Danchimviet - http://danchimviet.com
Nữ thần Công Lý (7)
http://danchimviet.com/articles/495/1/N-thn-Cong-Ly-7/Page1.html
Huỳnh Ngọc Tuấn

 
Tác Giả Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng/Published on 08.10.08
 
Tôi thương ba vô cùng và thấy cuộc đời này thật bất công. Những người gian ác thì cứ nhởn nhơ không sao cả, tha hồ làm mưa làm gió, gieo rắc tai hoạ cho người khác; càng gian ác càng leo lên những địa vị cao, càng thành đạt. Con cái họ đi du học ở Mỹ, ở Pháp.

Rồi đến những ngày sắp Tết, tôi bận rộn túi bụi. Cả ngày phải ở ngoài chợ, ra đi từ rất sớm, tối mịt mới về. Ba phải ở nhà một mình. Tôi phải chấp nhận vậy thôi, vì phải buôn bán để nuôi cả nhà và má nữa. Cứ một tháng đi thăm má một lần, đường xa vất vả và tốn kém. (Người ta đã chuyển má đi xa). Những ngày này, ai cũng rất bận, cả nhà phải ăn cơm hộp. Tôi nhờ người mang cơm hộp về cho ba. Tôi biết một mình ba rất khó khăn nhưng biết làm sao. Có hôm tôi về, thấy chân tay mặt mũi của ba bị trầy sướt hết. Tôi biết ba bị ngã. Chúng tôi chỉ còn biết ôm ba mà khóc. Ba nói để dỗ dành chúng tôi:

- Không sao hết. Thế này thì nhằm gì.

Và ông cố gắng nở một nụ cười méo xệch. Tôi thương ba vô cùng và thấy cuộc đời này thật bất công. Những người gian ác thì cứ nhởn nhơ không sao cả, tha hồ làm mưa làm gió, gieo rắc tai hoạ cho người khác; càng gian ác càng leo lên những địa vị cao, càng thành đạt. Con cái họ đi du học ở Mỹ, ở Pháp. Họ sở hữu nào là biệt thự vài cái, trang trại vài cái và bao nhiêu thứ khác. Tôi không biết tại sao như vậy?!

Tết đến, tôi bận rộn đến ngày cuối cùng. Chiều ba mươi, đường phố đã vắng, tôi và ngoại cùng dâng một chút lễ mọn cho Trời Phật, thần linh và cầu xin việc làm ăn thuận lợi. Trên đường về, tôi ghé lại mua cho ba một cành mai. Đã là những giờ phút cuối cùng của năm cũ, người bán mai một ông lão nhà quê ốm tong teo vui mừng chào đón tôi và bán với giá phải chăng, bàn tay cụ run run khi nhận tiền, tôi thấy thương cụ quá.

Tôi mang cành mai về cắm vào lọ, cho nước đun thật sôi vào, cu tí mắc lên cành mai một dây kim tuyến và đèn màu rực rỡ. Nhà cửa được ngoại dọn dẹp qua loa. Ngoại đặt sẵn người ta làm bánh chưng, bánh tét, mứt. Cô út mang cho tôi và cu tí hai bộ quần áo mới. Cu tí mặt rất vừa và đẹp, còn tôi thì quá chật. Chỉ có mấy tháng mà tôi đã lên cân, cô út nhìn tôi kinh ngạc:

- Con này nó lớn như dưa ấy.

Tôi chạy lại nhìn mình trong gương, mặt bỗng đỏ lên: tôi lớn thật rồi. Tuy không có đồ Tết, nhưng tôi không bận tâm; hơn nữa, chẳng còn lòng dạ nào để nghĩ đến Tết.

Có tiếng xe chạy vô sân, rất quen thuộc, tôi biết là chú Hùng đến. Cùng đi với chú Hùng là mấy người bạn của chú và của ba. Căn phòng nhỏ đêm cuối năm thật vui. Chú Hùng mang đến rất nhiều quà. Chú ấy thật là tốt. Tôi không biết trên đời này có ai đối xử tốt với nhau đến như thế không?! Chắc là khó, nhất là thời buổi này, quan hệ với nhau bằng quyền lợi, hết quyền lợi thì cũng chấm dứt hết.

