Thoáng chốc mà đã một tháng cùng ngoại bán hàng. Những hôm vắng khách, ngoại thường kể chuyện về má và những lời khuyên, đa phần là từ cuộc đời ngoại và từ kinh Phật. Ngoại bảo:
- Cân thì phải cân già một tí, tuyệt đối không được cân non. Khi hàng khan hiếm không được lợi dụng để tăng giá. Trái cây người ta mua cũng có nhiều mục đích: để ăn hàng ngày, để làm quà, để cúng tổ tiên, cúng Phật - lễ chùa, cho nên phải thận trọng rửa tay sạch sẽ. Làm người rất khó, gặp người tốt phải giữ gìn mối quan hệ tốt với họ, gặp người xấu phải cẩn trọng, hơn nữa khỏi va chạm mất lòng.
Có lần một người khách, khi cân hàng xong bà ta lấy thêm một trái nữa bỏ vào, tôi nhìn ngoại không biết ứng xử ra sao Ngoại vẫn điềm nhiên tươi cười, ngoại thêm vào hai trái nữa với lời mời ngọt ngào:
- Hồng này tươi và ngon, bà lấy thêm cho đủ 1kg rưỡi nhé.
Rồi bà cân lại hàng và tính tiền 1kg rưỡi. Tôi phục quá vì bà giải quyết một tình thế khó khăn một cách hợp lí hợp tình như vậy. Một lần khác, có một thanh niên đăm đăm hung dữ, anh ta mua một túi vải, trả tiền xong, khi đi anh ta thuận tay cầm thêm một chùm chôm chôm. Ngoại từ từ theo sau, nhẹ nhàng nói với anh ta:
- Cậu để tôi cho chôm chôm vào túi để khỏi rơi vãi ra ngoài.
Ngoại cho vào túi bỏ lên bàn cân và tính tiền. Anh thanh niên ngoan ngoãn trả tiền. Tôi thấy nét mặt anh ta dịu lại trông dễ coi hơn. Tôi thở phào nhẹ nhỏm khi ngoại nói với theo:
- Lần sau mời cậu mua giùm cho nhé.
Chỉ hơn một tháng trôi qua mà tôi đã học được rất nhiều. Tôi cảm thấy trường đời cũng quí giá. Nhiều lần ngoại nhắc nhở: ”Sống phải vì người khác - phải biết quan tâm và hi sinh vì người khác, trước hết là người thân trong gia đình, rồi đến bạn bè đồng nghiệp và những người chung quanh. Cái tôi là nguyên nhân của mọi bất hạnh và bi kịch. Khi cái tôi bớt tạo tác thì con người sẽ hạnh phúc hơn. Trong quan hệ giữa người và người, ngoài lòng nhân ái, chữ tín là quan trọng nhất, “bất tín bất thành lập”. Có lần ngoại nhận mang trái cây đến cho một nhà hàng, khi ngoại nhận lời thì giá thấp, buổi chiều giá tăng vọt. Ngoại bảo tôi giao hàng đúng hẹn và giữ giá như đã hứa. Tôi hơi xót xa vì bán cả ngày chưa chắc bù lỗ nổi. Bây giờ cuộc sống khó khăn: những gian hàng bên cạnh, trước mặt ế ẩm, nhưng hàng của ngoại vẫn có khách.
Có một cụ bà vẫn thường ghé lại và trò chuyện rất lâu. Bà cụ cũng là người Bắc di cư. Khi nghe hai cụ nói chuyện, tôi cảm nhận như nghe mấy cụ người Hà Nội nói chuyện trên TV. Tôi rất thích cái giọng Bắc Kỳ đó. Cách ứng xử của các cụ lịch lãm tế nhị, thân mật nhưng không suồng sã. Tôi nhớ lần đầu tiên gặp bà cụ, tôi cúi đầu chào. Bà cụ nhìn, đôi mắt long lanh hiền từ, nụ cười rộng mở. Bà vuốt nhẹ tóc tôi:
- Con bé này là con cái Thanh phải không?
