Danchimviet - http://danchimviet.com
Nữ thần Công Lý (9)
http://danchimviet.com/articles/503/1/N-thn-Cong-Ly-9/Page1.html
Huỳnh Ngọc Tuấn

 
Tác Giả Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng/Published on 10.10.08
 
Những nghi thức cuối cùng đã xong. Trời cũng đã nhá nhem tối. Một mùa đông ảm đạm hắc hiu mà tôi chưa từng trải qua. Chúng tôi rời khu nghĩa địa. Cu tí khóc khản cả giọng, nó không chịu về, cứ ngồi bên mộ ba vừa mới đắp, nó gọi: “Ba ơi …ba ơi “...

Đám tang của ba được tổ chức đơn giản nhưng số người đến viếng đông đến bất ngờ: họ hàng thân thích, hàng xóm láng giềng, những bạn hàng của ba, bạn bè và người quen biết, cảm động nhất là những người bạn trong nhóm hoạ sĩ. Chắc có lẽ do tính tình nhân hậu, sự cởi mở và quan tâm đến người khác làm mọi người yêu quí ba. Tôi học được nơi ba một điều là: ba không bao giờ muốn tranh chấp, luôn nhường nhịn mọi người, rất hiếm khi thấy ba làm người khác buồn. Tôi nghĩ đây là phẩm hạnh cao quí nhất của ba. Chú Hùng thuê hai chiếc xe to tướng để chở những người đưa tiễn ba đến nơi an nghỉ. Còn rất nhiều xe, 4 chỗ, 6 chỗ ngồi, và không đếm đuợc số người đi xe máy, cứ hai người một xe. Đoàn xe đưa tiễn thật đông, chầm chậm qua dãy phố quen thuộc, những người già cả, thanh niên, trẻ con, ra đứng hai bên đường, trên hè phố, tiễn đưa ba. Tôi không ngờ ba được nhiều người yêu quí như thế.

Đoàn xe tang ra ngoại ô, hai bên là cánh đồng đã gặt xong. Trời mùa đông không mưa nhưng hiu quạnh, từng cơn gió lạnh vút qua, táp vào mặt người đi đường. Chưa bao giờ tôi thấy một ngày mùa đông buồn bã đến như vậy. Chắc cho đến những ngày tháng sau này, đó vẫn sẽ là ngày mùa đông buồn nhất trong cuộc đời tôi. Tôi nhớ một câu thơ trong truyện Kiều: ”Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Mùa đông vốn đã buồn, tâm trạng của tôi bây giờ ngàn lần buồn hơn. Đất trời thê lương và tang tóc, con người thì ủ rũ, đau buồn. Trong mắt tôi bây giờ, thế gian là bể khổ. ”Hay là mình sẽ đi tu”! Trong tôi chợt loé lên một suy nghĩ như vậy. Tôi thấy các ni cô sống đạm bạc, đơn giản, có khi còn rất vất vả, họ hay đến mời ngoại mua hương để làm công đức cho chùa. Nhưng tôi lại thôi không nghĩ đến điều đó vì tôi nghĩ đến ba, những người như ba và tôi, thân cô thế cô ai sẽ giúp họ?.

Đoàn xe rẽ trái, tiếng chuông trống vang lên đều đều ai oán, những đồng tiền lẽ và vàng mã được tung rãi, bị gió cuốn phăng đi. Không giống như những đám tang khác, thời nay người ta không dùng vàng mã truyền thống mà người ta dùng “dollar âm phủ” để lễ cúng. Cái tâm lý sùng bái đã trở thành cái bệnh thời thượng - sùng bái đồng tiền, bất cứ là tiền gì, dollar Mỹ thì càng tốt và cõi âm cũng bị dollar hoá luôn, ngoại bảo người ta dùng vàng mã truyền thống.

Đoàn xe bắt đầu leo lên núi, chập chùng những ngọn núi trơ trọi, chỉ có những bụi cây thấp và còi cọc. Đất núi ở đây toàn là sỏi, nhỏ như hạt tiêu, đất bạc màu nên không có cây cối nào chịu nổi sự khắc nghiệt của nó. Người ta dùng mảnh đất vô dụng này để làm nghĩa địa, cách thị xã 15 km. Ở đây là vùng quê nghèo xơ xác, đoàn xe vào khá xa trong núi, bỏ lại đằng sau nó chập chùng những mồ mả. Đất nghĩa địa bây giờ cũng hiếm nên giá cả đắt đỏ. Một mảnh đất khoảng 6 m vuông, giá từ năm trăm ngàn đến năm triệu - tuỳ vị trí, gần đường lộ, hoặc nằm trên trục đường vào nghĩa địa thì giá cả cao vì ở “mặt tiền”; vào sâu thì rẻ hơn.

