Danchimviet - http://danchimviet.com
Nữ thần Công Lý (3)
http://danchimviet.com/articles/475/1/N-thn-Cong-Ly-3/TrangPage1.html
Huỳnh Ngọc Tuấn

 
Tác Giả: Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng lên/Published on 02.10.08
 
...Bác Hồ ơi, họ cướp nhà, cướp đất của con mất, Bác Hồ ơi. Bà chắp tay như cầu xin sự giúp đỡ của ông ta, hoặc trông chờ một phép màu nào đó. Nhưng không có một phép màu nào xảy ra. Còn Bác Hồ của bà thì vẫn mỉm cười - trong cái hoàn cảnh bi đát của bà...

Buổi sáng, chúng tôi ăn qua quýt một chút gì đó. Bà ngoại phân công cho từng người, không có má, tôi tin tưởng hoàn toàn vào bà ngoại, vì ba đã suy sụp quá rồi. Đối với ba, những chuyện vừa xảy ra quá sức chịu đựng. Bây giờ ba như người mất hồn, trông thật tội nghiệp. Ngoại nói với tôi:

- Cháu cứ ở nhà nghỉ ngơi cho khoẻ, ngoại đưa cu tí đi học, rồi ghé lại trường xin phép cho cháu. Sau đó ngoại sẽ đến công an phường.

Bà quay sang ba tôi:

- Anh đến công an phường, chờ mẹ ở đó, nhớ mang áo quần và một ít thức ăn cho vợ anh.

- Dạ vâng ạ! Ba ngoan như một cậu bé.

Khi mọi người đã đi hết, tôi lò cò cái chân đau trở về nhà. Đến nhà, tôi không nhìn ra nữa: cái cảnh tượng tan hoang trước mắt tôi làm tôi đau đến tận tim. Chú Năm và cô út ở đó. Họ nhặt nhạnh những gì có thể, cho lên chiếc xe công nông. Bà hai Bách cũng qua giúp một tay. Tôi hỏi bà:

- Chắc là họ không đụng đến nhà bác phải không?

Bà dừng tay, nhìn tôi:

- Không đâu, bác đã chuẩn bị sẵn sàng rồi. Hôm nay hoặc ngày mai họ sẽ cưỡng chế. Người ta đang thực hiện kế hoạch “bẻ đũa”.

Tôi không biết gì hết, hỏi bà:

- “Bẻ đũa”nghĩa là sao?

Bà cười nhưng trong nụ cười đó chất chứa những nỗi lo lắng và bất an:

- Nghĩa là khi bẻ đũa thì bẻ từng chiếc dễ hơn bẻ nhiều chiếc cùng một lúc.

Tôi “à” một tiếng nhẹ và hiểu ra. Tôi thán phục sự thông minh của bà.

Từ xa vọng lại tiếng còi 113, xen lẫn tiếng còi xe cứu thương. Cái âm thanh đó nghe rờn rợn, trấn áp tinh thần người ta, phủ chụp mọi người bằng một thứ sợ hãi, cái thứ sợ hãi có sẵn tự bao giờ, nó ẩn trú đâu đó. Tiếng còi như một thứ tín hiệu của phù thủy làm cho con ma sợ hãi ẩn trú một nơi nào đó thoát ra, chế ngự mọi người. Hàng đêm, mỗi khi nghe tiếng còi 113 là tôi không tài nào ngủ được. Chúng tôi chạy theo bà Bách, sang nhà của bà. Tiếng còi như đuổi theo chân chúng tôi rất gần. Tôi tìm một chỗ thuận tiện để quan sát. Cái kịch bản ngày hôm qua diễn lại một cách hoàn hảo: lực lượng công an sắc phục và thường phục, cộng với lực lượng dân phòng tay cầm dùi cui điện bố trí khắp nơi trong vườn.

Căn nhà của bà Hai Bách khá bề thế, mái ngói đã rêu phong,nhưng thẳng tắp, nó được nâng đỡ bởi những bức tường dày đến 30cm và một sườn gỗ mít vững chãi. Căn phòng chính của căn nhà đã đựơc dọn trống trơn, bày biện một bàn thờ có hương khói và hoa như bàn thờ của người chết. Tôi chợt nhận ra cái chân dung to tướng của ông Hồ Chí Minh. Bà Bách gọi thân mật là Bác Hồ. Bà quỳ dưới đất, mặt nhìn vào chân dung. Chính quyền địa phương và công an bước vào, đọc lệnh cưỡng chế, và khuyên nên ký vào bản cam kết chấp nhận di dời. Bà từ chối, nước mắt ràng rụa, bà kêu to:

- Bác Hồ ơi, họ cướp nhà, cướp đất của con mất, Bác Hồ ơi. Bà chắp tay như cầu xin sự giúp đỡ của ông ta, hoặc trông chờ một phép màu nào đó. Nhưng không có một phép màu nào xảy ra. Còn Bác Hồ của bà thì vẫn mỉm cười - trong cái hoàn cảnh bi đát của bà. Tôi thấy nụ cười ấy thật là vô tình, gần như nhạo báng bà. Bà đã quá ngây thơ. Hai nhân viên công an mặc sắc phục nắm khuỷu tay, kéo bà đứng lên. Bà vùng thật mạnh làm hai người công an dạt ra, bà vồ lấy tấm chân dung Hồ Chí Minh ôm vào lòng, chân dung hướng về phía trước. Bà lại quì xuống, vừa khóc vừa kêu:

- Bác Hồ ơi, cứu con.

