Danchimviet - http://danchimviet.com
Nữ thần Công Lý (8)
http://danchimviet.com/articles/498/1/N-thn-Cong-Ly-8/Page1.html
Huỳnh Ngọc Tuấn

 
Tác Giả Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng/Published on 09.10.08
 
Có tiếng xe đỗ ngoài kia, tôi nhìn ra, đó là xe công an. Có nhiều người bước xuống, trong số họ, tôi nhận ra một số người, công an mặc sắc phục và rất nhiều người mặc thường phục lố nhố đầy sân. Họ xông vào lôi các vị sư đứng lên, buổi cầu kinh buộc lòng phải bỏ dở...

Vừa đặt chiếc xách lên bàn, tôi nghe ngoài cửa có người gọi. Tôi chạy ra. Ông tổ trưởng dân phố cùng đi với hai người nữa. Tôi chào họ và biết ngay họ đến để làm gì. Hàng năm, cứ vào Tết Trung thu, chính quyền và đoàn thể đến từng nhà để thu tiền mua quà cho các em nhỏ, để chứng tỏ sự “quan tâm của Nhà nước, Đảng” đối với thiếu niên nhi đồng. Ông ta nói:

- Nhà này hai suất, mỗi suất ba ngàn đồng, vị chi là sáu ngàn đồng.

Tôi nói với ông ta:
- Năm nay chúng cháu không ăn Tết Trung thu. Nhà cháu khó khăn.

Ông ta gằn giọng:

- Đây là chính sách của Đảng và Nhà nước, thể hiện sự quan tâm đối với thiếu niên - nhi đồng, nên phải tham gia đóng góp.

Tôi nổi cáu khi nghe cái luận điệu tuyên truyền lố bịch và ngớ ngẩn đó.

- Nếu Đảng và Nhà nước quan tâm đến thiếu niên - nhi đồng thì Đảng và Nhà nước chi tiền ra mua quà, chứ tại sao lại bắt dân phải đóng góp để mua quà.

Một người đi với ông ta quát tôi:

- Đừng có nói bậy, không ai bắt buộc cả, tự nguyện đóng góp, ai đóng góp thì có quà, không đóng góp thì nhịn, thế thôi.

Tôi không thể yên lặng, trả miếng:

- Để tiền ấy ra mua ở chợ còn rẻ hơn giao cho các ông.

Ông tổ trưởng hăm doạ tôi:

- Con này láo, mày liệu hồn đấy.

Và họ lục tục kéo nhau đi, có ai đó trong họ nói:

- Con này nó giống con gái mẹ nó, cứng đầu cứng cổ.

Tôi vào nhà, không thèm chấp câu nói ti tiện đó.

Trong những ngày tháng này, tôi luôn luôn sống trong tâm trạng bồn chồn, lo lắng. Hằng ngày, ba vẫn tập tễnh đi dạo, mỗi ngày đi xa hơn một tí. Tôi sợ một ngày nào đó ba đi qua khu vườn cũ thì ba sẽ bị sốc. Nỗi lo canh cánh đó rồi cuối cùng cũng đến. Từ trong nhìn ra, tôi thấy ba loạng choạng trên đuờng. Tôi vội chạy đến giúp ba vào nhà. Tôi thấy áo quần ba lấm lem, tay chân rướm máu. Tôi biết là ba bị ngã, mặt ba tái xanh, môi mím chặt tím bầm, đôi mắt giận dữ. Ba nằm trên giường có đệm dày, mùa này hơi nóng, nhưng như vậy ba đỡ đau hơn. Tôi lau cho ba bằng khăn ướp lạnh và nhẹ nhàng khuyên ba:

- Ba đi gần thôi, đừng đi xa quá sẽ mệt đó ba ạ. Xe cộ bây giờ cũng nguy hiểm lắm.

Rất lâu, ba mới nói được, giọng nói đứt quãng:

- Quân… khốn… nạn.

Tôi linh cảm điều đã xảy ra, nhưng vẫn hỏi ba, hi vọng là không phải điều tôi lo lắng:

- Ba đi chơi ở đâu về hả ba?

- Vườn… nhà… mình, đồ …..ăn…. cướp.