Chú Hùng chọn cho ba chỗ yên tĩnh và sạch sẽ. Trong số những người bạn của chú Hùng có người am hiểu thuật phong thuỷ, chú Hùng không tin điều này nhưng cũng chiều ý ông bạn. Khi đoàn xe chạy đến nơi, chúng tôi thấy huyệt mộ đã đào sẵn. Ông bạn đó chỉ tay giải thích với chú Hùng, cái gì “Thanh Long - Bạch Hổ” …..rồi ông ta chỉ một ngọn núi rất xa, cao vút và nói gì đó.

Trong đoàn người đưa tiễn, tôi nhận ra một vài người là công an. Có một người  đàn ông ăn mặc sang trọng với đôi mắt trắng dã và khuôn mặt lạnh lùng, ông ta nói với chú Hùng là Thiếu tá an ninh của tỉnh. Mỗi khi có sự hiện diện của ông ta là sẽ có một điều gì đó. Tôi mong sao hôm nay không có điều gì xấu xảy ra, nhưng mà vấn đề gì mới được chứ! Đây là đám tang, không biết họ theo chúng tôi đến đây, tại cái nghĩa địa xa xôi và hoang vắng này để làm gì ?!

Quan tài của ba hạ xuống huyệt, chú Hùng với micro trên tay, tôi, cu tí, bà ngoại, chú Năm, cô út đứng thành một hàng phía sau chú. Chú Hùng tay trái cầm tờ giấy nhỏ, chú chuẩn bị đọc điếu văn để tiễn biệt ba. Tôi thấy ông công an đó tiến về phía chúng tôi, đến bên chú Hùng. Ông ta nói:

- Xin lỗi ông, cho chúng tôi xem qua bài điếu văn.

Chú Hùng hai mắt long lên sòng sọc vì tức giận trước đòi hỏi phi lý và quá đáng:

- Các ông muốn kiểm duyệt cả điếu văn cho người quá cố sao? Cái xã hội này có còn luật pháp nữa không đây? Chúng tôi coi đây là một sự sách nhiễu, vi phạm quyền tự do của công dân.

Có rất nhiều tiếng xì xầm phản đối. Tay an ninh nhìn chung quanh, có mấy trăm người dự tang lễ, đột nhiên ông ta đổi giọng:

- Không, không. Nếu anh không đồng ý thì thôi, có gì đâu.

Rồi ông ta xuề xoà:

- Mời các bác cứ tiến hành.

Chú Hùng đọc điếu văn, giọng chú bình tĩnh, trầm ấm và mạnh mẽ. Tôi không nhớ hết, chỉ nhớ mang máng:

“Anh ra đi để lại cho chúng tôi lòng tiếc thương vô hạn… Anh ra đi để lại người vợ hương trời sắc nước, hiền thục, đảm đang, để lại hai con thơ - hai thiên thần bé bỏng…. Anh ra đi trong khi tài năng đang độ chín mùi, sung mãn, khi anh mới đặt chân lên đỉnh cao của nghệ thuật… Anh ra đi để lại những công trình dang dở và những hoài bão lớn lao. Mất anh, chúng tôi mất đi một người bạn quí; gia đình mất đi một người cha hiền từ, bao dung; người vợ mất đi một người chồng thuỷ chung, son sắc…..Anh là một tài năng bạc mệnh, bị cuộc đời vùi dập, chà đạp. Chúng ta vô cùng thương tiếc tiễn đưa anh. Anh còn nợ cuộc đời này rất nhiều và cuộc đời còn nợ anh rất nhiều. Mong anh được thênh thang trong cõi vĩnh hằng.”

Bài điếu văn kết thúc trong nước mắt. Thật nhiều hoa được ném lên quan tài của ba. Khi người ta phủ đất lên quan tài, cu tí khóc và kêu lên làm mọi người như đứt cả ruột gan:

- Đừng chôn ba, đừng chôn ba.

