Danchimviet - http://danchimviet.com
Nữ thần Công Lý (6)
http://danchimviet.com/articles/493/1/N-thn-Cong-Ly-6/Page1.html
Huỳnh Ngọc Tuấn

 
Tác Giả Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng/Published on 07.10.08
 
...Mười phút sau, hội đồng xét xử lại lục tục kéo ra, họ có vẻ bối rối và bất ngờ. Công an đưa má ra đứng trước vành móng ngựa. Ông chánh án đọc vội vàng một bản văn viết sẵn với những lời lẽ kết tội hằn học và cay cú. Sau đó, ông ta tuyên bố...

Ngày mở phiên toà xử má và bà Bách cũng đã đến. Cả tuần trước phiên toà, trên những phương tiện thông tin đại chúng như: TV, đài phát thanh, cái loa của phường, người ta nói nhiều về vụ này. Chính quyền họ coi đây là phiên xử điển hình, họ muốn dùng phiên toà này để răn đe những ai có ý định hoặc dám đấu tranh để bảo vệ tài sản, quyền lợi của mình. Họ dùng luật pháp như một phương tiện, đánh phủ đầu, dập tắt ngay từ trứng nước ý chí của người dân, để không còn ai dám lên tiếng.

Phiên toà chật ních những người, chỉ có hai chiếc ghế dành cho người thân của bị cáo. Ba và bà ngoại ngồi ở đó. Tôi và cu tí cùng các cô chú, ngồi xen lẫn trong đám đông dân chúng đến dự khán phiên toà. Tôi nhận ra rất nhiều người quen và bạn bè của má, cả bà cụ Cẩn (bạn của ngoại) nữa. Phiên toà đi qua những thủ tục như các phiên toà khác: Viện kiểm sát đọc cáo trạng sau đó là phần thẩm vấn. Má kiên quyết bác bỏ những câu hỏi với ý đồ dẫn dắt và chứng minh của hội đồng xét xử rằng má chống người thi hành công vụ. Má bình thản và cương quyết nói:

- Một lần nữa tôi xin minh định trước toà và công luận rằng: tôi chỉ bảo vệ tài sản và quyền lợi chính đáng của mình. Việc chính quyền cưỡng chế, thu đất, phá nhà của tôi là vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền sở hữu tài sản và quyền an cư lạc nghiệp. Còn việc dùng phiên toà này để trấn áp dân là vi phạm nhân quyền, vi phạm hiến pháp.

Mọi người dự khám phiên toà ồ lên tán thưởng. Tôi nghe đâu đó chung quanh chỗ tôi ngồi nhiều người nói:

- Đúng rồi, hay lắm, bản lĩnh thật.

Còn hội đồng xét xử thì ngẩn người ra, vì họ không ngờ một người phụ nữ cô thế lại dám tố cáo họ vi phạm nhân quyền. Đây là điều tối kỵ với họ. Người chủ toạ phiên toà mặt tái mét vì giận dữ,ông ta đập tay xuống bàn:

- Câm ngay, đây là luận điệu của kẻ thù địch, tuyên truyền diễn biến hoà bình ở phiên toà này hả? Luật pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sẽ nghiêm trị những ai chống lại chính sách của Đảng và Nhà nước. Riêng đối tượng này, Nguyễn Thị Thanh - ông ta chỉ tay về phía má giận dữ - toà sẽ nghiêm trị. Thứ nhất: chống chính sách của Đảng và nhà nước. Thứ hai: chống người thi hành công vụ. Thứ ba: có luận điệu thù địch và âm mưu diễn biến hoà bình. Hành vi của Nguyễn Thị Thanh là côn đồ, hung hãn; thái độ ngoan cố và âm mưu thâm độc.

Phiên toà tạm dừng để nghị án. Tất cả mọi việc đều diễn ra vội vàng, cẩu thả. Mọi người tuy sợ hãi về những lời đe doạ hung hăng của tên chánh án và số lượng công an mặc thường phục, sắc phục đông hơn số người dự khán, vẫn còn ai đó lên tiếng giữa đám đông:

- Còn gì là công lý.

Người ta đưa má vào một căn phòng bên cạnh không cho chúng tôi gặp má, cho dù ngoại cương quyết đòi hỏi họ vẫn từ chối. Mười phút sau, hội đồng xét xử lại lục tục kéo ra, họ có vẻ bối rối và bất ngờ. Công an đưa má ra đứng trước vành móng ngựa. Ông chánh án đọc vội vàng một bản văn viết sẵn với những lời lẽ kết tội hằn học và cay cú. Sau đó, ông ta tuyên bố:

- Nhân danh nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toà tuyên án phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh tội chống người thi hành công vụ 3 năm tù giam.