Như vậy là tôi đã rõ. Tôi chỉ biết nói như cái máy:

- Thôi bỏ đi ba, mọi việc trên đời này đều có nhân quả cả, trong phúc có họa, trong hoạ có phúc, mình mất khu vườn đó chưa hẳn là hoạ đâu, mà cái người cướp đất của mình chưa hẳn là được phúc đâu, để rồi ba xem.

Giọng ba đau đớn tột cùng, tuyệt vọng tột cùng:

- Nhưng …đó …là ….di sản …của… ông bà…Nếu…họ..lấy làm….đường, bệnh viện,….trường học ……..thì …….ba….còn …….mãn..…nguyện……..Đằng này, họ….. bán ……cafe ôm,….một …..dạng………thanh lâu…….. trá……. hình……Thật….. đau….. xót….. quá….. con ….ạ.

Nghe ba nói xong, tôi chỉ còn biết ôm ba mà khóc, ba con tôi khóc đến khi ngoại về. Ngoại hiểu hết mọi sự và nói một cách dứt khoát:

- Mẹ sẽ lấy lại khu vườn đó, có thể là lâu nhưng mẹ sẽ lấy lại cho con. Khóc lóc, thù hận thì có ích gì hả con, nó chỉ làm chướng ngại cho mình thôi, phải biết xả bỏ và bao dung nữa con ạ.

Đêm hôm đó cu tí không đi rước đèn với chúng bạn, nó quấn quít bên ba. Tuy rất nhiều lần ba bảo nó cùng với tôi đi rước đèn đi, một năm mới có một lần, nhưng nó không đi. Nó treo cái lồng đèn ở cửa ra vào. Màu đỏ màu xanh từ lồng đèn hắt vào làm cho căn phòng có một thứ ánh sáng hư ảo. Nó đem truyện tranh ra đọc cho ba nghe, thỉnh thoảng nâng bàn tay bất động của ba lên hôn thật nhiều, rồi áp vào má trông rất dễ thương và đầy tình cảm. Cu tí có vẻ giống ba về mọi mặt, từ ngoại hình, dáng đi, màu da, ánh mắt và cả tính tình; nó đa cảm và yếu đuối, nó không thích tranh chấp với ai, luôn nhường nhịn, chịu thiệt thòi. Bà ngoại nói:

- Đó là căn cơ tốt. Không tranh chấp thì không tạo nghiệp.

Tôi thì ngược lại, thích sự công bằng, không bắt nạt ai nhưng cũng không để cho ai bắt nạt mình. Tôi sẵn sàng nhường nhịn nhưng cũng sẵn sàng đấu tranh bằng mọi giá để bảo vệ phẩm hạnh và quyền lợi của mình. Tôi không giống một vài cô gái, khi bị bọn con trai trêu chọc thì chỉ biết làm thinh hoặc chỉ khóc. Nếu một ai đó chỉ cần nhìn tôi, một cách sỗ sàng hoặc thiếu tự trọng tôi trợn ngược mắt với họ ngay. Tôi giống má từ mọi cách, mái tóc, dáng đi, màu da, ánh mắt, gần như là một phiên bản của má.


