Phương pháp Truy Vấn
Truy Vấn là một phương pháp giảng dạy mà trong đó, người thầy không có câu trả lời chính xác cho những câu hỏi. Hầu như tất cả những câu hỏi đều được trả lời bằng một câu hỏi khác. Trách nhiệm của người thầy không phải để nhét những gì khó nuốt nổi vào đầu của người trò, mà để giúp người trò nhận rõ được vấn đề và tự tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình. Qua cách hỏi để gợi ý, câu trả lời thật sự phát xuất từ người trò. Những lý thuyết sai lầm, những ngụy biện có tính chất lừa dối, tự gạt sẽ dần được khơi ra và loại bỏ, chân lý sẽ rõ dần và câu trả lời sẽ rất hiển nhiên đối với người trò khi đã nhận rõ được bản chất của vấn đề.
Phương pháp này đòi hỏi người thầy phải phải bước khỏi bục giảng và ngồi xuống cùng người trò. Nó cũng đòi hỏi người trò phải bỏ thái độ khúm núm vâng vâng dạ dạ để bình tĩnh đối thoại cùng thầy, quan trọng nhất là phải tỉnh táo trả lời những câu hỏi trong mẫu đối thoại. Thầy và trò phải cùng đồng ý về chủ đề của cuộc thảo luận và trò phải đồng ý cố gắng trả lời những câu hỏi của thầy. Thầy và trò phải cùng chấp nhận câu trả lời hợp lý nhất và gạt bỏ những tư tưởng cá nhân, quan niệm xã hội, tôn giáo, gia đình, cùng những niềm tin không đủ lý lẽ để biện luận khác. Khi người thầy đưa ra một luận điểm không hợp lý, người trò có quyền hướng dẫn mẫu đối thoại về luận điểm vô đó để làm sáng tỏ vấn đề. Người thầy nên có nhiều hiểu biết về những luận cứ sai lầm chung quanh vấn đề được thảo luận.
Lợi ích của phương pháp Truy Vấn
Bạn có bao giờ được trò chuyện thân mật với thầy giáo của mình một cách thân mật như hai người bạn về những chuyên đề trong môn học không? Có hiệu quả gì sau một lần trò chuyện so với nhiều buổi nghe giảng trong lớp học? Ở tư cách một người bạn, thầy của bạn có giọng điệu gì so với lúc giảng bài trong lớp học? Bạn có tự tin hơn về những gì mình biết khi đưa ra ý kiến hoặc đặt câu hỏi ngoài lớp học không? Ở ngoài lớp học, thầy của bạn có đáng yêu hơn không? Lòng tôn kính thầy có khác biệt gì trong hai trường hợp không? Và nó có ảnh hưởng gì đến tư duy của bạn không? Bạn có tự tin hơn khi tự mình trả lời được câu hỏi của mình không? Bạn có cảm thấy kiến thức của mình và thầy càng khác biệt khi thầy phải đích thân trả lời mỗi câu hỏi bạn đưa ra không? Khi bạn càng nể trọng kiến thức của thầy, bạn nghĩ sao về năng khiếu của mình? Khi thầy trả lời câu hỏi của bạn, kiến thức đó là của bạn hay của thầy? Khi bạn tự ý thức được câu trả lời cho câu hỏi của mình, kiến thức đó là của ai? Khi sử dụng câu trả lời của thầy trong đời sống, bạn có được lịch duyệt hay không? Và thấu hiểu được bao nhiêu? Khi sử dụng câu trả lời của chính mình trong đời sống, bạn có lịch duyệt hơn không? Và hiểu rõ mình đang nói gì so với khi dùng đến kiến thức của người khác không? Bạn có biết rằng những câu hỏi này được đặt ra theo phương pháp Truy Vấn không? Nếu biết, thì bạn có biết mục đích của những câu hỏi này là gì không?
Xã hội văn hóa Đông Phương: bước cản của phương pháp Truy Vấn
Quan hệ thầy trò không nhất thiết phải có giới hạn riêng của chúng. Ta có thể nhìn thấy rõ quan hệ này ở mọi nơi trong mọi tầng lớp xã hội: chính quyền và nhân dân, giàu và nghèo, chủ và tớ, kỹ thuật viên và người tiêu dùng, cha và con, sư và chú tiểu, sư và thiện nam tín nữ, chồng và vợ, mục sư và giáo đồ, v.v… Tóm lại khi một người được đặt vào vị thế nhồi nhét một điều gì đó vào tư tưởng của một người khác hoặc muốn ảnh hưởng đến tư tưởng của một ngưới khác, một mối quan hệ thầy trò được thiết lập.
Ảnh hưởng của Khổng giáo trên truyền thống văn hóa Đông phương đã khiến cho chúng ta có được một xã hội phân chia giai cấp mà từ đó, thái độ chấp nhận số phận vai trò của mọi người sau nhiều năm càng góp phần phân biệt những ranh giới đáng lý ra không cần có. Cái đạo đức mà Khổng Phu Tử rêu rao không nằm ngoài mục đích phân biệt đúng, sai khi ta đúng, người sai. Lòng nhân đạo của ông không có thừa đối với những người bất đồng chính kiến. Những công bằng an ninh trật tự xã tắc mà ông đặt ra không nằm ngoài mục đích độc tài thống trị mà trong đó, công bằng chỉ đầy đủ ý nghĩa nếu hạn chế trong một tầng lớp, một giai cấp duy nhất. Khi tự nhận mình là một "người truyền đạt lại cái đã có mà không phát minh ra thứ gì khác" trong quyển Luận Ngữ, Khổng Phu Tử không đơn giản chỉ nhấn mạnh việc học, mà còn nhấn mạnh là phải học những gì đã sẵn có, cũ rích từ bấy lâu nay và không nhất thiết phải áp dụng những gì mới mẻ, nhất là khi những gì mới mẻ có khuynh hướng đã phá những gì đang được truyền dạy.
Những ảnh hưởng trực tiếp của Khổng giáo qua nhiều năm đã góp phần dựng lên một nền văn hóa truyền thống lớn nói nhỏ nghe, vâng vâng dạ dạ, cắn răng chịu đựng, "áo mặc không qua khỏi đầu", dẫn đến những bi kịch xã hội phong kiến với nhiều trường hợp đối xử giữa người và người còn tệ hơn giữa người và vật. Những ảnh hưởng đó cũng đã dọn đường cho một xã hội chủ nghĩa độc quyền độc đảng, trói chặt một dân tộc trong thể chế chính trị quyền lực từ ngàn xưa. Nếu ai đó còn ca tụng nền văn hóa truyền thống đạo Khổng và sử dụng chúng làm gia quy trong gia đình, thì không nên than phiền chế độ XHCN đang gò bó tư duy và đời sống của mình.