Tôi choáng váng tự hỏi: sao lại 3 năm, chưa kịp định thần, tôi thấy công an đến còng tay má đưa ra xe. Chúng tôi chạy theo, cu tí khóc rất to. Họ ngăn chúng tôi lại không cho đến gần má. Tôi thấy chung quanh toàn là công an với dùi cui điện trên tay; bên ngoài, xe cứu thương, xe chữa lửa, xe cảnh sát 113 trong tư thế sẵn sàng hành động. Tôi thấy vô cùng sợ hãi. Để ứng phó với một người phụ nữ và một nhóm nhỏ đồng bào mà họ huy động cả một lực lượng hùng hậu trang bị tận ”răng”. Tài nguyên quốc gia và tiền thuế của dân được dùng như vậy sao? Khi chiếc xe bịt bùng chở má đi khuất, tôi bế cu tí vì nó khóc nhiều quá nên kiệt sức, và có lẽ nó hi vọng được gặp má lần này nhưng không toại nguyện, nó lả đi trong tay tôi… Còn ba như người mất hồn. Cô út và chú Năm dìu ba ra xe đưa về.

Đến nhà, cu tí đã ngủ vì quá mệt, ba cũng bình tĩnh trở lại, tôi chưa bao giờ thấy thần sắc của ông như vậy. Mặt ông tái nhợt nhưng đôi mắt thì căm phẫn:

- Một trò hề. Luật pháp gì quái lạ thế. Bọn này mất hết tính người rồi.

Bà ngoại bình thản:

- Tôi đã biết trước khả năng này rồi. Họ sẽ phải trả giá cho việc làm này.

Một tuần sau, tôi được gặp má. Chúng tôi ngồi đối diện với má. Cu tí, vì nó khóc ri rỉ, nên nó được ngồi trong lòng má. Bây giờ thì nó hài lòng. Đôi tay bé tí và đầy đặn của nó vuốt lên tóc má, trên mặt, trên cổ, trên tay, và cả đôi tay lấm tấm những vết ghẻ mới lành của má. Nó hôn lên tất cả những chỗ đó với những nụ hôn trìu mến yêu thương.

- Có làm đơn kháng cáo không em? Ba tôi nói.

Má cầm tay ba vuốt nhè nhẹ. Nụ cười và ánh mắt trìu mến:

- Anh thật ngây thơ. Kháng cáo cái toà án kanguru này ư ? Em có cách khác.

Má quay sang phía ngoại, giọng nói thì thầm, và nhìn quanh - nhìn phía người cán bộ đang hút thuốc và quan sát những người trong phòng.

- Má nên liên hệ những đài phát thanh ở nước ngoài, xin được trợ giúp. RFA chẳng hạng, má hiểu không?

Ngoại cười, nụ cười tâm đắt và trách yêu má:

- Cái chị này, đừng có mà trứng khôn hơn vịt. Tôi đã tính trước chị rồi.

Tôi chỉ hiểu mơ hồ, còn ba thì không hiểu gì hết, quay sang hỏi ngoại:

- Như vậy thì vợ con phải ở ba năm tù oan ức sao mẹ?

Ngoại nhìn ba ái ngại:

- Tôi đã có dự kiến. Chúng ta có thể hi vọng, nhưng anh thử hỏi mình có thể “con kiến kiện củ khoai” được không? Phải chấp nhận gian khổ, đấu tranh buộc họ phải huỷ bỏ bản án phi lí này.

Rồi má kể những chuyện trong tù, có nhiều chuyện tôi không thể tin và tưởng tượng nổi. Theo lời má kể: đêm qua có một người phụ nữ cùng phòng với má, cô ấy tên Khánh, bị bắt vì một tội vớ vẩn nào đó. Nghe đâu cô ấy bắt trộm mấy con vịt. Nửa đêm, chị ta kêu đau bụng. Chị em trong phòng gọi cấp cứu, gọi hoài chẳng thấy. Chị Phụng - người to như hộ pháp, dùng đầu gối to tướng của mình thúc vào cánh cửa sắt; tiếng cửa sắt bị thúc dội lại trong phòng kín nghe đinh tai nhứt óc; và tiếng kêu cứu liên tục không ngớt. Có một anh cán bộ vác súng dài đến, giọng hách dịch:

- Gì mà loạn lên thế!

Chị buồng trưởng báo cho anh ta biết có người ốm nặng, yêu cầu cấp cứu. Anh ta lạnh lùng:

- Đợi đấy.

