết định). Đến các vị gáy phẳng, bụng phệ, ngồi bệt mấy tiếng, tu hết vài két bia, ăn vã nửa quầy thức ăn bác cũng biết mà chiều chuộng, miễn đảm bảo nguyên tắc: “phục vụ nhân dân là chính, lấy phúc đức là căn bản’’.

- Lấy lãi chứ bác, tưởng bác nói nghịu, tôi nhắc.

- Cha bố con mẹ đẻ anh, bác quát, tôi lấy lãi để xuống diêm vương làm từ thiện, ủng hộ quỹ “xoá đói giảm nghèo’’ ở dưới ấy à ? Hay là để Diêm Vương chỉ mặt, thả vào vạc dầu sôi ? Cả tôi lẫn bác trai cậu đều được hưởng tiêu chuẩn, chế độ lâu dài của nhà nước, con cái vương giả cả... Cậu  không thấy mười lăm, hai mươi cô Ô sin nhà tôi đều là con cháu trong họ, ngoài làng đấy à? Cả ngày chổng mông gập gối, bán mặt cho đất, bán lưng cho giời mà giời có thương, đất có thấu đâu, có đủ để vắt mũi bỏ vào miệng đâu ? Tôi gọi ra đây bán hàng phục vụ thượng đế, cứ từ 2 giờ sáng đến 2 giờ chiều rồi tận dụng cơm thừa, canh cặn nuôi lợn... chả nở nụ cười  thu hoạch, cười như Mán được mùa ngô, quanh năm suốt tháng ấy à ?

Chủ làm sao, Trư hao hao làm vậy: “ăn thì tinh những... comfo, ở thời sạch sẽ thơm tho tối ngày’’. Cả cuộc đời bạc mệnh ngắn ngủi, từ khi lọt lòng mẹ đến lúc lọt vào cửa nhà bác, cấm có biết mùi cam go, khổ ải là gì. Rau bèo cám bã không phải ăn, chỉ toàn cao lương mỹ vị, giò chả, gạo tám với nước phở ngọt lừ, béo ngậy, kèm các loại rau thơm, gia vị dấm tỏi, chanh ớt cay sè.

Của đáng tội, không chê mất lề... Chư Bát giới. Hôm đầu mới về, cả anh lẫn ả đều khủng khỉnh, đứng lên nằm xuống suốt. Mắt liếc về khẩu phần đặc biệt có một không hai, mũi hếch lên ngửi ngửi, đuôi ve vẩy, đầy vẻ hứng chí thèm thuồng rồi lại uể oải quay đi...Y hệt các cô dâu mới về nhà chồng, hoặc các đấng mày dâu ở rể, còn e lệ nghe ngóng, ngượng nghịu giữ ý... ấy thế, chỉ được vài hôm là tợp thẳng một lèo hết nhẵn, rồi ôm cái bụng căng tròn, nhẵn thín như phật di lặc, giang rộng tứ chi lăn quay ra đất mà ngủ một giấc say sưa đến tận chiều. Ngày nào cũng vậy, chỉ ba tháng là hoàn thành sứ mệnh lịch sử trọng đại của mình.

Với giây phút làm nên... đại tiệc,
Với cái chết hoá thành... bữa nhậu.
Với những lời hơn mọi sự bài bây,
Với những con người do... vô lý sinh ra.
Trư Bát Giới! Trư đã thức thời, Trư là thế đấy.
Sống như chết Trư đâu cần nghĩ ngợi...
Trư chỉ cần sống gấp, no say *

Lần nào cũng vậy, ả nào cũng rứa... Hoá ra hôm đầu từ quê lên tỉnh, lạ nhà, lạ cửa lại nếm mùi vị thức ăn chốn đô thị, có đủ cả tiêu ớt, chanh, gừng, tỏi, dấm, cu cậu lạ và sợ vì vị cay xộc lên mũi, xé lưỡi, lộng óc nên không dám động lưỡi. Hôm sau chất “đô’’ lấn dần chất “thị’’, cu cậu quen dần rồi đâm nghiện, hệt các cô chiêu cậu ấm con nhà, được chiều quá hoá hỏng, liền sa đà nghiện hút. Hôm nào trong khẩu phần đặc biệt của mình thiếu ớt, tỏi hoặc rau thơm, bia hơi, bia lon, rượu tây là cả anh, cả ả chỉ hít hít lấy lệ rồi nguây nguẩy bỏ đi. Và Ô sin biết ý lại lén đổ thêm bia hoặc xúc thêm dấm ớt, mì chính vào để chú chàng ăn cho vừa miệng, hợp khẩu vị còn mau lớn, thơm thịt, chóng xuất chuồng.

