Lời giới thiệu:
Người viết không phải người viết sử, cũng không phải là người nghiên cứu sử cận đại Việt nam, lại càng không có vị trí để biện giải cho một sự kiện trong quá khứ. Người viết chỉ gom góp một số dữ kiện trong sách đã đọc trưng ra một sự thật tương đối khách quan từ nhiều phía để độc giả tùy nghi nhận xét. Nếu có dụng ý cũng chỉ muốn để các bạn trẻ trong nước có thêm một góc cạnh trong bối cảnh lịch sử có nhiều góc cạnh vào thời đó, nếu thiếu. Dĩ nhiên cách trưng dẫn không thể hoàn toàn là khách quan, mặc dù sự kiện lịch sử là thật, nhưng vẫn là chủ quan của những nhân vật được người viết trưng dẫn. Mọi cố gắng của người viết trong bài này chỉ mong đến thật gần với SỰ THẬT. Vẫn mong được độc giả bổ túc những thiếu sót.
Bài này được chia ra làm hai phần :
1/ Từ Điện Biên Phủ đến Hiệp Định Genève hay Từ hiệp định Genève đến Điện Biên Phủ
Nguyên nhân và sự kiện đưa tới trân chiến Điện Biên Phủ - Các phía tham chiến - Hệ Quả.
2/ Hiệp định Genève 1954: Nước Việt Nam chia hai
Nguyên nhân - Thành phần tham dự - Các điểm chính của hiệp định - Phê Bình của Chính khách - Kết Luận.
ĐIỆN BIÊN PHỦ
Diễn biến
Chính trị:
Từ năm 1945-53 chính phủ Pháp không còn khả năng tiếp trợ đầy đủ quân số, vũ khí, tài chánh cho quân đội viễn chinh, nên phải nhờ vào viện trợ Mỹ trực tiếp cho chính phủ Pháp, nhưng với điều kiện quân Mỹ không được vào Đông Dương. Hai nước Việt (vua Bảo Đại) và Miên (vua Shihanouk) muốn nhân dịp ấy mà đòi độc lập hoàn toàn, chỉ có vua Lào là Sivavong Vong là không muốn làm khó dễ Pháp.
Vào năm 1953. Ông Hồ chí Minh cho phát động chính sách “phản phong giảm tô” đẫm máu để dọn đường cho “Cải Cách Ruộng Đất” sau đó, đã khiến cho các thành phần cả trong đảng lẫn dân đều phải sợ oai của đảng, cho nên đảng tha hồ bắt dân “tình nguyện”, “xung phong” đi bộ đội và dân công với danh nghĩa “giành độc lập” để tăng cường và điền khuyết nhu cầu chiến trường.
Sự kiện quốc tế:
Hội nghị tay ba: Cũng vào thời gian này Mỹ-Anh-Pháp họp tại Bermudes gồm có: Churchill-Anh, TT Laniel-Pháp và TT. Mỹ Eisenhower, tại đây TT Eisenhower xác nhận với TT Laniel là Mỹ sẽ viện trợ cho Pháp 100 tỷ quan cho kế hoạch Navarre, chủ trương của Mỹ là thà giúp Pháp thắng VM còn hơn tự tay nhúng vào chiến tranh (vả lại Pháp không muốn Mỹ hiện diện tại Đông Dương). Hội nghị này dự trù sẽ họp tay tư, mời thêm Nga vào cuối tháng 1-54. Vế phần Pháp thì đang túng tiền, sau WWII (Chiến tranh thế giới thứ II) nước Pháp quá rách nát, ví vậy chưa cần thương thuyết với Hồ Chí Minh vội, đợi thắng trận xong bàn vẫn lợi hơn.
"Ngày 24-11 sau ngày Pháp chiếm ĐBP 9 ngày, HCM trong bài phỏng vấn của tờ Thụy Điển Expressen có câu:” Nếu chính phủ Pháp muốn đình chiến thì chính phủ VNDCCH sẵn sang nghiên cứu những đề nghị của nước Pháp”. TT Laniel tuyên bố:” Không thể nghiên cứu những đề nghị loan bằng báo chí hay đài phát thanh”. Ngày 13-12-53 mới có 2 trung đoàn của đai đoàn 316 có mặt ở phiá Bắc vùng lòng chảo ĐBP. Ngày 14-12-53 HCM kêu gọi trên đài phát thanh “Tất cả cho mặt trận, Tất cả cho chiến thắng”
Ngoại giao Pháp đã không tham khảo ý kiến với Tổng ủy Dejean và tướng Navarre ở Đông Dương khi quyết định mở hội nghị.
Ngưng thương thuyết khi tướng Navarre mở mặt trận Castor ở Đông Dương, nhưng không tăng viện cho mặt trận.
Khoảng đầu tháng 2 tới giữa tháng 4-54 ông Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc rồi sang Nga cầu viện.