Cả phòng chờ đợi. Mười lăm phút trôi qua. Rồi một giờ trôi qua. Người bệnh rên rỉ, hy vọng mong manh dần. Tiếng gà gáy báo trời gần sáng, rồi bốn giờ năm giờ trôi qua, chẳng có một ai đến. Sáng ra, cán bộ mở cửa thì chị ấy đã chết cứng trong tư thế co quắp rồi. Như vậy là phải họp cả phòng lại để làm biên bản. Một đoàn cán bộ của trại và đại diện phạm nhân, có một vài người được gọi ra để gặp cán bộ trước khi phiên họp xảy ra. Trong phiên họp, những người đó xác nhận là không bị ai đánh đập hoặc tra tấn, chị đựơc cán bộ cấp cứu kịp thời và tận tình chăm sóc, nhưng bệnh quá nặng và khẩn cấp nên chị qua đời. Nghe hết câu chuyện, tôi đâm hoảng nhìn má. Tôi nói giọng đầy nước mắt:

- Phải cẩn thận nghe má, con sợ lắm.

Bà ngoại nói:

- Tử sinh hữu mệnh. Có gì phải sợ, càng sợ tình hình càng tồi tệ.

Tranh của ba bán được bức đầu tiên. Chú Hùng bạn thân của ba là hoạ sĩ, là chủ phòng tranh, nơi ba gửi tranh để bán, đến tìm ba với vẻ hớn hở. Lúc ấy tôi vừa đi chợ về. Chú Hùng người thấp và đậm, nước da hơi đen, râu quai nón biếng cạo đã xanh rậm, chiếc cằm đầy đặn, đôi mắt ốc nhồi, trông chú hơi dữ nhưng khá đẹp trai.

- Ông biết tôi bán bức “nguyện cầu” của ông được bao nhiêu không?

Ba cười lắc đầu, ông đưa cho chú Hùng chiếc ghế mây.

- Năm triệu đồng.

Ba chỉ cười, nhưng trong đôi mắt ba ánh lên niềm vui, chắc không phải vì tiền nhưng có lẽ ba  thấy mình còn hữu ích. Từ nay, ba đã tìm thấy lại niềm vui và có thể giúp ích được gia đình một phần. Hôm đó không nấu cơm, cả nhà cùng chú Hùng đi ăn nhà hàng. Ba ăn ít, chỉ gắp thức ăn cho  hai chị em chúng tôi, thỉnh thoảng cho bà ngoại và chú Hùng. Chú Hùng uống nhiều bia, hết chai này sang chai khác. Chú Hùng rất sành ăn, chú chê món lẩu dê nấu chưa đúng cách, dê nướng thì khô vì quá chín. Một buổi tối vui thật là vui, đã 6 tháng rồi, hôm nay mới được thoải mái một chút.
Mấy tối liền chú đều đến để coi ba vẽ. Trong phòng có mấy bức tranh còn dang dở. Chú thông báo cho ba biết:

- Có một ông tây già trả bức “nữ thần công lý” của ông 2000 USD.

Tôi la lên, chạy đến ngồi sát bên ba ôm vòng qua người ba - vốn đã gầy, từ ngày má ở tù, ba càng gầy hơn. Tôi thấy thương ba vô cùng.

- Tuyệt quá ba, 2000 USD, hơn 3 mươi triệu đồng Việt Nam đó ba.

Ba quàng tay qua vai tôi nhẹ nhàng:

- Để ba và chú Hùng bàn bạc thêm.

Rồi ba quay sang chú Hùng. Hôm nay, chú rất diện, quần jean, áo trắng ngắn tay, giầy Itali, đồng hồ Rado có đính kim cương.

- Tôi rất quí bức tranh này, nó là đỉnh cao của tôi. Nhưng tôi cần tiền, tôi thấy cũng được.

Chú Hùng khoát tay, miệng cười rất tươi. Hôm nay chú cạo râu sạch sẽ, bảnh bao; nhìn kỹ chiếc cằm đầy đặn và phơn phớt màu xanh rất đẹp.

- Để tôi lo cho, khó khăn thì lấy tiền tôi mà xài rồi trả lại sau. Ông tây già này là tay sành điệu, giá ban đầu là 2000 đô, ông ta sẽ trở lại. Tôi thấy ông ta cứ nấn ná trước bức tranh. Tôi rất cảm tình với ông ta, nhưng ít nhất phải 3000 đô.

- Tuỳ ý ông vậy.

Ba nói với chú Hùng khi tiễn ra sân. Mấy hôm sau, chú Hùng lại đến, vẫn nói về bức tranh, nhưng hôm nay là tin không lành: công an bảo vệ chính trị triệu tập chú và nói là bức tranh “nữ thần công lý” có nội dung xấu, phải huỷ bỏ. Chú đã phản đối kịch liệt, và tranh luận với họ về nghệ thuật. Chú lắc đầu nói:

- Họ có hiểu gì đâu, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, cái gì cũng “mặt trận tư tưởng”. Tất cả đều áp đặt, khống chế người ta; lúc nào họ cũng độc quyền chân lý.