Gia đình lại nhận được thư của má, trong thư má bảo là má bị ốm. Tôi hiểu má, má không phải là người hay than vãn, má chịu đựng rất giỏi, khi báo cho gia đình biết má bị bệnh, tôi biết chắc bệnh má không nhẹ. Má bảo là gan của má có vấn đề, và kể rõ triệu chứng của bệnh để chúng tôi đến tham khảo ý kiến bác sĩ, và gởi thuốc cho má. Cách trị bệnh “từ xa” thế này vừa không có kết quả, vừa nguy hiểm nhưng chẳng biết làm thế nào bây giờ. Ba muốn đọc thư má, tôi không muốn ba biết sự thật vì như vậy sẽ làm cho tình trạng bệnh của ba xấu hơn thôi. Tôi phải dùng kế hoãn binh để nghĩ cách. Tôi và ngoại đi hỏi bác sĩ, và ngoại phải bán một ít nữ trang của ngoại để mua thuốc. Lần thăm nuôi má vừa rồi, tôi thấy má gầy và đen kinh khủng, tôi không nhận ra má từ xa, tôi chỉ biết ôm má khóc. Má bảo tôi đừng sợ và đừng lo lắng cho má. Nghe má kể chuyện trong tù mà tôi không dám tin vào tai mình nữa. Nhà tù chật chội, hôi hám, mỗi người chỉ được 50cm, người tù phải ngủ dưới “phi đạo” tức là lối đi trong phòng. Không có nước, phòng giam 50 người chỉ có 100 lít mỗi ngày để dội cầu, mùi hôi xông lên cả phòng. Công việc thì sức người không chịu nổi, người ta đặt ra cái ”chỉ tiêu” quái ác, người tù phải làm số công việc gấp 3 lần nông dân bình thường. Đến mùa gặt mùa cấy thì càng khốn nạn hơn, phải ở ngoài đồng cả ngày, mùa nắng thì cháy da, không đủ nước uống, phải uống cả nước sông, nước ruộng. Mùa mưa thì ướt và lạnh cóng người. Những ai không làm nổi thì bị cho là “chai lười” lao động, hay nặng hơn thì bị chụp mũ cho là chống đối, rồi Ban giám thị trại giam lại phát động phong trào thi đua giữa đội này và đội khác. Những tay đội trưởng, đội phó ra sức đốc thúc, chèn ép và sử dụng cả roi mây, dùi cui để bắt mọi người phải làm việc. Cuộc chạy đua giữa các đội làm mọi người kiệt sức, và cái đích mỗi ngày một cao một xa hơn. Kỷ lục mới được xác lập bằng những trận đòn chí tử dành cho những ai yếu đuối. Thành tích của cuộc chạy đua đó các đội trưởng tổ trưởng hưởng, họ được ghi công và giảm án. Đây là một toan tính vô cùng tàn độc, dùng người tù để trị người tù kết quả là họ kiệt sức, ai không hoàn thành chỉ tiêu, đều bị đánh đập không thương tiếc. Đội trưởng đánh, thi đua đánh, cán bộ quản giáo đánh vì họ làm cản trở thành tích chung của cả đội. Tối về họp đội, họ bị đem ra làm đòn kê tấm thớt, bị “đấu tố”. Đội nào có nhiều người kém như vậy sẽ “sinh hoạt” suốt đêm để “kiểm điểm”. Mọi người sau một ngày làm việc vất vả, ai cũng rã rời, kiệt sức, chỉ muốn ngã lưng ra ngủ, vậy mà phải ngồi để “kiểm điểm”, “đấu tố”. Những “phần tử xấu” làm cho một số người khác nổi khùng, điên tiết lên (vì họ ngây thơ quá, cùng quẫn quá, không biết nên thương hay nên trách họ đây). Vậy là những người yếu đuối kia trở thành cái gai trong mắt của những người khác. Họ trở thành nạn nhân của một thủ đoạn tàn độc, quỷ quyệt. Những nạn nhân đó bị đánh đập ,“ngồi nội qui” (ngồi nội qui có nghĩa là khi mọi người đi ngủ, nạn nhân phải ngồi nhìn lên bản nội qui treo trên tường đọc đi đọc lại bản nội qui, đây là một cách tra tấn dã man), cắt thư từ, không cho thăm nuôi, nhận quà, bị cách ly (có nghĩa là không được nói chuyện hay trao đổi với ai). Cái không khí khủng bố bao trùm lên mọi người, công việc quá sức người chịu đựng, sinh hoạt nghiệt ngã làm cho mọi người khô kiệt và sợ hãi.

Nghe má kể, tôi tưởng, mình đang nghe một câu chuyện nào đó từ địa ngục mà người lớn kể để doạ trẻ con, nhưng bất hạnh thay đó là sự thật, sự thật mà má đang chịu đựng. Bây giờ má đang bị bệnh. Bà ngoại là người từ trước đến nay vẫn điềm tĩnh cũng phải hoang mang, khủng hoảng. Còn ba như linh cảm được điều gì đó, ba cứ nằng nặc đòi xem thư của má. Tôi không thể tránh né được đành phải để ba xem. Đọc thư xong, ba đờ đẫn cả người, lát sau thì ba khóc, tiếng khóc uất nghẹn đau đớn, thê thảm, khôn cùng. Tôi không chịu nổi chạy về phòng mình và khóc - khóc rất lâu. Tôi chợt nghĩ, khóc thì ích gì, phải tìm cách cứu má, hoặc ít ra giúp má vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, phải đấu tranh với cuộc sống để tồn tại, đầu hàng là chết. Tôi còn có ba để chăm sóc, còn có cu tí để lo lắng và má nữa, má đang cần tôi. Tôi vùng dậy và tự bảo mình: chấp nhận hết và chiến đấu.