Tôi mang lên một ấm trà, ba và các chú nói chuyện rất lâu. Họ không nói về hội hoạ như những lần trước, chắc có lẽ họ sợ ba buồn, mà cũng có khi vì một nguyên nhân khác. Họ nói về ai đó rất lạ, những cái tên tôi chưa hề nghe ở nhà này như bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn,giáo sư Trần Khuê… với giọng đặc biệt kính cẩn khi họ nói về Linh mục Nguyễn văn Lý... và  nhiều nhất, sôi nổi nhất là về một chuyến Mỹ du của một cụ già nào đó là Hoàng Minh Chính thì phải…Chú Hùng nói:

- Bài nói chuyện của cụ Hoàng Minh Chính ở trường đại học Harvard thật tuyệt vời. ”Chủ nghĩa Marx- Lenin và Hệ luỵ”. Ông cụ nói về học thuyết tư biện của Marx là một sai lầm ngay từ nguyên uỷ của nó. Ông cụ già rồi nhưng tinh anh và hùng biện lắm.

Tôi chẳng hiểu gì hết. Gần giao thừa, chú Hùng chia tay và hẹn sẽ đến. Mồng một Tết, chúng tôi về nhà chú Năm thắp hương cho tổ tiên, rồi về nhà ngủ một giấc. Những ngày trước tết tôi thiếu ngủ nên nằm xuống là ngủ lúc nào không biết. Ngoại lo việc nhà và tiếp khách. Buổi chiều, bà cụ - bạn của ngoại cũng đến, bà mang rất nhiều quà. Hai cụ lại nói về hai vị hoà thượng Huyền Quang và Quảng Độ, nói về chuyện giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất và giáo hội quốc doanh.

Mồng hai Tết, chú Hùng và mấy người bạn lại đến. Chúng tôi ra chào các chú. Vào đến nhà, chú Hùng lấy ra một phong bao màu đỏ:

- Đây là quà các chú mừng tuổi hai cháu - chú cười phá lên, đôi mắt ốc nhồi của chú bớt đi phần dữ dội - chia đều không phân biệt tuổi tác.

Tôi nói bằng kiểu vùng vằng của trẻ con với chú Hùng. Đối với chú, tôi luôn thấy một sự gần gũi như tình cha con.

- Chú Hùng làm như con tranh với em không bằng.

Chú vuốt tóc tôi:

- Thế thì tốt.

Rồi họ lại nói về chính trị, về quyền tự do thông tin, báo chí và về nhân quyền. Thỉnh thoảng, chú Hùng trích dẫn ở đâu đó cả một đoạn dài bằng tiếng Anh - chú Hùng nói tiếng Anh thật tuyệt vời. Khi chú sắp ra về tôi hỏi nhỏ:

- Chú không sợ công an bắt hay sao?

Chú cười thật to, giọng khinh bạc:

- Cứ bắt thử xem.

Tôi thấy phục chú Hùng quá, như thế mới là đàn ông chứ. Có đâu toàn những bọn vai u thịt bắp, hoặc phong lưu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao mà bản lĩnh thì không bằng một người phụ nữ như Dương Thu Hương. Đàn ông bây giờ phần nhiều chỉ lo hưởng thụ, mặt mày đỏ gay, bụng béo phì, chỉ biết cúi đầu cho người ta sai khiến, nhận được chút tiền thì vênh váo, vào ra những quán bia ôm, karaoke ôm, giọng cao ngạo, ngu xuẩn.

Hàng năm, cứ mồng một Tết Nguyên Đán, ngoại, má và tôi vẫn đi chùa lễ Phật. Hôm nay đã là mồng Ba mà chẳng thấy ngoại động tĩnh gì. Tôi hỏi:

- Năm nay mình có đi lễ Phật không ngoại?

Ngoại buồn bã trả lời:

- Phật ở trong tâm, cứ gì phải đến chùa.