Ba nói nhỏ nhẹ với chú:

- Hay là mình dấu bức tranh đó đi.

Chú Hùng không nhìn ba, chú lắc đầu:

- Tuỳ ông thôi. Nhưng tôi thấy như vậy thì hèn lắm ông ạ.

Họ ngồi như vậy rất lâu, không ai nói điều gì. Chú Hùng ra về, ra đến sân chú nói:

- Chắc nay mai họ sẽ triệu tập ông đấy.

Vậy là mấy ngày sau đó ba bị công an triệu tập lên phường để làm việc. Họ có rất nhiều người, thay nhau hỏi ba, từ sáng đến trưa, rồi từ hai giờ chiều đến tối. Cứ như thế, họ làm ba phải căng thẳng và kiệt sức. Cuối cùng, ba phải mang tranh đi giấu vì sợ họ tịch thu. Tôi bị sốc. Niềm vui chưa được hưởng thì rắc rối lại xảy ra. Sao bất công quá vậy?

Một hôm, khi cùng ngoại bán hàng, có người đến báo, công an phường xét nhà ngoại. Tôi giao lại hàng cho ngoại, chạy về. Cả người tôi như không có trọng lượng, cứ nhẹ tênh, cái cảm giác xơ cứng - người như bị đóng băng. Về đến nhà ngoại tôi thấy toàn là công an: sắc phục, thường phục, người ta lục tung hết, đồ đạt vứt bừa bãi, giá vẽ bị xô đẩy gãy nát, sơn bột sơn nước vung vãi trên nền, ngoài sân. Ba đang bị một người mặc thường phục chất vấn. Có một đoạn ông ta nói:

- Anh đừng nghĩ chúng tôi là lũ ngốc. Anh muốn nói gì qua bức tranh đó chúng tôi hiểu. Anh ví chúng tôi là lũ đầu trâu mặt ngựa, còn vợ anh là nữ thần công lý.

Ba chỉ nói ngắn gọn:

- Đó là ngôn ngữ nghệ thuật, là hư cấu. Tôi phản đối việc khám xét nhà và thu tranh của tôi, các ông phải chịu trách nhiệm về tất cả việc này.

Ông ta trả lời có vẻ thách thức.

- Tất nhiên rồi, anh cứ kiện.

Tôi đứng sững nhìn cái cảnh ngổn ngang và hãi hùng đó. Lát sau, người ta tìm thấy bức tranh, ba đứng lên lao về phía họ để giành lấy bức tranh, mặt ba tím tái như người sắp chết, phẫn nộ la lớn:

- Đồ ăn cướp.

Một người trong bọn họ kéo ba thật mạnh và đẩy ba về phía bức tường; ba quá yếu nên va đầu vào đó, ngã quỵ. Tôi chỉ kịp nghe tiếng va của đầu ba vào bức tường. Tiếng của thịt xương con người bị va chạm nghe rùng rợn. Tôi chạy về phía ba, đỡ ba lên. Trán ba sưng lên, có một chút máu rỉ ra, nhưng cả người ba mềm nhũn và lạnh ngắt. Bọn họ giải tán rất nhanh cùng với bức tranh, chỉ còn ba con tôi trên nền nhà ngổn ngang. Tôi kêu gào như điên như dại. Những người hàng xóm chạy đến giúp tôi đặt ba lên giường rồi gọi cấp cứu.

Đến phòng cấp cứu, người ta đưa ba vào, mấy người y tá và bác sĩ đến khám cho ba. Họ không nói gì. Người bác sĩ có gương mặt cau có, hỏi:

- Ai là người nhà của bệnh nhân.

- Dạ, cháu…

Tôi chạy đến đứng trước mặt ông ta.

Ông ta mím môi, không biết để làm gì, có thể đây là thói quen của ông, cũng có thể có chuyện nghiêm trọng với sức khoẻ ba tôi.

- Cháu gọi người nhà đến đóng tiền viện phí. Hai triệu đồng, đây là qui định của bệnh viện.

Ông nói rồi quay đi. Tôi chạy theo rầu rĩ như muốn bật khóc.

- Cháu nhờ bác sĩ chăm sóc cho ba cháu, tốn kém bao nhiêu nhà cháu cũng thanh toán đủ.

Ông ta đến ngồi vào bàn, tập trung vào một số giấy tờ để trước mặt. Không nhìn tôi, ông nói:

- Cháu có mang tiền không?

- Cháu vội quá, nhà cháu gần đây…Ông gật đầu:

- Về lấy tiền đến đây.