Những nghi thức cuối cùng đã xong. Trời cũng đã nhá nhem tối. Một mùa đông ảm đạm hắc hiu mà tôi chưa từng trải qua. Chúng tôi rời khu nghĩa địa. Cu tí khóc khản cả giọng, nó không chịu về, cứ ngồi bên mộ ba vừa mới đắp, nó gọi: “Ba ơi …ba ơi “, nghe não cả ruột. Chú Năm phải bế nó lên xe, nó vùng vẫy yếu ớt, còn tôi thấy mình như kiệt sức không đứng lên nổi. Ba nằm đó, rất gần, chỉ một với tay thôi, nhưng sao mà xa xôi quá, xa xôi đến tuyệt vọng. Bà nội và cô út dìu tôi lên xe. Cu tí quá mệt, nó thiếp đi trong lòng chú Năm, trông nó thật yếu đuối, cô đơn đến thảm thiết.

Về đến nhà, đèn đường đã lên. Giờ này, mọi nhà đã cơm nước xong. Tôi nhớ lại những tối mùa đông, gia đình tôi thật đầm ấm. Má từ chợ về, lúc nào cũng có quà cho chúng tôi, còn ba sau một ngày vất vả nhưng đầy phấn chấn, ba thường kể một câu chuyện khôi hài nào đó, ba kể chuyện khôi hài rất có duyên. Chắc có lẽ rất nhiều cô gái mê ba, một phần vì điều này. Thỉnh thoảng, ngoại đến ăn tối với chúng tôi. Lúc ấy ngoại rất nhàn tản, công việc ở chợ ngoại đã giao hẳn cho má. Ngoại thường đi đây đi đó, ung dung tự tại hưởng tuổi trời….Vậy mà thoáng một cái, cuộc sống của tôi đảo lộn hết. Giờ đây, đối mặt với những mất mát đau thương này, không biết tôi có chịu đựng nổi không. Làm sao tôi có thể thích nghi được khi thiếu vắng cả cha lẫn mẹ. Cuộc sống trước mắt đau khổ và trống vắng quá.

Chú Hùng bắt tôi phải ăn một tô cháo thịt bò và bắt tôi phải uống một viên thuốc an thần. Còn cu Tí thì lắc đầu quầy quậy, không chịu uống sữa. Nó chỉ chịu uống khi chú Hùng bế nó lên đùi, vuốt ve mớ tóc rối bời của nó.

Tôi lên giường, lát sau thấy mình chới với, nhẹ tênh… Trong giấc mơ, tôi mơ thấy ba về đi lòng vòng ngoài kia, trong khu nhà cũ. Ba nhìn từng cội mai già, ba cúi xuống rửa tay trong bồn nước. Dáng ba ung dung, thư thái như mọi ngày. Tôi vô cùng sung sướng chạy ra ôm ba. Tôi ôm ba thật chặt, tôi sợ ba sẽ đi mất. Niềm vui khôn tả xiết làm tôi giật mình. Tôi biết đó là giấc mơ. Tôi thấy lạnh, bây giờ là mùa đông, gió ngoài kia thổi từng cơn, gió đưa đôi tay buốt lạnh quờ quạng trong bóng đêm bất tận. Tôi nghĩ đến ba, bây giờ nằm nơi đất lạnh. Không một người thân bên cạnh, lòng tôi đau như xé. Đời người sao mà cay đắng thế, sao mà đau thương thế? Tôi khóc và nằm chờ trời sáng… Đồng hồ điểm năm giờ. Những người họ hàng, những bạn bè tiếp tục đến viếng ba, nhà rất đông người. Chú Hùng, chú Năm và mấy người đàn ông ra đi đến tối mịt mới trở về. Ở nhà, bà ngoại và cô út tiếp khách. Tôi chẳng biết làm gì. Chị em tôi ngồi nhìn ảnh ba trên bàn thờ khói hương nghi ngút.

Ngày mở cửa mả của ba, chú Hùng thuê một chiếc xe taxi cho phụ nữ. Còn chú và những người đàn ông đi xe máy đến nghĩa địa. Tôi thấy đám tang của một người phụ nữ còn khá trẻ và rất xinh đẹp. Tôi lại chứng kiến cái cảnh người thân khóc lóc vật vả, thảm thiết. Hai đứa con nhỏ của bà ta thì thất thần, ngơ ngác. Chúng còn quá bé, chẳng hiểu gì, thấy người lớn khóc chúng cũng khóc theo. Tôi thấy sao mà đau lòng quá và nhận ra cái lẽ vô thường không loại trừ ai. Nhìn ra xung quanh tôi thấy toàn là mồ mả san sát nhau. Bao nhiêu cái mả là bấy nhiêu đau khổ. Tôi bình tâm lại một chút.