Ngoại nói vậy thôi, chứ cả đời ngoại đi lễ Phật. Phải có một lý do gì đó ngoại mới bỏ đi một điều mà với ngoại  là thiêng liêng. Ngoại đứng lên như để giải toả, tránh né một điều gì đó đang đè nặng trong lòng. Giọng cay đắng và đầy bất mãn:

- Sư chẳng ra sư, thầy chẳng ra thầy. Cái thời đại gì mà kỳ quái, người ta lũng đoạn đến cả tôn giáo.

Mấy ngày Tết là những ngày tôi nghĩ ngơi và giúp ba.

Những ngày Tết rồi cũng đi qua. Quay về với cuộc sống thường nhật, việc buôn bán cũng chững lại. Buổi sáng, tôi có thể ngủ thêm một chút, buổi trưa về nấu cơm cho ba ăn, giặc quần áo cho ba và cu tí. Ngủ một giấc đến hai giờ, lại ra chợ giúp ngoại. Vì thu nhập hạn chế, nên mọi người phải tự điều chỉnh nhu cầu. Buổi sáng, tôi chỉ uống một cốc sữa đậu nành 1000 đồng, tiền đi chợ cũng phải hạn hẹp. Chúng tôi cố gắng để khỏi ảnh hưởng đến nhu cầu của ba về ăn uống, thuốc men, không ai nói với ba nhưng ba vẫn biết. Có lần ba hỏi khi nhìn mâm cơm đạm bạc:

- Nhà mình khó khăn quá hả con?

Tôi vờ như không có gì:

- Bình thường thôi ba ạ. Mấy hôm nay, chợ không có cá, rồi cúm gà, còn heo thì long mồm lở móng, tất cả nhu yếu phẩm đều lên giá. Nhưng rồi sẽ ổn định thôi ba ạ.

Đó là sự thật, cuộc sống hiện nay rất khó khăn. Thức ăn khan hiếm nên đắt như vàng, chỉ có những gia đình có thu nhập cao mới chịu nổi, còn cả nhà tôi thì chỉ trông chờ vào gian hàng trái cây bé tí thì làm sao tránh được túng thiếu. Tiền thuốc của ba và tiền thăm nuôi má, và chi phí cho cả gia đình, tôi không biết sẽ giấu ba được bao lâu, nhưng giấu được đến đâu hay đến đó vậy.

Mùa hè lại đến, cũng đã tròn một năm ngày má bị bắt, tròn một năm cái biến cố đau thương. Khu vườn của gia đình tôi bây giờ đã đổi chủ. Nó được bao bọc bởi một bức tường kiên cố; hòn non bộ và hồ nước được mở rộng và đào sâu; những cây cổ thụ vẫn còn giữ được, cây ngọc lan vẫn còn, gốc nhãn lồng to lớn sum sê vẫn phủ bóng mát êm đềm và viên mãn. Cây si với những chùm rễ mềm đong đưa trong gió vẫn vô tư lự trước đau thương, vẫn với cái vẻ trầm tư, u uẩn. Mỗi lần đi qua, tim tôi như bị thắt lại. Thà rằng người ta phá hết, không để lại một dấu tích nào sẽ đỡ đau lòng hơn, vì không còn một nhắc nhớ nào hết, không còn một kỉ niệm nào, để khỏi gợi sự đau buồn. Tôi không hiểu sao những người lớn mà vô tâm đến thế. Họ không hề quan tâm đến nỗi đau của người khác. Nếu họ xoá bỏ hết đi thì sẽ đỡ tổn thương hơn cho người bị hại.