Ngoại trả lời:
- Vâng ạ! Cháu tên Thảo. Ngoại quay sang tôi, tôi hiểu ý, vòng tay cúi đầu chào cụ một lần nữa. Bà cụ tỏ ý hài lòng. Khi ngoạïi cắt trái hồng ngon nhất mời bà, bà nhận miếng hồng từ tay ngoại và nhỏ nhẹ:
- Bà cho tôi xin. Tôi thấy họ khách sáo nhưng phải công nhận họ rất trang trọng. Các cụ đối với nhau rất thân tình nhưng cũng tương kính. Lâu rồi, tôi thấy thích cái cách ứng xử như vậy. Lúc trước, có lần tôi hỏi má sao không nói giọng Bắc Kỳ như ngoại. Nó rất hay vừa chuẩn vừa đầy biểu cảm. Má chỉ cười:
- Má sinh ra ở đất Nam Trung bộ, uống nước và hít thở không khí Nam Trung bộ đã quen rồi. Mỗi miền đất có cái hồn, cái tinh anh của nó. Rồi má kể những câu chuyện vừa vui vừa cay đắng. Đó là thời điểm sau năm 1975, Việt Nam Cộng Hoà đã thất thủ, những người lính miền Bắc tràn vào. Ở đâu, chổ nào cũng thấy người miền Bắc, họ mang dép râu, đội nón cối, đeo xách vải. Tâm trạng của người miền Nam lúc đó là tâm trạng của người thất bại. Cuộc sống của họ từ chỗ tự do sang đời sống vừa cơ cực vừa bị khống chế, đi đâu, ở đâu phải xin phép báo cáo, hộ khẩu lúc nào cũng là một nỗi ám ảnh; cái tâm trạng của người bị mất nước, mất chủ quyền. Cuộc sống tự do nhường chỗ cho một cuộc sống bị kiểm soát nghiêm ngặt mọi lĩnh vực. Rồi tiếp theo là sự thiếu đói. Người ta bán hết những gì có được từ thời Việt Nam Cộng Hoà: từ chiếc máy quạt, cái tủ lạnh, TV, xe máy rồi đến giường, tủ, bát đĩa, quần áo. Nhưng vàng thì người ta giữ lại để trả cho những chuyến vượt biển đầy gian nan và nguy hiểm, để thoát khỏi cuộc sống bị kiểm soát từ mọi ngả, thoát khỏi cường quyền hung bạo, họ bất chấp để ra đi tìm tự do dù phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình. Kể từ đó người miền Bắc đối với họ như một hung thần. Thời gian đó là những năm 1980, người ta đi buôn trầm và quế từ Quảng Nam-Quảng Ngãi vào Sài Gòn. Ngoại cũng thử thời vận của mình vì chẳng biết làm gì. Ngoại mon men ra Quảng Nam ở nhờ nhà một người quen. Buổi chiều, ngoại lần ra khắp xóm nhỏ của cái thị xã Tam Kỳ nào đó để tìm mối lấy hàng. Đi đến đâu, khi nghe ngoại nói giọng Bắc Kỳ thái độ của họ trở nên lạnh lùng, khắc nghiệt, một số hơi sợ hãi, một số khác đối xử với ngoại thô lỗ, thù địch. Ngoại đến nhà hỏi mua hàng, họ trả lời không có, nước họ không mời, thậm chí không mời ngồi, ai cũng nói cộc lốc thậm chí như muốn đuổi cụ đi. Cụ vô cùng thất vọng, thui thủi về nhà kể hết mọi chuyện cho người chủ nhà nghe. Anh ta ”à“ lên một tiếng:
- Hiểu rồi! Hiểu rồi, họ tưởng chị là Việt Cộng. Được rồi, để tôi đi và nói cho họ biết. Tối hôm đó ông chủ nhà và ngoại cùng đi. Đến nhà người đàn ông đầu xóm, người có thái độ kỳ thị nhất, mà hình như ông ta có uy tín nhất xóm, được mọi người kính trọng. Khi ông chủ nhà nói:
- Bà này là Bắc Kỳ 54, chứ không phải là Bắc Kỳ 75 mô, không phải là Việt Cộng mô.
Mặt ông ta giãn ra, từ chỗ khó đăm đăm và hằn học, ông ta cười thật tươi, giọng ông ta trầm xuống vừa đủ nghe:
- Trời ơi, răng bà chị không “núa”, tôi tưởng tụi Bắc Kỳ 75.
Ông ta sai người nhà bắt gà làm thịt đãi cụ. Việc mua bán trở nên dễ dàng thuận lợi. Những lần sau, người nào ở đó cũng niềm nở với cụ, họ giành nhau mời cụ đến ăn cơm và ở lại nhà họ.
Má cười, nói thêm:
- Thời điểm đó má cũng ghét ai nói giọng miền Bắc, trừ ngoại con ra.