Mộ của ba tôi đã xây xong. Bia mộ là một tấm đá cẩm thạch trắng vân xanh. Vôi vữa và gạch còn sót lại gần đó. Tôi nhận ra những viên gạch đó được lấy từ ngôi nhà cũ bị phá của tôi.

Chú Hùng và chú Năm đã dùng nó để xây dựng cho ba một ngôi mộ khang trang. Ở đây có rất nhiều ngôi mộ được xây dựng công phu và hoành tráng, đó là những ngôi mộ của những quan chức hay thân nhân của họ, hoặc mộ của những gia đình giàu có. Họ mua cả một nền đất rộng, mộ xây rất đẹp, tô rồng điểm phượng, có cái uy nghi hoành tráng, có cái diêm dúa phô trương. Bên cạnh những ngôi mộ giàu sang phù phiếm là những ngôi mộ trông cô quạnh và lạnh lẽo đến tội nghiệp. Nó chỉ bằng một đống đất, đường kính chưa đến một mét, thấp lè tè, khói hương lạnh giá. Mộ của ba giản dị khiêm tốn nhưng ấm cúng và trang nghiêm. Tôi rất vừa ý và yên tâm. Tôi thấy lòng ấm áp vì bên cạnh tôi là những người thân tốt bụng. Tôi được bảo vệ và chăm sóc. Tất cả mọi việc đều có người lớn đảm đương. Tôi thật may mắn vì được sống giữa những người như vậy.

Trên đường trở về, tôi và ngoại ghé lại chợ để mua sắm và chuẩn bị những gì cần thiết cho những nghi lễ cuối cùng của đám tang.

Ba ngày sau đó, khi ở chợ về, buổi trưa, cu Tí đã ngủ say, tôi không thể ngủ được vì nhớ ba, tưởng như ba đang ở đâu đó, vào ra trong nhà này. Tôi trở dậy, ra bàn thờ thắp một cây hương và nhìn ảnh ba. Tôi nghĩ ba chắc phải để lại một cái gì đó chứ. Tôi đi lục từng ngăn kéo và trong ngăn kéo của tôi, ba để lại ba bức thư. Mới nhìn nét chữ lạ quá: nguệch ngoạc và xấu, không phải chữ viết của ba, nhưng tôi sực nhớ, tay phải của ba bị liệt nên ba viết bằng tay trái. Tôi đọc nội dung từng bức thư. Thư viết ngắn chỉ có mấy dòng:

“Em yêu quí!
Xin hãy tha thứ cho anh. Anh không thể để em chịu thiệt thòi. Em còn trẻ đẹp, hãy tìm hạnh phúc cho mình, em nhé!  Được vậy, anh rất mãn nguyện, chỉ xin em chăm sóc các con cho tốt. Anh không muốn em trói chặt cuộc đời mình vào bất hạnh của anh. Mãi mãi yêu em. Hẹn em kiếp sau”.

“Các thiên thần của ba!
Xin các con đừng giận ba. Hãy tha thứ cho ba. Các con nên nhớ rằng ba mãi mãi yêu thương các con. Nhưng cuộc sống của ba giờ đây, chính ba không gánh vác nổi. Ba biết như vậy là bất công với các con, nhưng còn má con, má con còn trẻ và đẹp, ba muốn giữ mãi những ngày tháng tốt đẹp đã qua. Kiếp sau chúng ta cũng vẫn là cha con, các con nhé. Hôn các con, mãi mãi yêu quí các con. Hãy xin ngoại tha thứ cho ba!”

“Đỗ Hùng thân quí!
Xin ông tha thứ cho tôi, vì đã không cùng ông chia sẻ sự đam mê nghệ thuật. Xin cám ơn Trời Phật đã cho chúng ta là bạn của nhau. Hẹn kiếp sau. Chúng ta mãi mãi là bạn quí. Những tác phẩm dang dở, ông giúp tôi hoàn thành nốt. Tất cả xin biếu tặng ông vì chỉ có ông mới xứng đáng giữ nó.
Mãi mãi nhớ ông.”

Tôi không thể nào hiểu được tâm trạng của ba. Tại sao như vậy chứ, tôi chỉ cần có ba hiện diện trong cuộc đời này để sáng sáng chiều chiều được nghe ba khẽ hát bài Đồi Tím Hoa Sim mà ba yêu thích, để được thấy ba vào ra đâu đó, vậy là đủ rồi, tôi không cần gì nữa. Tại sao như vậy hả ba? Con không đồng ý… Ba ơi, con không đồng ý.