Tôi biết là có nói gì cũng vô ích. Tôi đã nghe quá nhiều về những việc này. Có trường hợp bệnh nhân không có người nhà, hoặc không có tiền ứng trước thì cứ nằm chờ đó, không ai chăm sóc cả. Tôi quyết định đi gọi cho chú Hùng. Tôi vừa quay ra thì chú Hùng hộc tốc chạy vào, suýt nữa đâm phải tôi. Chú Hùng đến bên giường ba, quan sát một chút rất nhanh, chú đến gặp viên bác sĩ và nói gì đó, rồi lấy ra một xấp bạc 500.000đ. Chú ứng trước cho bệnh viện 5 triệu. Khuôn mặt của ông bác sĩ giãn ra, ông ta tươi cười. Chú Hùng vội vàng chạy đi đâu đó. Chỉ một lát sau, chú trở lại với một vị bác sĩ khác. Ông này to béo quá khổ, đôi mắt tròn xoe hiền từ, đôi bàn tay khá đẹp và mập tròn. Vị bác sĩ này đến khám cho ba rất lâu, rất thận trọng. Ông ta nói với vị bác sĩ kia điều gì đó, rồi ra lệnh cho mấy người y tá, chuyển  ba lên xe đẩy đi đâu đó. Tôi định đi theo nhưng họ ngăn lại. Chú Hùng bảo:

- Cháu ở lại đây, họ đưa ba cháu đến khu phía sau bệnh viện.

Ở đó có rất nhiều cây xanh, sạch sẽ. Cái hành lang dài hun hút. Tôi nhìn theo, loay hoay tìm một chỗ để ngồi chờ, thì ngoại đến. Tôi chạy đến ôm ngoại và khóc. Ngoại đưa tôi ra vườn hoa nhỏ gần đó để ngồi chờ chú Hùng. Có chú Hùng thì mọi việc ổn thôi, chú quen rất nhiều người và rất giàu có. Bà không nói thì tôi cũng rõ rồi. Từ khi chú Hùng đến lấy ra một xấp tiền thì mọi việc trôi chảy hết. Tôi kể ngoại nghe diễn tiến sự việc.

Hai mươi phút sau, chú Hùng trở lại, đôi mắt chú Hùng đăm chiêu, vẻ mặt buồn rười rượi. Chú nói ngay:

- Chuẩn bị chụp CT, ngày mai hội chẩn, sẽ có kết quả vào trưa mai, chúng ta chỉ còn biết chờ đợi và cầu nguyện.

Chú vuốt tóc tôi:

- Cháu về với bà đi, mọi việc ở đây đã có chú rồi. Chú đi gặp một số bạn bè ở đây để nhờ họ giúp đỡ.

Chúng tôi ra về. Ngoại bảo:

- Không có chú Hùng thì khó khăn lắm. Thời buổi này, cái gì cũng tiền, người nghèo thì chỉ có chờ chết.

Buổi trưa căn phòng trống trải và vắng lặng quá. Bà ngoại đã mang cu tí theo vì nó cứ khóc ri rỉ, chỉ có ngoại mới dỗ được. Tôi trằn trọc không ngủ được. Những gì xảy ra đối với một cô bé như tôi thật kinh hoàng. Tiếng đầu ba va vào tường rõ mồn một làm tim tôi thắt lại. Nếu tôi va đầu vào tường như vậy, tôi sẽ dễ chịu hơn. Nhưng ở đây, lại là ba - người ba yếu đuối, mảnh khảnh mà tôi vô cùng yêu quí. Tôi không hiểu tại sao tai hoạ cứ ập đến gia đình chúng tôi như vậy? Má ở tù, ba đi bệnh viện. Tôi nghĩ thà đừng làm người thì tốt hơn, làm con chim trên trời bay từ núi này qua rừng nọ, từ bãi sông này cho đến hoang đảo kia, vô tư lự, không buồn chán, thật là tuyệt. ”Kiếp sau xin chớ làm người”. Tôi nhớ lại câu thơ của ai đó.

Tôi đi đến nhà chú Hùng để cùng vào thăm ba. Đã hai giờ chiều rồi, trời cuối thu không còn nắng gắt nữa, màu nắng vàng như tơ. Giá như không có chuyện buồn thì chiều nay tôi sẽ rong chơi một vòng, ghé vào một quán cafe vườn nào đó uống một cốc nước chanh. Cái ước mơ bình thường đó giờ đây cũng khó thực hiện. Sao mà vô lí thế?!…

Phòng tranh của chú Hùng là một căn nhà hai tầng khang trang, bề thế nhất khu phố này. Tôi đã vào đây với ba một vài lần. Một căn phòng rộng treo đầy tranh, mỗi bức tranh có một vị trí của nó, hài hoà trong cái không gian nghệ thuật này. Ngoài tranh của chú Hùng,của ba, còn có rất nhiều tranh của các hoạ sĩ là chỗ bạn bè của chú Hùng. Có rất nhiều tượng, bằng đồng, bằng thạch cao, bằng gỗ, bằng cẩm thạch, cái nào cũng đẹp, cũng tao nhã, nhưng có cái cũng khó hiểu và khô khan. Chị Vân - người hướng dẫn cho khách ở phòng tranh đón tôi, chị nhận ra tôi và hỏi ngay:

- Em tìm chú Hùng phải không?

