Đến
trưa, khi nắng đã gắt, tôi nhìn lên những tán xoài còn lại, đong đưa
những chùm trái xanh, lòng buồn vô kể, nước mắt chảy ra không sao kìm
nỗi. Chú Năm vuốt tóc tôi an ủi:
- Mọi sự đều vô thường con ạ, có đó rồi mất đó.
Chú
Năm chở tôi về bằng chiếc xe đạp cũ kĩ, sau khi dặn người tài xế công
nông chở những vật gom góp được về nhà chú. Ba và ngoại đã về. Ngoại
thuật lại mọi chuyện cho chú Năm và tôi nghe bằng cái giọng kiên nghị
và thái độ khinh bạc:
-
Họ quyết định tạm giam bốn tháng và khởi tố con Thanh theo điều 83 của
Bộ luật hình sự, với tội danh chống người thi hành công vụ. Tôi có gởi
một chút thức ăn và áo quần cho nó - bà mỉa mai - họ đã nhận để “chuyển
giùm làm phước”.
Tôi
chỉ còn biết khóc, cứ nghĩ vài hôm thì má sẽ về, ai ngờ họ lại tàn ác
thế. Má chỉ tự vệ theo cách của kẻ yếu, kẻ thế cô, có gì nghiêm trọng
đâu, có gây ra hậu quả gì đâu! Tôi nghe đôi mắt nóng bừng, chỉ có 24
giờ đồng hồ trôi qua, mà nước mắt của tôi chảy xuống không biết bao
nhiêu lần làm ướt cả vạt áo trước ngực.
Mười
sáu tuổi, cái tuổi thần tiên. Tôi coi nhiều phim ảnh của các nước
phương Tây, của Hàn Quốc. Tuổi trẻ của họ thật hạnh phúc, thật bình an.
Họ khóc vì những thành công sớm, những món quà của người thân, những cơ
hội đựơc đi đây đi đó. Nước mắt của họ là nước mắt của hạnh phúc và
thành đạt. Chứ đâu có như chúng tôi: khóc vì đau khổ, bất hạnh, vì bị
chà đạp phũ phàng, vì bị tước cả tương lai, bị đẩy vào cuộc sống vô
định, bất trắc, khóc vì tuổi nhục và bị tổn thương. Cái quyết định vô
cùng đơn giản và dễ dàng của họ đã đẩy gia đình tôi vào thế đường cùng,
làm đảo lộn tất cả cuộc đời chúng tôi. Tôi không biết ở đâu trên thế
giới này mà nhà cầm quyền lại quyết định số phận của công dân mình dễ
dàng và vô trách nhiệm như thế. Như vậy là cuộc đời tôi đành phải hoạch
định lại. Buổi tối sau một bữa cơm nặng nề và nhạt nhẽo, tôi thấy thức
ăn chẳng có mùi vị gì, tôi cố nuốt như một cái máy.
Tôi
bê mâm trà lên bàn như mọi lần, mời ba và ngoại. Vẫn là trà như mọi
ngày, sao tôi lại không cảm nhận được những hương thơm quyến rũ của nó.
Mũi tôi bị trơ rồi sao? Sau bao nhiêu biến cố dồn dập trong thời gian
quá ngắn, những đổ vỡ đó như những vết thương còn quá mới mẻ. Nỗi đau
đột ngột phủ chụp lên cuộc đời non nớt làm choáng váng, sự mất quân
bình là điều tất nhiên, làm sao tránh được. Bà ngoại hỏi ba, nhưng
trong cái nhìn của bà tôi hiểu bà đã có sẵn một kế hoạch cho tương lai.
- Con định như thế nào?.
Ba nói vẻ mặt còn ngơ ngác:
- Dạ! Con định đi xe ôm để cha con sống qua ngày chứ biết làm sao.
Bà
uống một ngụm, rồi đặt tách trà xuống bàn, chiếc cốc khẽ chạm vào mặt
kiếng. Cử chỉ của ngoại điềm đạm và quí phái. Mẹ kế thừa được sự quí
phái đó. Có lần nghe mẹ kể chuyện, ông thân sinh của bà ngoại là một
tiến sĩ. Bà cũng là con nhà trâm anh. Ông mất khi bà mới lọt lòng, mẹ
bà một thân nuôi đàn con dại sáu đứa, bà ngoại là con út. Tuy bà không
được học hành đến nơi đến chốn, nhưng cái tư chất thông minh, lịch lãm
của bà khó ai sánh kịp.