Chiều tối khi ngoại về, tôi gọi điện báo cho chú Hùng đến. Ngoại đọc thư xong lắc đầu, vẻ mặt đau đớn đầy thương cảm. Ngoại nhìn ảnh ba và chỉ nói:

- Con thật bất hiếu.

Chú Hùng đến, chú vội vàng ngồi xuống ghế, giật mạnh tờ giấy trên tay tôi. Đọc xong, chú cúi đầu, nước mắt chú rơi xuống nền nhà. Chú ôm đầu khóc, tiếng khóc khe khẽ, nghẹn ngào.

Chúng tôi lại đi thăm má. Đã hơn một tháng rồi, một tháng không phải là thời gian dài nhưng đã làm cuộc đời của chúng tôi thay đổi tất cả. Tôi đã trở thành cô bé mồ côi. Trước đây, tôi không hề biết cái cảm giác cô đơn hụt hẫng khi mất cha nó như thế nào? Trong lớp học của tôi cũng có vài bạn như tôi bây giờ. Lúc đó, tôi không thể hiểu hết nỗi đau của họ. Sự bất hạnh làm cho con người trưởng thành hơn và bao dung hơn.

Thủ tục thăm nuôi rất rườm rà. Tôi nhận thấy có vẻ họ cố tình làm như thế. Để làm gì, tôi tự hỏi. Tại sao phải hành hạ nhau như thế? Đường thì xa, thời gian gặp ngắn ngủi. Tôi thấy nhiều người khúm núm, sợ sệt hai tay trân trọng nâng lá đơn đưa cho người cán bộ phụ tách công việc này. Tôi chợt hiểu ra: người ta làm như vậy để cho người khác sợ. Phải phụ thuộc vào người khác mà không có cách gì để tự vệ làm cho con người trở nên hèn hạ, nhu nhược, lâu dần nó trở thành quán tính và cái quán tính quay lại trói buộc nạn nhân.

Riêng ngoại thì khác, ngoại đến trình giấy tờ cá nhân và đến xin thăm nuôi, thái độ bình thản, ung dung. Khi đối đáp với cán bộ, ngoại cũng giữ cái phong thái đỉnh đạc như vậy làm mọi người ở đây cảm thấy lạ. Họ nhìn ngoại vừa thán phục, vừa ái ngại. Tay cán bộ có cái nhìn ác cảm với chúng tôi, nhưng ông ta cũng chỉ gây những khó khăn vặt vãnh để thoả mãn sự kiêu ngạo tầm thường.
Chúng tôi ngồi ở phòng chờ khá lâu. Cu tí đã ngáp ngắn ngáp dài sau một ngày đường vất vả. Ngoại bảo nó ngủ một chút nhưng nó sợ sẽ không được gặp má nên không chịu ngủ. Trông nó mỏi mệt và ủ dột quá!

Má xuất hiện trước cửa phòng thăm nuôi cùng mấy người khác mặc áo tù nhân. Má nhận ra chúng tôi trong đám người đến thăm người thân. Má thất thần lao về phía chúng tôi. Má nhận ra vành khăn trắng trên đầu chúng tôi, hình như má hiểu ra điều gì đó. Chúng tôi ôm má và khóc, cu tí khóc nhiều nhất… Nó nói trong nước mắt:

- Ba chết rồi, má ơi.

Má ôm cu tí vào lòng. Má khóc - lần đầu tôi thấy má khóc thảm thiết như vậy. Mười lăm phút trôi qua, má hơi bình tĩnh lại, má nhìn chúng tôi đôi mắt đỏ hoe. Má hỏi những gì đã xảy ra. Tôi không thể nói được gì. Ngoại chậm rải thông báo cho má những biến cố trong gia đình chúng tôi. Nghe xong má lại khóc, đôi bàn tay nhỏ nhắn nắm chặt, đầu cúi gục xuống bàn, đôi vai má run lên theo từng cơn nấc.

Thêm mười phút nữa, thời gian gặp mặt không còn nhiều, má ngẩn đầu lên tóc rối bời. Ngoại dịu dàng vuốt lại mái tóc đen dài và mượt mà của má. Má nói về sức khoẻ của mình sau khi uống thuốc.