Hồi ký của Khrouchtchev viết:
”Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đi Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai, Chu đưa 2 ông Hồ và Đồng sang Moscow gặp tôi (Nikita Khrouchtchev). Tại phòng Catherine của Kremlin, Chu kéo tôi (Nikita) ra nói riêng: Đồng chí Hồ Chí Minh cho tôi (Chu) hay rằng tình hình VN thật tuyệt vọng, nếu chúng ta (Nikita và Chu) không đòi được ngưng chiến ở hội nghị (Genève) thì những người Việt (Việt Minh) sẽ không thể chống cự lại người Pháp bao lâu nữa (VM và Pháp chết rất nhiều hồi tháng 1 ở các chiến trường và sau 2 đợt đầu tấn công ĐBP). Bởi vậy họ định rút lui về biên giới Hoa-Việt, nếu cần, và muốn Trung Hoa đưa quân vào VN như đã làm cho Bắc Hàn. Nói cách khác, họ muốn chúng tôi giúp họ đánh đuổi người Pháp. Song chúng tôi không thể chiều ý đồng chí HCM được. Chúng tôi đã mất quá nhiều người và bị quá tổn thất ở Cao Ly, chúng tôi không thể lao mình vào cuộc chiến tranh mới, trong tình hình hiện tại”.
Tôi (Nikita Khrouchtchev) bèn thỉnh cầu đồng chí Chu rằng: ” Cuộc chiến hiện đang tiếp diễn rất quan trọng và người Việt chiến đấu giỏi, quân Pháp bị thiệt hại nặng, đồng chí không nên nói với dồng chí HCM rằng nếu quân lính của hắn phải rút lui về biên giới Tầu, thì anh sẽ không thể giúp hắn. Trái lại, anh nên để hắn tin tưởng rằng anh sẽ giúp hắn nếu cần, ý niệm ấy sẽ giúp quân Việt (VM) thêm hăng hái chống Pháp.
Chu Ân Lai bèn bằng lòng, là sẽ không nói với đồng chí HCM rằng Trung Hoa không muốn lâm chiến chống Pháp trên đất Việt (nhưng từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 5/54 tức hơn hai tháng, Trung Cộng đã nỗ lực gia tăng viện trợ võ khí nhất là đại bác 105 và cao xạ 37, thêm cả gạo cho VM).
Rồi phép mầu đã xẩy ra. Khi các phái bộ tới Genève, thì kháng chiến Việt Nam vừa đại thắng Pháp bằng cách chiếm xong đại đồn ĐBP. (Việt Sử Khảo Luận - Hoàng Cơ Nghị)
Tiết lộ của Nikita Khrouchtchev năm 1971 và của Trung Cộng năm 1980 cho thấy 2 ông Hồ và Đồng có sang Tầu và Nga vận động là sự thật, khác với sử của Vạn-Lâm của Hà Nội là VM thay đổi chiến thuật để chắc thắng. Yếu tố quan trọng là võ khí của Tầu đổ vào ĐBP là mạnh hơn Pháp và như là vô tận.
Quân sự:
Điện Biên Phủ: thuộc tỉnh Lai Châu là một lòng chảo bao phủ chung quanh là đồi núi rừng rậm, ở cao độ 600m (trên mặt biển) chiều dài 16 km, chiều ngang 7-9 km ở về phía Tây Bắc của Hà Nội khoảng 300 km, 200km ở phía Tây Nam là Luang Prabang (Lào), 100km chính Bắc là thị xã Lai Châu, Đông Bắc là Yên Bái cách 200 km. Lòng chảo này diện tích khoảng 130 km2, gồm đất trống và đồi đất trọc, vì người dân Thái Đen (y phục mầu đen) là dân bản địa đã khai phá rừng để trồng lúa, canh tác mùa màng trước đây
TIỀN ĐIỆN BIÊN PHỦ
Việt Minh dưới quyền chỉ huy của tướng Võ Nguyên Giáp thực hiện cuộc Tổng Tấn Công của họ bằng cách đánh đồng bằng Bắc Việt để chiếm Hà Nội.
Lần thứ nhất: Trong 6 tháng đầu năm 1951 bị thất bại trước sự phản công mãnh liệt của tướng Jean De Lattre De Tassigny. Chỉ 2 đêm liên tiếp của trận Na Sản, Việt Minh bị loại ra khỏi vòng chiến khoảng 3000 người, vừa chết vừa bị thương của hai đại đoàn 308 và 312 (Yves Gras). Quân Pháp chỉ có 30 vừa chết vừa bị thương vì quân Pháp nấp dưới hầm trú ẩn.
Trong vòng 2 năm 1951-52, tướng Giáp thua 5 trận (4 lần dưới thời De Lattre. 1 lần thời Raoul Louis Salan ) tướng Giáp phải tự làm kiểm thảo.
Tướng Giáp đành phải quay trở về chiến tranh du kích.
Lần thứ nhì: Mùa thu năm 1953 tướng Giáp vừa dồn đại quân về đồng bằng thì lại bị tướng Henri Navarre chặn đánh, dập nát đại đoàn 320. Việt Minh bèn tạm quên vùng đồng bằng Bắc bộ, kéo quân qua đánh Thái, Thượng Lào và cao nguyên Trung phần.