Tôi “dạ“ rất nhỏ, gần như mất sức. Chị đưa tôi lên lầu vừa đi, vừa nói:

- Chú Hùng đang tiếp một ông tây già đã lâu, chắc bây giờ sắp xong, mình đứng đây chờ.

Từ đây nhìn vào phòng khách, tôi thấy chú Hùng và ông tây già. Tôi nghĩ bụng: ”chắc ông này định mua bức tranh của ba đây”. Tôi thấy buồn và tiếc vô cùng. Chúng tôi bị mất một số tiền lớn, ba bị người ta xô ngã phải nằm viện. Trời ơi là trời! Tôi bất chợt kêu lên khe khẽ. Chị Vân nghe thấy hỏi:

- Em nói gì thế.

- Không, em hơi mệt.

Chú Hùng và ông tây đã đứng lên. Chúng tôi chào họ một cách lễ phép khi họ đi ngang qua chỗ chúng tôi, chú Hùng giới thiệu tôi với ông ấy. Ông đưa tay cho tôi, tôi ruột rè nắm lấy bàn tay to tướng và mềm mại của ông. Ông nói gì đó với chú Hùng, chậm rãi và thân mật. Chú Hùng dịch cho tôi nghe:

- Ông nói ông rất tiếc về những gì đã xảy ra. Ông ta cầu chúc ba cháu mau bình phục. Sang năm, ông ta sẽ trở lại.

Ông ta khoảng 80 tuổi, tóc râu và lông mày đều bạc trắng, đôi kính lão gọng vàng, đôi mắt mờ đục hiền từ. Ông chậm rãi và hơi khập khiễng theo chú Hùng xuống thang lầu. Trông ông ta buồn rầu và thiểu não, không biết ông ta buồn vì không mua được tranh hay ông ta buồn cho ba tôi. Chắc là cả hai.

Chúng tôi đến thăm ba, người ta không cho vào. Phòng ba nằm thật là tiện nghi, sạch sẽ và sang trọng, có cả máy điều hòa nữa. Ba nằm đó, (qua khung cửa kính) đầu của ba được băng bó cẩn thận. Người ta quyết định cho ba thở oxi. Hai cô y tá thỉnh thoảng ra vào xem xét, họ làm việc thận trọng và nhiệt tình. Chú Hùng tìm một chỗ thuận tiện để hút thuốc, một lát sau chú lại đứng bên cạnh tôi để nhìn vào, tay đặt nhẹ lên vai tôi trìu mến như một người cha. Rồi chú ra hiệu cho một cô y tá, cô y tá đến gặp chú, họ trao đổi với nhau điều gì đó. Tôi mãi nhìn ba nên không nghe họ nói gì. Cô y tá đến nói với tôi bằng nụ cười ấm áp trên môi, giọng con gái Huế mượt mà:

- Em về đi học đi, ở đây cũng không làm được việc gì, đã có y tá rồi, em đừng lo.

Chúng tôi ra về. Hành lang bệnh viện dài hun hút và mát rượi. Đây là khu điều trị theo yêu cầu. Tôi nói với chú Hùng:

- Cháu thấy mấy cô y tá cũng thận trọng và tốt bụng đấy chứ. Đâu đến nỗi như người ta nói.

Chú Hùng phá lên cười trước sự ngây ngô của tôi.

- Chú đã đưa trước cho họ mười triệu đồng để lo thuốc men, tiền cho bác sĩ, tiền giường bệnh, tất cả. Kể cả mấy cô y tá tốt bụng kia cũng được trả tiền.

Đến lúc ấy, tôi mới ngớ ra. Như để chứng minh cho lời của chú, chúng tôi gặp trên hành lang một phụ nữ nhà quê, trông bà nghèo nàn và thảm hại, áo quần cũ nát bẩn thỉu. Bà đi lang thang đến khu giàu có này để xin tiền. Trông vẻ mặt đau khổ tôi biết bà không phải là người xấu. Thời buổi này có nhiều người bịa chuyện để ăn xin: nào là con bị tai nạn hay bị bệnh hiểm nghèo v.v.. Bà già đến nói với chúng tôi, con bà bị bệnh nhưng không có tiền để trả viện phí nên phải nhờ sự giúp đỡ của tất cả mọi người. Chú Hùng móc ví lấy cho bà 50.000 bằng sự kính cẩn và thông cảm.