Trên ngôi nhà của tôi, họ xây lên đó căn nhà, mái cao vút theo kiến trúc Thái Lan. Phía trước khu vườn trước đây là hàng rào dâm bụt, bây giờ là bức tường rào: phần dưới là đá, phần trên là những khung sắt ghép lại rất đẹp vối những hoa văn rất cầu kỳ. Bên ngoài có thể nhìn vào. Bên trên giăng ngang một bản hiệu rất sang trọng và hào nhoáng: Mây Tần garden coffee, thấp thoáng mấy cô gái phục vụ, váy ngắn, rất ngắn. Những người còn chút tự trọng chắc không ai dám nhìn vào, những cái đùi gợi cảm nảy lửa đó, khách đến đây cũng là những tay giàu có, họ đến để hưởng sự yên tĩnh của khu vườn, họ thì thầm trong tiếng nhạc du dương. Có những đêm tôi có việc phải đi ngang qua đó, nhất là những đêm trăng, tôi không dám nhìn vào, tôi phải bước thật nhanh, tôi không muốn thấy cái thiên đường tuổi thơ của tôi bây giờ thuộc về ai đó.

Lại mấy tháng nữa trôi qua. Trong những khó khăn chật vật, mọi nhà đang chuẩn bị đón Tết Đoan Ngọ. Trời nóng kinh khủng, người ta đi tắm biển. Tắm biển bây giờ là một cái “mốt”, trước đây chỉ những người giàu có mới đi tắm biển, còn bây giờ ai cũng đi tắm biển. Họ  lũ lượt kéo nhau xuống biển. Con đường tráng nhựa cẩu thả vì người ta rút ruột hết rồi - nó thảm hại như một bà già bệnh hoạn - con đường nhỏ hẹp đầy ổ gà, ổ trâu, có cả một đoạn dài sạt lỡ, long ra những miếng đá lởm chởm. Người ta phủ lên đó mấy xe đất đỏ. Mùa đông thì lầy lội, mùa hè thì bụi mù mịt. Dòng người lũ lượt về phía biển, người ta mang theo nước ngọt và trái cây. Họ là những người lao động lam lũ, nghèo nàn. Không phải họ đi tắm biển để tìm một chút nắng mặt trời (vì ánh nắng đã đốt đôi cánh tay và mặt họ đen sạm đi trong những công việc nặng nhọc). Họ đi tắm vì người hàng xóm của họ đi tắm, người hàng xóm của họ đi tắm vì người bạn của họ đi tắm, người bạn của họ đi tắm vì sếp y đi tắm. Tôi thấy có một điều gì đó ngớ ngẩn. Tắm biển là một nhu cầu - một cách để thư giản chứ không phải  bắt chước, để đựơc giống với người ta. Người ta tắm biển mà mình không đi tắm thì “quê quá” vậy là rủ nhau đi ào ào. Con đường quá tải vì xe cộ và cũng vì mấy người say rượu (đi tắm biển để giữ gìn sức khoẻ, nhưng lại đi uống rượu như hủ chìm. Thật là mâu thuẫn!), tai nạn xảy ra liên miên, có nhiều chuyện rất đau lòng.

Xe cộ nhiều quá làm tôi lo lắng cho ba, vì chiều nào ba cũng tập tễnh ven con đường đó. Ba rất cố gắng tập luyện nhưng không thấy tiến bộ, tay chân ba vẫn bất động. Bây giờ, ông đi được khoảng đường khá xa. Những chiều ít khách tôi về sớm, đưa ba đi chơi, và nói chuyện cho ba vui. Cách nhà tôi 300m là một cây cầu bắt qua một dòng sông nhỏ. Cây cầu xây từ năm 1970, thời Việt Nam Cộng Hoà. Theo như lời ba kể: dòng sông này trước đây rất đẹp, nước trong vắt, và rất sâu. Tàu hải quân có thể vào được. Ngày ấy, cá tôm rất nhiều, đứng trên cầu nhìn xuống, từng bầy cá tràng, cá nâu, cá hồng nhởn nhơ. Cá vào sát bờ nước để kiếm mồi, rất tự nhiên, không sợ hãi. Bờ sông cát vàng, cá lấp lánh đùa giỡn. Nghe ba kể tôi tưởng tượng chuyện ở đâu đó, chứ không phải là chuyện của dòng sông này. Dòng sông giờ đây ngập trong rác bẩn và sình lầy, màu nước xanh vì bị ô nhiễm nặng, không thấy một con cá nào lấp ló, chỉ toàn là lục bình. Cả một khúc sông hàng kilomet cơ man nào là bèo. Hoa lục bình màu tím nhạt, nhu mì giản dị như một cô gái quê. Cả khúc sông là một màu tím. Nó đẹp nhưng nó gây chướng ngại cho những ghe thuyền đi lại, làm họ bực mình.