Kể từ hôm đó, ba ít nói, ít đi lại, ba chỉ luẩn quẩn trong phòng, và ăn cũng ít. Ba sa sút thấy rõ, xanh xao và gầy hẳn. Tôi cố động viên tinh thần của ba, an ủi ba, nhưng những lời lẽ yêu thương của tôi cũng không làm ba yên lòng được, không làm ba nguôi ngoai được. Cuộc đời phủ lên gia đình tôi những cơn sóng dữ, cuốn phăng đi tất cả. Tôi thấy mình là người lương thiện bị đẩy vào địa ngục. Tôi tin đây là sự nhầm lẫn, và sự nhầm lẫn này phải thay đổi, công lý phải đuợc thực thi, tôi có một niềm tin mãnh liệt như thế.

Để tăng thêm thu nhập, ngoại vẫn bán ở chỗ cũ như mọi ngày, tôi đẩy một chiếc xe đi khắp phố, để bán dạo. Lúc đầu cũng cảm thấy buồn và ngượng một chút khi gặp người quen hay bạn bè cùng lớp, nhưng cái tâm trạng đó qua đi nhanh chóng. Tôi phải làm công việc của mình, đạt được mục đích của mình. Ngoại sợ tôi buồn nên hay an ủi tôi: ”mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”. Và ngoại cũng hay nói về “nghiệp”. Tôi không biết có nghiệp hay không, dù có hay không tôi vẫn sống với giá trị của gia đình tôi đó là sự lương thiện. Bất chấp cuộc đời với những bất công và tàn bạo, tôi vẫn là tôi, là con của một người cha nhân ái, là con của một người mẹ bao dung, là cháu của một người bà có tấm lòng hỷ xả.

Nhưng cuộc đời cay nghiệt lại không muốn buông tha tôi, nó muốn vùi dập cho tới cùng. Tôi nhớ mãi buổi chiều hôm đó, cũng như những buổi chiều khác, tôi đẩy xe chở đầy trái cây dạo qua các phố. Thỉnh thoảng, tôi dừng lại dưới hàng cây ven đường hay trước cổng trường học để bán cho khách với nụ cười luôn nở trên môi và lời mời đon đả.

Buổi chiều hôm đó có người hàng xóm đến báo cho tôi biết, ba tôi bị ngã xuống sông. Tôi như người điên, bỏ hết tất cả, tôi chạy đâm sầm vào mấy người đi ngược chiều, tim tôi thắt lại, đầu óc trống rỗng, không còn cảm nhận được điều gì, đất như sụp dưới chân, tôi vấp ngã nhiều lần, áo quần rách bươm, khuỷu tay bàn tay bê bết máu. Mặc kệ, tôi chạy ra sông nơi cây cầu mà ba tôi vẫn hay ra đó ngồi hóng mát và xem người ta câu cá. Mọi người xôn xao. Tôi hỏi một người đàn ông đứng tuổi. Ông ta nhìn tôi đầy thương cảm:

- Đem về nhà rồi con ạ.

Tôi không kịp cám ơn ông ta được một lời, vùng chạy về nhà. Có ai đó nói:

- Thật tội nghiệp.

Tôi tự hỏi trên đường chạy về nhà, bao lơn cao như thế làm sao ba ngã xuống sông được, hay là..…Tôi khóc to thành tiếng.

- Ba ơi, sao lại thế hả ba?

Tôi thấy người ta đặt ba trên giường. Quần áo ba vẫn còn ướt, mắt ba mở thao láo, nhìn trừng trừng. Tôi ôm chầm lấy ba, người ba hơi lạnh và tôi không còn biết gì nữa.