Chú Hùng đưa tôi về, trên đường chú nói:

- Giúp đỡ người nghèo là việc tốt. Nhưng điều quan trọng là tự họ phải hiểu về sự đau khổ của ho tại sao họ đau khổ, và chính họ phải tự cứu mình. Điều đầu tiên là họ phải ý thức được về quyền của họ, và can đảm sử dụng cái quyền đó để mang lại đời sống tốt đẹp cho mình và cho mọi người.

Tôi hoàn toàn không hiểu hết những gì chú Hùng nói. Về đến nhà, tôi lao vào việc dọn dẹp nhà cửa. Tôi không thể chịu đựng nổi nếu không tìm một việc gì đó để làm, không có ai ở đây để tâm sự, để chia sẻ, thời gian chờ đợi thật kinh khủng.

Buổi tối, ba bà cháu tôi ngồi vào bàn ăn; không ai nuốt nổi, thức ăn cứ đóng lại ở cổ, miệng khô khốc, lạc lẽo. Bà ngoại bảo tôi ra sau vườn cắt mấy cành hoa hoè để đặt lên bàn thờ Phật. Chúng tôi cầu nguyện và tụng kinh. Tôi đọc bài kinh cầu an nhưng chẳng hiểu gì, đầu óc trống rỗng. Một đêm nữa lại trôi qua nặng nề.

Buổi sáng, tôi đưa cu tí đến trường rồi ra chợ. Tôi giúp ngoại dọn hàng, bán  trái cây, công việc làm cho tôi bớt căng thẳng. Buổi mai cũng trôi qua. Đến trưa, tôi gọi điện cho chú Hùng, để hỏi thăm tình hình của ba. Chú hẹn hai giờ chiều gặp nhau tại bệnh viện, chú sẽ thông báo kết quả và chú xin lỗi vì rất bận. Có thể là chú bận thật nhưng tôi vẫn có cảm giác như chú muốn tránh nói với tôi điều gì đó vào lúc này. Tôi gạt bỏ ý tưởng bi quan đó và tự cảnh báo mình: Thôi, đừng có tự hù doạ mình.

Đúng hai giờ tôi có mặt tại bệnh viện. Chú Hùng đã ở đó. Ngoại hỏi chú:

- Ba mấy cháu thế nào rồi hả anh Hùng?

Chú Hùng buồn thiu, đôi mắt đăm chiêu, môi mím chặt, một lát như để cố gắng lấy lại sức.

- Ông trời thật bất công quá!

Chú yên lặng một lúc nữa, rồi nói lại những gì chú được bác sĩ thông báo. Bây giờ giọng chú trở nên bình tĩnh, cái bình tĩnh của người phải chịu đựng những việc đã rồi.

- Anh Bình bị đột quỵ. Vết thương không trực tiếp gây ảnh hưởng, không có chấn thương sọ não, kết quả CT và hội chẩn là như vậy.

Ngoại hoảng hốt:

- Đột quỵ à?. Tôi không hiểu. Bình thường, Bình đâu có dấu hiệu huyết áp cao.

Chú giải thích:

- Huyết áp cao nó chẳng có dấu hiệu và triệu chứng gì, phải khám thường xuyên mới biết. Anh Bình là hay coi thường sức khoẻ…Thật bất hạnh!

Chúng tôi chỉ còn biết khóc và chờ cho ba tỉnh lại. Tôi vào phòng thăm ba, cô y tá cho tôi một chiếc ghế gỗ thấp. Ba được chăm sóc chu đáo. Tôi ngồi ngắm nhìn ba, ông như người ngủ mê, tôi cầm bàn tay ba, bàn tay gầy và mềm mại, nhưng nó ấm, tôi hi vọng ba sẽ tỉnh lại sớm. Tôi áp tay ba vào má mình, hai dòng nước mắt chảy lăn xuống má, tôi khe khẽ gọi ba:

- Ba ơi,ba ơi.

Hai ngày nữa lại trôi qua trong sự chờ đợi nặng nề. Hai ngày mà như hai năm. Trước đây tôi không quan tâm đến thời gian, nó chỉ đựơc tính bằng học kỳ, thi cử và mùa hè. À, còn mùa Trung thu và  Tết. Tôi không hề nghĩ rằng có một ngày nào đó, một ngày đi qua thật khó khăn. Buổi tối chúng tôi đang ăn cơm thì nhận được điện của chú Hùng báo rằng ba đã tỉnh. Chúng tôi vội vàng đến bệnh viện. Chú Hùng đang ở đó và nói chuyện với ba. Cu tí sà vào lòng ba như một chú bê con khát sữa. Nó hôn khắp người ba, từ mái tóc muối tiêu, đến cổ, đến lưng, trán, tay ngực của ba. Ba hỏi ngoại, giọng nói rất khó khăn:

- Mẹ… khoẻ… không?