- Nhờ ơn Trời Phật, bệnh của con đã đỡ nhiều rồi má ạ, vẫn còn thuốc uống một tháng nữa. Má đừng lo lắng quá cho con, má phải giữ gìn sức khoẻ, trăm sự con nhờ ở má.

Ngoại nói với nụ cười tự tin:

- Con đừng lo cho má. Mệnh của má vững như Thái Sơn.

Tôi thấy má khỏe hơn nhiều so với lần gặp trước. Khuôn mặt  má tươi tắn, hồng hào. Tôi thấy được an ủi rất nhiều. Bà ngoại bàn luận với má về việc thông báo cho công luận quốc tế việc này, để họ can thiệp giúp đỡ. Nếu giữ yên lặng mãi thì cũng đồng nghĩa với việc tự sát. Ngoại nói:

- Má đã tính kỹ với chú Hùng rồi. Chú Hùng có thực lực, lại hiểu biết và có bản lĩnh, khó có ai tốt như chú Hùng.

Má vui mừng trước quyết định và sự sáng suốt của ngoại.

- Con cũng đã nghĩ đến điều này từ lâu rồi má ạ. Chúng ta phải đấu tranh chứ không trông chờ ai ban cho. Chúng ta phải đòi cái chúng ta có quyền có, chứ không xin ai cả.

Câu chuyện đang còn dở dang và quyến luyến thì người cán bộ bảo:

- Đã hết giờ gặp, chuẩn bị vào thôi.

Ngoại dặn dò má những việc cần thiết. Ngoại cầm tay má, vẻ mặt ân cần:

- Con phải giữ gìn sức khoẻ, đừng để sự đau buồn làm con kiệt sức.

Má ôm ngoại và nói:

- Má đừng lo, con phải sống để đòi công lý cho chồng con và những người bất hạnh khác.

Chúng tôi hôn má, tôi giành một bên, cu tí giành một bên, và chỉ thả má ra khi người cán bộ giục:

- Nhanh lên.

Trên đường về nhà, tôi và cu tí tranh nhau nhòm ra cửa. Cảnh sắc bên đường rộn ràng sau một cơn mưa kéo dài lê thê mấy ngày trời. Đêm hôm đó là đêm đầu tiên sau những biến cố đau thương mất mát tôi thấy lòng dìu lại, tuy nỗi nhớ thương ba vẫn day dứt khôn nguôi. Tôi lên giường, nhắm mắt để tưởng tượng lại hình ảnh của ba và má rồi chìm vào giấc ngủ sau một chuyến đi dài mỏi mệt.
Hôm sau, trên đường đi chợ trở về, trời trở gió to, những chiếc lá bàng rơi vãi xơ xác trên đường. Con đường nhỏ ngập trong lá, rất nhiều lá xanh. Cơn bão mùa đông từ đâu đó sắp về, mọi nhà xôn xao chuẩn bị đối phó. Tôi nhớ những ngày trước đây, khi có tin báo bão là cả nhà chuẩn bị rất kỹ, che chắn cho những cây bông sứ, đưa tất cả những chậu phong lan vào phòng kín cho an toàn, không khí nhà tôi rộn ràng những lo toan. Còn bây giờ chẳng có gì để lo, nhà ngoại tuy thấp bé nhưng kiên cố.

Ngoại ghé vào bưu điện để “voice-mail” cho RFA và Chân Trời Mới, để lại lời nhắn theo lời của chú Hùng. Chúng tôi về nhà, cu tí bắt ghế ngồi chờ ngoài cửa. Sau khi đóng chặt cửa, đề phòng gió lớn. Rồi chúng tôi ăn cơm. Bữa cơm chỉ có ba bà cháu, không thể không buồn được. Ăn cơm xong, ngoại chuẩn bị đèn pin đề phòng điện cắt. Ngoại bảo mở đĩa Tây Du ký xem. Cu tí thì thích nhất phim này, nó thuộc lòng từng chi tiết. Trước đây ít khi tôi xem những loại phim này, bây giờ xem cho đỡ buồn, đỡ suy nghĩ mông lung, xem hoài cũng thấy thích, nhất là những bộ phim được chuyển thể từ truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Đêm hôm đó bình yên, gió cũng không lớn lắm vì bão đã chuyển hướng ra biển. Ngoại thắp một nén nhang trên bàn thờ Phật để dâng lời cảm tạ đến Thập Phương Chư Phật.
(Còn tiếp)

© 2008 www.danchimviet.com