Ngày 7-5-54 Pháp đại bại tại Điện Biên Phủ, chỉ một ngày sau đó Hội Nghị Genève khai mạc, ngày 8-5-54. Người ta  vẫn thường nghĩ HĐ Genève là hệ quả của sự thất trận trên mà ra. Sự thật lịch sử không có một dẫn chứng nào ghi lại như vậy cả.

HĐ này đã manh nha từ hội nghị tay ba ngày 7-12-53 và được quyết định ngày 25-1-54 bởi tứ cường (Anh, Pháp, Mỹ và Nga) tại Bermudes và sẽ họp tiếp tại Genève ngày 26-4-54 bàn về hai cuộc chiến tại Á Châu: Đại Hàn và Đông Dương, chỉ điều này không thôi đã chứng minh được là Hội Nghị Genève có trước khi Pháp thất trận tại ĐBP.

Cả hai sự kiện ĐBP và HĐ đều do Pháp khởi xướng nhưng lại do hai cơ quan khác nhau của Pháp quyết định, HĐ thì do Bộ ngoại giao, ĐBP thì do tướng Henri Navarre tại Đông Dương quyết định thông qua toàn quyền Dejean tại Đông Dương

Hội nghị tứ cường: 25-1-54 bốn vị bộ trưởng ngoại giao Anthony Eden - Anh, Foster Dulles - Mỹ, Georges Bidault - Pháp, và Molotov - Nga, họp tại Bermudes bàn về các vấn đề của Âu Châu. Vấn đề Âu Châu thì không có kết quả gì trong lần họp này, nhưng lại nẩy sinh ra vấn đề thuộc về Á Châu là tứ cường sẽ triệu tập tại Genève ngày 26-4-54 cho 2 hội nghị với 2 thành phần khác nhau để bàn về 2 vấn đề cũng khác nhau là:

1/ Hội nghị tứ cường (Mỹ, Nga, Anh, Pháp) bàn về cuộc chiến tại Đại Hàn và các phe tham chiến trừ Tầu. Sau này hội nghị được triệu tập tại Pan Mun Jom ( Bàn Môn Điếm – Đại Hàn )

2/ Sau đó là hội nghị tái lập hòa bình ở Đông Dương (Việt Nam quen gọi là Hiệp Định Đình Chiến Genève) có tứ cường và thêm Tầu, các nước liên quan Việt, Miên, Lào. Riêng VN sẽ có cả hai chính phủ Hồ Chí Minh (VM ) và Bảo Đại (QGVN ) tham dự.

Xét từ những dữ kiện nêu trên có lẽ phải đặt lại là vì Hội Nghị Genève mà đưa đến sự thất trận của Pháp tại ĐBP, như nhận định của tướng Navarre, ông này gọi sự thiếu phối hợp giữa bộ ngoại giao Pháp và giới quân sự tại Đông Dương (ĐD) là một sự phản bội của chính quyền Paris với chính quyền Pháp ở thuộc địa.

Nguyên Nhân:

a/ Chính Trị:

· Tại Pháp: Đệ tứ Cộng Hòa Pháp theo thể chế đại nghị, có quá nhiều đảng phái nên nội các cầm quyền rất là bấp bênh và lúng túng vì phải đối diện với những đe dọa bị lật đổ bởi các phe đối nghịch trong quốc hội.

· Tại Đông Dương: Chính quyền Pháp tại thuộc địa được thả lỏng, nên nẩy sinh ra nhiều phản kháng của dân bản xứ: Việt, Miên, Lào vì chính quyền này áp dụng chính sách thực dân trái ngược với chính quyền tại Paris.

· Dư luận của Pháp nhóm thì cho là cuộc chiến 8 năm qua (45-54) tại ĐD là cuộc chiến bẩn thỉu, có nhóm lại cho là cuộc chiến xấu hổ.

· TT Laniel (6-1953) công khai tuyên bố là sẽ tìm thương thuyết về vấn đề ĐD.

· Tháng 7-1953 nội các của Laniel ra tuyên ngôn: “Nước Pháp sẵn sàng hoàn tất nền độc lập và chủ quyền của ba quốc gia hội viên và điều đình với từng quốc gia trên căn bản bình đẳng những dây liên hệ song phương”

· Tại Sàigòn: Tháng 10-1953. Hội Đồng Nhân Sĩ đưa ra biểu quyết: “Nước Việt Nam độc lập không gia nhập Liên Hiệp Pháp.”

· Tháng 11-1953. Hội đồng Cộng Hòa nỗ lực tìm kiếm giải pháp danh giá về ngoại giao cho Pháp, như Mỹ đã đạt được ở Đại hàn.

b/ Quân Sự:

· Tháng 11-1953. Tại ĐD tướng Navarre quyết định mở cuộc hành quân Castor đánh chiếm ĐBP, chủ trương của Navarre là sau vài tháng khi có thế mạnh tại mặt trận sẽ có thế mạnh tại bàn thương thuyết.

· Nội các Laniel bèn ngưng thương thuyết, nhưng lại không tăng viện quân sự cho chiến trường, thế tất bại đến với tướng Navarre bởi quyết định này.

· 29-11-1953 sau 8 ngày khi quân Pháp chiếm ĐBP, trên tờ báo của Thụy Điển đăng bài phỏng vấn HCM có câu:” Nếu chính phủ Pháp muốn thảo luận về đình chiến, thì chính phủ VNDCCH sẵn sàng nghiên cứu những đề nghị của nước Pháp”. Laniel tuyên bố không thể nghiên cứu với những tuyên bố trên báo chí hay phát thanh.

· Chờ viện trợ của Mỹ vì hội nghị tay ba ở Bermudes được dự định vào đầu tháng 12-53. TT Mỹ Eisenhower hứa với TT Laniel là Mỹ sẽ viện trợ kế hoạch Navarre 100 tỷ quan, theo quan niệm của chính phủ Mỹ thà giúp Pháp thắng VM còn hơn tự tay nhúng vào chiến tranh (vả lại Pháp không muốn Mỹ hiện diện tại Đông Dương).

· Tháng 12-53 chỉ có đại đoàn 316, 3 tuần sau đã có thêm 3 đại đoàn 312, 308, 304 cùng với đại đoàn nặng 315 kéo đến đóng chặt chung quanh lòng chảo ĐBP.

· Pháp chỉ có 12 tiểu đoàn, không thể triệt thoái quân ra khỏi ĐBP bằng bất cứ phương tiện nào, chỉ còn chấp nhận đối đầu với VM bất cứ điều kiện nào.

· Navarre cầu cứu với Paris viện trợ thêm máy bay vận tải và oanh tạc, nhưng chỉ được hứa suông.