Khi tỉnh dậy tôi thấy nhà đầy người. Chú Hùng, chú Năm, cô út, bà ngoại, cu tí và những người hàng xóm. Chú Hùng khóc rống lên như một con sư tử bị thương. Tiếng khóc của chú đầy căm phẫn.
Tôi đứng dậy để vào chỗ ba, cô út và mấy người hàng xóm giữ tay tôi lại. Tôi nói như van xin họ:

- Để con vào gặp ba con một lần nữa.

Họ không giữ tôi nữa. Tôi ôm ba và hôn ông thật nhiều, vì tôi biết đây là lần cuối tôi được gặp ba. Tôi vuốt mắt ba nhưng vẫn không sao làm ông nhắm mắt được. Tôi lại ôm ba và khóc. Bà ngoại vào đỡ tôi ra, tôi ôm ngoại.

- Ngoại ơi, con căm thù họ, con căm thù họ.

Bà ngoại ôm tôi thật chặt và hôn lên mắt, lên trán tôi an ủi:

- Không cần phải căm thù đâu cháu ạ. Người ta căm thù vì sợ hãi. Khi nào con không sợ hãi thì lúc đó lòng hận thù sẽ chấm dứt, như lời đức Joan-Polo II và hoà thượng thích Quảng Độ, chúng ta đừng sợ hãi.

Chú Hùng vào hôn lên trán ba, chú nói nhỏ nhưng rành rọt từng tiếng.

- Ông cứ thanh thản ra đi, đừng quyến luyến trần gian đau khổ này. Tôi thề sẽ mang lại công bình cho ông.

Chú vuốt nhẹ lên mắt ba, mầu nhiệm thay, mắt ba từ từ khép lại. Bây giờ trông ba như một người đang ngủ say.

Giữa nhà, ngoại đặt  bàn thờ đức Phật trang nghiêm với sự trợ giúp của rất nhiều người bạn của bà - những người tôi chưa từng biết, tôi chưa từng gặp, các ông cụ bà cụ vẻ trịnh trọng nhưng sắc mặt họ hoàn toàn bình yên, không một chút sợ hãi. Cả cuộc đời họ chứng kiến nhiều cái chết, nhiều sự ra đi của bạn bè và người thân, và có lẽ họ đã thấu hiểu cái mong manh vô thường của đời người. Hình như với họ, chết không phải là chấm dứt, nó là một biến cố trong vô vàn biến cố của kiếp nhân sinh phù du. Họ đón nhận nó bởi vì họ hiểu đó là sự tất yếu. Nhưng với sự tất yếu này - oan nghiệt và xa lạ, tôi không sao chịu đựng nổi. Sự mất mát, sự thiếu vắng ba trong cuộc đời chúng tôi là một nghịch lý đau đớn. Ước gì có phép lạ nào đó, để thay đổi tất cả, để ba quay về với chúng tôi. Tôi biết ai rồi cũng chết. Tôi đã chứng kiến nhiều vụ tai nạn xe cộ, gần đây thôi, làm chết những người rất trẻ, khoảng tuổi tôi và hơn tôi một chút. Tôi không hề nghĩ là điều đó xảy ra với gia đình tôi. Tôi không thể tin được người ra đi lại là ba tôi. Tôi và cu tí ngồi ở một góc phòng, ở đây chúng tôi có thể nhìn rõ ba nhất và khóc. Tôi cảm thấy chua xót vô cùng. Tôi ước chúng tôi được chết cùng với ba để khỏi xa nhau.

Bà cụ  bạn của ngoại trở lại với mấy vị sư già. Những vị sư này phong thái đạo mạo, uy nghi, nét nhìn từ ái; trên khuôn mặt xanh xao, gầy guộc của họ toả ra một thứ ánh sáng bình an, thanh thoát; cử chỉ của họ từ tốn; lời nói ấm áp, khoan hoà. Họ ở đâu mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy? Hàng ngày dạo qua các phố bán hàng, tôi chỉ thấy những vị sư phóng xe vun vút - những loại xe sang trọng, điện thoại di động đời mới, đồng hồ đắt tiền. Có vị chiều chiều phóng xe xuống biển tắm, hoà cùng dòng người đông đảo, với những cô gái ăn mặc thoải mái, phô trương vẻ đẹp trời cho.