-
Anh mà đi xe ôm thì hỏng. Hiền lành như anh làm sao có thể làm cái việc
nhiều sự va chạm như thế được. Thôi thì “ngộ biến tòng quyền”, tôi đau
lòng nhưng chẳng biết làm sao. Anh cứ nghĩ ngơi cho bình tĩnh trở lại,
trông anh sắp quỵ đến nơi. Trước mắt, con Thảo theo tôi ra bán hàng
ngoài chợ.
Ba hoảng hốt ngắt lời bà:
- Còn việc học của cháu?
Bà lại nâng chén trà lên với cái vẻ điềm đạm, quí phái:
-
Tôi hiểu, việc học của cháu, cứ chờ má nó về sẽ học tiếp. Chuyện hệ
trọng bây giờ là làm sao mình phải giữ được quầy bán trái cây ngoài
chợ, mình không bán, người ta sẽ thu hồi cho người khác thuê. Ba cha
con sống bằng cái gì đây, tiền trường của cu tí, còn phải nuôi con
Thanh trong tù nữa. Khi nào nó về còn có chỗ để sinh nhai, không thể bỏ
quầy trái cây đó được. Bỏ là đói tất.
Tuy
không muốn nghỉ học tí nào nhưng tôi tán thành ý kiến của bà. Tôi rất
hiểu bà. Công việc bán trái cây này là của bà truyền lại, nó mang cả
tâm huyết của bà trong đó. Thời buổi này, dễ gì có được một cơ sở như
vậy. Công việc hơi vất vả nhưng thu nhập rất khá, có thể bảo đảm cuộc
sống cho ba cha con tôi, còn việc phải nuôi má trong tù. Tôi nghe người
ta nói, vật giá trong tù đắt gấp hai, ba lần ở ngoài, chi phí cho một
người trong tù bằng hai người ở ngoài. Hơn nữa, tôi không muốn ba tôi
đi xe ôm, ông hiền lành quá, trời sinh ra ông là để trồng cây cảnh. Ba
rất khéo tay, tỉ mẩn và đầy sáng tạo. Trong giới trồng hoa và kinh
doanh cây cảnh,họ gọi ba là “đại ca”, ông là một nghệ nhân thực sự. Mất
mảnh vườn, ông mất đi cái phương tiện thể hiện tài năng của mình. Ông
như bị què quặt, mất cả sinh khí, như bị quẳng qua một thế giới khác,
bị tách khỏi môi trường của mình, ông trở thành vô dụng.
Hằng
ngày tôi thấy những người đi xe ôm, tụ tập ở những ngã ba ngã tư, họ
chờ khách từ những xe khách Bắc Nam. Mỗi lần có một xe khách dừng lại,
họ đổ nhào đến bất kể nguy hiểm. Họ lôi kéo, chụp giật hành khách.
Người nào cũng hốc hác và đen cháy vì nắng. Tôi thấy công việc này vừa
vất vả, tạm bợ vừa không vẻ vang gì. Nhưng ở cái thành phố nhỏ này nhan
nhản những người chạy xe ôm, người ăn xin, người bán vé số. Bà ngoại
thường nói với má: “Cái xã hội bây giờ, đầy rẫy những kẻ lưu manh, bọn
cò mồi gái điếm, người làm nghề xe ôm, bán vé số và ăn xin. Tôi đã sống
qua hai chế độ, chưa thấy như vậy bao giờ”. Còn một lí do nữa, là tôi
rất sợ, nếu ba làm nghề xe ôm rong ruổi trên đường, vừa nguy hiểm vừa
vất vả. Tôi thấy mấy người làm nghề xe ôm, họ có những thói xấu như cờ
bạc và uống rượu. Khi vắng khách, họ xúm tụm đánh bạc ngay trên vỉa hè.
”Con người thời nay không có được những quyền cơ bản như thông tin ngôn
luận, lập hội và tôn giáo, nhưng họ được tự do uống rượu và đánh bạc”.
Bà ngoại nói với tôi như vậy mỗi lần bà cháu tôi đi dạo quanh thành
phố. Ở đâu, cũng thấy nhà hàng quán rượu đủ loại từ sang trọng đến bình
dân. Trong những quán rượu sang trọng, các cô gái tiếp viên mặc những
chiếc quần short ngắn củn cỡn, te tua, bó sát người, trễ xuống quá rốn.
Con đường ven sông (dòng sông đục ngầu, bẩn thỉu lềnh bềnh rác và xác
súc vật ) có rất nhiều người đi câu cá cũng rất nhiều người uống rựơu
đánh bạc và cả đá gà. “Những hạng người này thật bạc nhược và hèn hạ,
không dám đối diện với sự bất công, họ đi tìm những thú vui tầm thường.