Trên cầu rất nhiều người câu cá, tôi không hiểu tại sao có nhiều người câu cá như vậy. Ngày nào cũng như ngày nào, chẳng lẽ họ không có việc gì để làm. Đúng là như vậy khi tôi hỏi ba: họ không biết làm gì cho hết một ngày, ra bờ sông hay lên cầu ngồi tán gẫu, và buông câu, may mắn thì gặp chú cá hồng, cá úc nào đó, may mắn hơn thì họ được lươn, cá chình. Một kilogram cá chình bán cho nhà hàng cũng được 200 ngàn. Người ta cầu may trên dòng sông bẩn thỉu này.

Bây giờ có quá nhiều người cầu may, họ không chờ đợi hi vọng gì ở tương lai, chỉ mong trúng được một hoặc hai “vé” số để đổi đời. Kề nhà ngoại có một phụ nữ khoảng 60 tuổi, ngày nào cũng nhịn ăn hay mua sắm quần áo để tìm vận may ở hai tấm vé số. Thời này có rất nhiều người mua vé số và cũng có quá nhiều người bán vé số. Bạn cứ thử ngồi ven đường để uống một ly nước đi, trong một giờ bạn sẽ thấy biết bao nhiêu cụ già, bao nhiêu trẻ em đến mời mua vé số. Rồi những người mua vỏ chai, giấy vụn với một chiếc xe cà tàn, hoặc với đôi quang gánh bằng sắt, họ đi từng nhà, hỏi từng người. Chỉ một buổi sáng có đến năm người đến hỏi mua phế liệu. Có gì mà bán, tôi thấy buồn kinh khủng.

Mùa Trung thu lại về với những cụm mây mùa thu màu xám bạc nhẹ nhàng trôi. Nếu ai đó hững hờ sẽ không thấy nó thay đổi. Chân trời từng từng lớp lớp mây, tạo nên một thế giới kỳ ảo. Tuy bận rộn với việc buôn bán nhưng tôi vẫn (thỉnh thoảng thôi) thẫn thờ nhìn những áng mây thơ mộng và cũng chạnh lòng buồn bã thấy những cô gái cùng tuổi mình thướt tha tà áo trắng trong buổi chiều đìu hiu. Bao nhiêu nỗi niềm đè nặng lên một cô gái như tôi vừa hồn nhiên đa cảm vừa chua xót với những ký ức đau buồn.

Trời đã nhá nhem tối, tôi đi dọc theo con phố để về nhà, đèn sáng trưng trong những cửa tiệm bán quà Trung thu. Những chiếc lồng đèn nhiều màu sắc lấp lánh, nó vẫn còn hấp dẫn với tôi. Tôi ghé vào mua cho cu tí một chiếc, tôi choáng ngợp trước sự đa dạng, phong phú của lồng đèn. Có những chiếc được nhập từ Trung Quốc rất đẹp, có nhạc Trung thu phát ra khi bật đèn sáng - tiếng hát của trẻ con méo mó nghe rất kỳ. Tôi chọn một chiếc lồng đèn ông sao đủ màu cổ truyền, những chiếc kia tuy đắt tiền cầu kỳ nhưng đỏm dáng quá, loè loặt quá.

Cu tí rất vui khi thấy tôi thấp thoáng từ xa với chiếc lồng đèn trong tay. Nó chạy ra đón và tung tăng như con chim sáo, chạy vào nhà khoe với ba. Những năm trước, mùa Trung thu, ba thường làm lồng đèn cho chúng tôi. Ba rất khéo tay, những chiếc lồng đèn làm cho chúng tôi là những chiếc đẹp nhất trong đêm rước đèn. Bây giờ thì ba không làm được nữa, đây là sự mất mát cho chúng tôi và cũng là của chính ba.
(Còn tiếp)

© 2008 www.danchimviet.com