Nhà rộng, hai vợ chồng, bốn tầng lầu, mười sáu phòng cao, thấp, to, nhỏ khác nhau. Trừ hẳn hai tầng sáu phòng để phục vụ khách ăn, tầng trên cho các nàng Ô sin ở, vẫn trống ba, bốn phòng và khu vệ sinh riêng biệt. Thế là chẳng cần phải chuồng trại cho lỉnh kỉnh bừa bộn thêm. Các chú chàng được thả luôn vào khu công trình phụ rộng hẳn 10 mét, có đủ cả gạch ốp lát, quạt thông gió, vòi hoa sen, nước nóng lạnh, nước hoa xịt phòng v.v... Nội thất còn nguyên đai nguyên kiện chưa hề bị ông bà chủ “phá trinh’’, mất dấu lần nào... Nói dại, nếu lợn kia có xúc cảm, tình cảm như người mà nghe ai gọi chỗ ở của nó một cách dân dã thông thường là chuồng, là trại, hẳn nó phải mủi lòng, buồn bã lắm.

Thấy tôi cứ bần thần mãi trước đĩa bánh nướng, bánh dẻo béo, bùi, thơm ngậy, dày đặc nhân, đủ cả lạp sườn, mỡ trứng, mứt sen v.v... đặt trước mõm hai cô, coi như món lát xê tráng miệng sau bữa “cao lương mỹ vị’’ vừa rồi, bác gái giải thích:

- Của lũ Ô sin mua biếu bác đấy. Khổ đã bảo cầm về cho chồng, con ở nhà mà chúng nó cứ giẫy nẩy không chịu, đành nhận lấy tiếng thơm tho cho chúng mừng, mà nào có ăn được đâu, chỉ tổ mắc bệnh nhiễm mỡ trong máu chứ báu gì?... Mà, gớm, chúng lại tưởng ngoài này vẫn đói khổ, thèm thuồng như ở chỗ chúng nó, hoặc phải chen mửa mật như hồi bao cấp mới có được... mà những 95 nghìn một hộp chứ rẻ rúng gì, quý lắm chúng mới dám mở hầu bao ra mua đấy. Cả sáu đứa nhà này cũng thế, cứ mua ngập lên, chỉ sợ hai bác mải mê hàng họ mà quên mua bánh, có đứa còn đem riêng khẩu phần cho lợn vì... “con chỉ nhận để xem khách có nhét đô la hoặc tiền, vàng trong ấy không, chứ bọn trẻ nhà con cũng đâu có thèm, chỉ để vài ngày là đã có hiện tượng mốc rồi”.

Tôi còn chưa kịp bày tỏ sự ghen tỵ của mình, từ trên gác bác trai đã bước xuống, mặt còn hồng màu bia, lên tiếng:

- Ôi giời, cái lũ lợn nhà này, ngẫm ra sướng hơn bác cháu mình thời bao cấp đấy cháu ạ.

- Vâng, tôi dễ dàng chấp thuận, tiện miệng kể:

- Cháu nhớ, đúng 17 tuổi đỗ đại học, mẹ cháu mới khao miếng chả giò đầu tiên. Ôi chao, cái vị thơm, ngon, đậm đà của chả quế sao mà ngon đến thế, đã thơm đến tận chân tơ, kẽ tóc, còn ngon đến mụ mị cả người đi. Cậu út không biết, cứ cằn nhằn tiếc rẻ: “Em ăn, ngon đếch chịu được, mà sao mẹ chẳng bao giờ mua anh nhỉ. Từ giờ em phải bảo mẹ ngày nào cũng mua cho ba anh em mình mới được’’.

Nghe tôi kể, bác trai cười, tiếp tục: Hồi nhỏ mà bác có được miếng bánh nướng với bánh dẻo thế này thì thật là... đại tiệc. Có khi cất giấu thật lâu để ăn dé, ăn dè cả tuần ấy chứ.

Chúng tôi cười vang, bác gái ngăn lại:

- Gớm, mày lại nghe bác trai ôn nghèo kể khổ có mà... đến tối.

Bác tôi vui vẻ tiếp lời:

- Chứ lại không à? Đúng là lũ Trư chúng nó vô tri, vô giác thật, nhưng sướng hơn tôi với bà một thời đấy. Cái thời xa xưa, bà biết rồi, sinh ra phải thời loạn lạc, hễ nghe tiếng súng nổ là theo cha mẹ chạy tản cư, toé hết cả mười đầu ngón chân ra. Hết đợt chạy, lại sấp mặt bới đất, lật cỏ, rau cháo nuôi thân. Đến khi lớn lên gặp phải thời buổi chiến tranh, lao vào vòng tên, mũi đạn, bom rơi như vãi, đạn cày như gieo, thường xuyên kẹt lại trong rừng, ăn củ mài, củ ráy, ngứa móc họng, rát ruột cả tháng mới ra khỏi thế răng lược của địch cài để tìm về lán trại, húp cháo cầm hơi... máu đổ thành sông, xương phơi thành núi, thịt da tong teo, thoi thóp, đã thế đến lúc hoà bình rồi còn phải trưởng thành trong nỗi sợ hãi các đồng chí nữa chứ.