Họ đi tìm sự bình an cho chính mình - cái cảm giác bình an của người
thua cuộc và chạy trốn. Hào khí nam nhi đất Việt đã mất rồi….”. Ngoại
vẫn thường ta thán như thế.
Trong
những quán cafe vườn sang trọng và tao nhã, vào những buổi chiều mùa hạ
thật đẹp, khu vườn với những lùm cây si đong đưa những chùm rễ, hồ cá
rộng và giả sơn thâm u, những người dáng vẻ trí thức bảnh bao, mày râu
nhẵn nhụi, trầm tư bên tách càfê hoặc những ấm nước trà. Ở đây, người
ta bán trà Ô Long, được phục vụ theo phong cách Tàu. Bà hỏi tôi:
- Cháu có biết họ đang nói chuyện gì với nhau không?
Tôi hơi ngạc nhiên, tại sao bà lại hỏi mình một câu như vậy.
- Dạ không.
Bà mỉm cười mỉa mai, giọng chua chát:
-
Bọn trí thức ”dỏm” này đang bàn đến chuyện áp phe làm ăn, bao giờ thì
lên chức, lên lương. Làm sao để đưa con đi học nước ngoài, làm sao để
mua đất ở trung tâm thành phố, làm sao để kiếm một ghế trong kỳ bầu cử
sắp tới, cần phải tìm đến ai có thế lực đây, gõ cửa sếp nào đây?. Đại
loại như vậy - những chuyện bẩn thỉu. Ai cũng nghĩ đến chiếc ghế và
cái ngân khoản của mình ở ngân hàng. Chẳng ai nghĩ đến đất nước, dân
tộc, đến tương lai thế hệ trẻ. Ai cũng lo hưởng thụ và thủ đắt. Trí
thức thời nào cũng là nguyên khí quốc gia. Trí thức mà tầm thường, bạc
nhược như vậy thì nguyên khí quốc gia suy sụp.
Tôi
nghĩ ở các nước văn minh, suốt một tuần làm việc cật lực, người ta đi
câu cá để thư giản, tìm sự tỉnh lặng cho đầu óc bớt căn thẳng. Nó là
một thú vui tao nhã. Còn ở đây, những con người này, họ tìm gì nơi sự
tĩnh lặng của dòng sông. Họ câu được gì nơi lềnh bềnh xác súc vật, rác
và phân người. Dòng sông ô nhiễm, có đựơc mấy con cá sống nổi ở đó. Họ
là những người thất nghiệp,cuộc sống nghèo đói về vật chất, và bế tắc
về tinh thần, cuộc sống không tương lai, không sinh khí. Còn những
người say rượu, ở Việt Nam cái gì cũng đắt, chỉ có rượu là rẻ, 4 ngàn
đồng /1lít, chưa bao giờ và không ở đâu mà rượu rẻ đến như vậy. Hai
người, một lít rượu, 1 gói thuuốc lá (thuốc lá cũng rất rẻ), một dĩa
mồi, tổng cộng mười ngàn đồng. Chiều nào, tối nào những quán nhậu bình
dân cũng chật ních người, xe máy xe đạp để lung tung, lấn cả con đường
giao thông vốn đã quá nhỏ và quá tồi tàn. Họ trở về, “chân nam đá chân
chiêu”, mồm nồng nặc rượu và thuốc lá. Có người phóng xe bạt mạng chẳng
còn biết trời đất là gì. Họ mang lại tai hoạ đến cho chính mình và
người khác. Họ say để khỏi đối diện với cuộc sống nghiệt ngã, say để
quên đi thân phận thấp kém nghèo hèn của mình, say để chấm dứt tất cả
kể cả tương lai. Chưa bao giờ tôi thấy người say nhiều đến thế. Việt
Nam bây giờ là một dân tộc bạc nhược và sợ hãi, một dân tộc ích kỉ và
hèn nhát, tham lam và bất lực. Ở nông thôn và ở cả những khu nhà ổ
chuột, người ta tìm mọi thủ đoạn để lấn chiếm, tranh giành một rẻo đất
của người hàng xóm, của anh em ruột thịt làm cho hàng xóm ghen ghét
nhau, gia đạo bất hoà, anh em li tán. Nhiều trường hợp đánh cãi nhau
dẫn đến án mạng. Nhưng họ lại cúi đầu để cho chính quyền lấy đi cơ ngơi
cả đời họ nỗ lực mới có, mà không một phản ứng bảo vệ, chỉ biết lặng
thinh, nhẫn nhục, nhận mấy đồng xu bố thí, gọi là:”bồi thường” thoả
đáng. Thật là một bi kịch hãi hùng và tủi nhục!
(Còn tiếp)
© 2008 www.danchimviet.com