Ngoại mỉm cười nắm chặt tay ba. Ba thông báo cho ngoại điều đau đớn của ba, giọng nói gần như sắp khóc:

- Con bị liệt tay chân bên phải rồi mẹ ạ.

Ngoại nói với ba âu yếm như với trẻ con:

- Mẹ biết rồi, có sao đâu con. Đời người sinh ra để chịu đau khổ, rồi chết, ai cũng thế, không loại trừ ai. Con nên bình tĩnh, can đảm để trả Nghiệp, không trả kiếp này thì kiếp sau phải trả. Trả đi cho nó nhẹ con à. Đừng lo lắng, buồn phiền làm gì, thế gian này đầy nước mắt.

Sự đau đớn tột cùng trên nét mặt ba làm tôi sợ hãi. Ba nói chậm, khó khăn và đầy cay đắng:

- Nhưng làm sao con vẽ được? Con còn nhiều việc phải làm, nhiều dự định chưa hoàn tất.

Từ lâu, trong lòng bà ngoại ba là con đẻ chứ không phải là con rể. Tính tình nhu hoà và điềm đạm của ba làm ai cũng thương mến, ngoại dành cho ba một tình cảm đặc biệt. Có lần ngoại kể lại, khi ba và má mới lấy nhau và sau khi tôi chào đời má ba có lúc cãi nhau, lúc nào ngoại cũng bênh vực ba. Giờ đây, với giọng nói yêu thương, từ ái, ngoại an ủi ba:

Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Thì đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Tài năng là cái nợ con ạ, vứt bỏ đi cho nhẹ gánh. Con phải giữ tâm thanh tịnh, mục tiêu của cuộc đời là sự giải thoát chứ không phải là thành công. Con phải buông bỏ hết, tài năng, sự nghiệp, tiền bạc và cái tôi. Đến lúc đó, con sẽ là người tự do đích thực.

Khó khăn lắm ba mới không bật khóc:

- Nhưng bây giờ, con là người vô dụng, là gánh nặng gia đình.

Đến đây thì tôi không thể ngồi yên được tôi nói với ba:

- Ba không bao giờ là gánh nặng của gia đình. Sự hiện diện của ba trên đời là hạnh phúc của tụi con rồi. Ba không cần phải làm gì hết, con sẽ chăm sóc ba. Còn má, ngoại, chú Hùng, chú Năm, cô út và bạn bè của ba. Ba mãi mãi là niềm vui, niềm tự hào của chúng con. Ba phải hiểu như vậy và không được nghĩ khác nghe ba. Ba hứa với con đi.

Ba mỉm cười với tôi, nụ cười buồn bã và gật đầu khe khẽ. Tôi biết ba đang vô cùng tuyệt vọng vì ba đã mất hết. Nhưng với tôi, điều đó không quan trọng, chỉ cần có ba bên cạnh là đủ rồi. Cu tí mới lên bảy nó không hiểu được tâm trạng của ba lúc này nên cứ bô bô kể hết chuyện này sang chuyện khác: chuỵên ở trường, chuyện ở lớp, chuyện hàng xóm láng giềng. Sự thơ ngây của nó làm ba đỡ căng thẳng, thỉnh thoảng ba lại mỉm cười. Riêng tôi, tôi vô cùng lo ngại cho ba. Tôi biết, ba là người đa cảm và yếu đuối, không biết ba có chịu đựng nổi hoàn cảnh nghiệt ngã này không, ba có đứng dậy nổi không sau cú ngã đo ván này? Giá như có má ở đây thì tốt biết bao. Những ngày tháng sắp tới là những ngày tháng vô cùng khó khăn. Tôi biết mình phải làm gì: ở bên cạnh ba, không bao giờ để ba cảm thấy cô đơn vì hoàn cảnh đẩy ba vào cái thế thật là bi đát.

Sau 15 ngày ở bệnh viện, ba về nhà. Bác sĩ hàng ngày đến khám và tiêm thuốc cho ba. Chúng tôi chuẩn bị cho ba một căn phòng. Phòng tranh của ba dọn dẹp cho thoáng rộng. Tranh treo cao hơn một chút. Những thứ còn lại dồn lại giữa phòng, để ba có thể vịn tường lần từng bước tập đi. Chú Năm đến giúp ba những ngày đầu, rồi cô út, và tôi. Lần lần ba cũng tự đi được một quãng ngắn. Người ba lệch về một phía, thỉnh thoảng ba dừng lại bên cửa sổ, nhìn ra ngoài mệt mỏi, đôi mắt buồn bã, bất lực.
(Còn tiếp)

© 2008 www.danchimviet.com