Vị hoà thượng và hai đại đức phụ tá làm lễ và khai kinh. Tôi đã nghe nhiều lần và thuộc một phần bài kinh này. Mười lăm phút sau, trong tiếng kinh cầu siêu đầy sự giải thoát và thánh vị, tôi nghe thấy tiếng ai đó quát tháo, chửi rủa ồn ào ngoài sân. Chạy ra ngoài xem sao, tôi không hiểu gì hết, tại sao lại có người đến nhà mình để chửi rủa, mà chửi rủa ai mới được chứ ?!

Trước sân khoảng 7-8 người phụ nữ và nam giới tuổi từ 30-60 tuổi. Họ chỉ tay xỉa xói vào nhà, và chửi rủa. Tôi lắng nghe xem họ chửi ai. Tôi không tin vào tai mình nữa: họ chửi các vị sư, nào là tay chân của các thế lực thù địch, làm mất đoàn kết dân tộc, phá hoại Phật giáo, làm chính trị, âm mưu lật đổ chính quyền và vô vàn những câu xúc xiển, thô lỗ và ngu xuẩn khác nữa. Tôi không dám nghe, bịt tai lại chạy vào nhà, chỉ mang máng hiểu mơ hồ: chắc các vị sư này ở trong giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đây.

Trong nhà, tiếng cầu kinh vẫn an hoà, ấm áp, mặc cho sự bẩn thỉu, thô lậu mà người ta tung ra ở ngoài kia với tất cả sự thù hận. Tôi bất giác nhận ra một điều: sự hận thù và bạo ngược trông xấu xí làm sao! Tôi sẽ không bao giờ là người mang trong lòng sự thù hận.

Có tiếng xe đỗ ngoài kia, tôi nhìn ra, đó là xe công an. Có nhiều người bước xuống, trong số họ, tôi nhận ra một số người, công an mặc sắc phục và rất nhiều người mặc thường phục lố nhố đầy sân. Họ xông vào lôi các vị sư đứng lên, buổi cầu kinh buộc lòng phải bỏ dở. Các vị sư già vẫn thản nhiên và ôn tồn nói với họ:

- Nghĩa tử là nghĩa tận, các ông để cho chúng tôi tụng hết thời kinh để người chết được siêu thoát, sau đó các ông có bắt, chúng tôi cũng vui lòng.

Một nhân viên mặc thường phục áo quần bảnh bao, sang trọng, chắc có lẽ là chỉ huy, giọng nói lịch sự nhưng đểu cáng:

- Hoà thượng quá lời rồi. Chúng tôi đến đây để bảo vệ quí thầy vì chúng tôi được thông báo có nhiều người chờ ngoài kia để hành hung các thầy.

Vị sư già vẫn điềm tĩnh và uy nghi, tay lần chuỗi hạt, mắt hơi khép:

- Chúng tôi có làm gì sai trái mà bị họ đe doạ, họ là người của các ông đó thôi.

Ngoại không chịu được, nắm lấy ống tay áo người chỉ huy kéo mạnh ra xa ngài Hoà thượng. Ngoại nghiêm khắc nói với họ:

- Các ông làm thế này là vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, đàn áp tôn giáo. Chúng tôi phản đối.

Ông ta gỡ tay ngoại ra, giọng mỉa mai:

- Quyền tự do tôn giáo được Hiến pháp qui định, ai dám vi phạm. Chúng tôi đến đây để bảo vệ các thầy. Bà để chúng tôi làm công việc của mình, không được cản trở. Chúng tôi có thể bắt bà vì tội chống người thi hành công vụ.

Ngài Hoà thượng vẫn uy nghi, trông ngài bình tĩnh và đường bệ vô cùng. Ngài ôn tồn nói:

- Thôi, cứ để họ muốn làm gì thì làm.

Không nói một lời, rất nhiều người áp lực các thầy ra xe, xe chạy mất hút trước sự ngỡ ngàng và hoảng hốt của mọi người. Cái đám chửi thuê kia cũng giải tán một cách mau lẹ. Tôi thật sự bàng hoàng trước một vở kịch chu đáo đến thế.
(Còn tiếp)

© 2008 www.danchimviet.com