Tôi bật cười trước chứng cớ rất hồn nhiên ngây thơ của bác, như bị chạm nọc, bác cố khơi thông dòng chảy, khẳng định:

- Thật đấy, bốn mươi năm chiến đấu không bằng lũ chúng nó cơ cấu một năm. Nếu mình cứ giữ nguyên tính cách ngang ngược, bộc trực hào hùng như thời chiến thì chỉ có chết đầu nước, đành gò mình vào “dân chủ  tập trung’’, giấu cái “tôi’’ chân chính, cương trực cuả mình vào cái “chúng ta’’ tầm thường, ào ạt, giả dối, còn hơn sống vật vờ như những zôm bi-do các thầy pháp cao tay điểm huyệt, tạo ra - như những xác chết, vì... “tiền khô cháy túi, đếch ai chịu cho’’.

- Bác ơi - tôi cố ngăn cơn bốc hoả do men bia kích thích trong đầu bác:

- Thời lính khác, thời bình khác chứ bác, vì tư thế của người lính là xông lên phía trước cơ mà: Cháu nghe bố cháu kể: Trước mặt là kẻ thù, sau lưng là làng xóm quê hương, đất nước, hai bên là đồng đội, làm sao có thể lựa chọn hoặc tiến thoái lưỡng nan được.
 
- Phải đấy, bác bảo - thời bình rồi, chỉ có những kẻ thù giấu mặt và những chiến sĩ tiêu diệt đồng đội thôi, nhận dạng chúng khó lắm. Ấy thế cứ cây ngay là bị chết đứng đấy, đành phải làm dây leo, uốn éo, xum xuê quanh cây chủ để tránh đôi mắt cú vọ của chúng hoặc hoà mình cùng bọn “slốc hôm nội hoá’’ vậy, miễn không nhân danh cao cả, đáng ngờ để loè đồng đội, đồng chí mình hoặc biến bạn bè chí xương, chí cốt của mình trong thời loạn thành... tù nhân dự khuyết trong thời bình là được. Có thế tôi mới không bị đuổi về ăn bám vợ giữa chừng đấy chứ.

- Phải, bác gái cười - nếu không nhờ sự trưởng thành trong nỗi sợ hãi các đồng chí, làm sao ông có thể chờ đến lúc kịch trần, không thể thêm sao thêm gạch được nữa mới chịu mò về với gái xề này.

Không biết có phải vì đồng điệu với những ý tưởng vừa rồi của bác hay không mà trong chuồng, cả hai anh, ả bỗng hực lên một tiếng, đuôi ngoáy tít đầy thoả mãn.

Nhìn dáng vẻ dương dương tự đắc của chúng, tôi phát ghét:

- Rõ là lũ Hợi thời mở cửa có khác, chỉ việc ngồi đợi mà xơi... Không hiểu nếu có phép màu, khiến chúng được “đổi đời hoá kiếp’’ làm người và đặt vào thời điểm còn phân chia đẳng cấp: Tôn Đản, Nhà Thờ, chợ Đồng Xuân với vỉa hè, từ “vua quan’’ đến “trung gian nịnh thần’’ rồi “thương nhân’’, cuốí cùng là “nhân dân anh hùng’’... trải qua hàng ngàn kiếp nạn như thế hệ bác cháu tôi đã từng trải, liệu chúng có dám đánh đổi không? Một đằng là đau khổ đến chết, đói nghèo đến chết và bị lừa mị  đến chết, một đằng là sự huy hoàng chỉ diễn ra trong quãng thời gian ngắn... không biết chúng sẽ chọn  cách nào ? Hay dù là ngu như lợn, chúng vẫn chọn cách sống như hiện tại? Tội gì mà “đổi đời hoá kiếp’’ để những con vật đầu đàn cậy khoẻ ức hiếp, bịt mắt, bắt câm, cả đời chả được sống theo ý mình? Cả đời bị xỏ mũi lôi đi? Cho đến khi miệng huyệt mở ra rồi vẫn còn phân chia đẳng cấp... Lũ mắc dịch ngồi ở Ba Đình thì được về Nghĩa trang Mai Dịch, xây lăng tẩm chình ình, người tử tế làm nên trang lịch sử bằng vàng của dân tộc... thì lốc nhốc dắt díu nhau ra nghĩa trang Văn Điển, Yên Kỳ???

Càng ngẫm càng thấy cái giống Trư thời mở cửa sướng thật, sướng hơn cả kiếp người  thời “đóng cửa bảo nhau’’ hay "định hướng xã hội chủ nghĩa", trời ạ. Cùng là loài có đuôi cả, mà sao khác nhau một trời một vực? Hoá ra cái đuôi của tạo hoá cho lại có giá hơn hẳn cái đuôi của Đảng "cấp", dù có định, có hướng đi chăng nữa cũng vẫn là xuống hố cả nút, xếp hàng cả... nhà, xếp hàng cả ngày để được... xuống hố gặp bố Mác, mẹ Lê, cha già dâm tặc... dằng dặc tang thương... như một lẽ đương nhiên trong thời đảng trị.

Ven đô 15-10- 2008

Nhại thơ Tố Hữu:
Có giây phút làm nên lịch  sử
Có cái chết hoá thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có những  con người do chân lý sinh ra
Nguyễn văn Trỗi, anh đã chết rồi
Anh còn sống mãi
Chết như sống anh hùng vĩ đại...

© 2008 www.danchimviet.com