Hai người công an lúc nãy áp sát người bà và điệu bà ra ngoài. Bà chỉ giằng co một chút, không một phản kháng nào diễn ra. Ra đến sân bà lại la to hơn :

- Bác Hồ, ông dậy mà coi cái bọn cướp này, cướp nhà cướp đất của tôi.

Nhanh như cắt, một nhân viên công an giằng lấy tấm ảnh từ tay bà. Bây giờ bà đã yếu đi nhiều. Một nhân viên khác tát cho bà mấy cái vào mặt, làm bà choáng váng. Bà tiếp tục chửi:

- Quân ăn cướp, rồi chúng mày sẽ bị trời đánh, sẽ vào địa ngục với Bác của chúng mày.

Thế là họ tát bà túi bụi. Cái thân hình khá nặng nề của bà ngã khuỵu xuống. Có mấy người nữa, tay mang băng đỏ áp vào, họ khiêng bà ra xe, quăng lên xe như quăng một cái túi. Họ còng tay bà vào ghế xe, rồi đóng sầm cửa lại, chở đi mất. Hai người con trai và ông chồng ốm tong teo của bà đứng như trời trồng, mặt há hốc xanh như đít nhái. Sợ khiếp vía, họ không còn phản ứng gì. Trông họ vừa bất lực, vừa đau khổ tột cùng.

Chiếc xe xúc đất ngày hôm qua lại thực thi cái công việc của nó. Cái bàn tay khổng lồ có răng tua tủa như quái vật, từ từ hạ xuống móc vào mái ngói. Trong hỗn tạp của tiếng máy, có tiếng kêu răng rắc của gỗ. Chiếc máy xúc như con khủng long kỷ Ura với những trò chơi ác độc. Chỉ một lát sau, căn nhà chỉ còn có vôi vữa ngỗn ngang. Căn nhà xây dựng trước năm 1975 không có một viên gạch nào, chỉ toàn là táp-lô-vật liệu phổ biến của lúc ấy. Một bức tường đổ sụp, một mảng tường lớn còn khá nguyên vẹn nằm chênh vênh gối đầu vào một trụ bêtông. Những đường nứt chân chim ngoằn nghèo như chỉ tay, làm bong ra một lớp vôi dày cộm quét bên ngoài. Tôi nhận thấy một phần của lá cờ vàng ba sọc đỏ-cờ của chế độ cũ. Mẹ tôi có lần cho tôi xem chiếc áo dài nữ sinh trung học của mẹ, được xếp cẩn thận, trên ngực chiếc áo đó có đeo lủng lẳng một lá cờ nhỏ khoảng 2 ngón tay, dài 3 phân bằng kim loại, màu vàng, màu đỏ còn rực rỡ và sáng choang. Đó là kỉ niệm ngày còn đi học. Mẹ rất quí nó. Trong những năm tháng trước đây, việc giữ lá cờ này có thể mất mạng, còn bây giờ có thể đi tù nhưng mẹ vẫn không sợ.
***  

Đến trưa, khi nắng đã gắt, tôi nhìn lên những tán xoài còn lại, đong đưa những chùm trái xanh, lòng buồn vô kể, nước mắt chảy ra không sao kìm nỗi. Chú Năm vuốt tóc tôi an ủi:

- Mọi sự đều vô thường con ạ, có đó rồi mất đó.

Chú Năm chở tôi về bằng chiếc xe đạp cũ kĩ, sau khi dặn người tài xế công nông chở những vật gom góp được về nhà chú. Ba và ngoại đã về. Ngoại thuật lại mọi chuyện cho chú Năm và tôi nghe bằng cái giọng kiên nghị và thái độ khinh bạc:

- Họ quyết định tạm giam bốn tháng và khởi tố con Thanh theo điều 83 của Bộ luật hình sự, với tội danh chống người thi hành công vụ. Tôi có gởi một chút thức ăn và áo quần cho nó - bà mỉa mai - họ đã nhận để “chuyển giùm làm phước”.

Tôi chỉ còn biết khóc, cứ nghĩ vài hôm thì má sẽ về, ai ngờ họ lại tàn ác thế. Má chỉ tự vệ theo cách của kẻ yếu, kẻ thế cô, có gì nghiêm trọng đâu, có gây ra hậu quả gì đâu! Tôi nghe đôi mắt nóng bừng, chỉ có 24 giờ đồng hồ trôi qua, mà nước mắt của tôi chảy xuống không biết bao nhiêu lần làm ướt cả vạt áo trước ngực.

Mười sáu tuổi, cái tuổi thần tiên. Tôi coi nhiều phim ảnh của các nước phương Tây, của Hàn Quốc. Tuổi trẻ của họ thật hạnh phúc, thật bình an. Họ khóc vì những thành công sớm, những món quà của người thân, những cơ hội đựơc đi đây đi đó. Nước mắt của họ là nước mắt của hạnh phúc và thành đạt. Chứ đâu có như chúng tôi: khóc vì đau khổ, bất hạnh, vì bị chà đạp phũ phàng, vì bị tước cả tương lai, bị đẩy vào cuộc sống vô định, bất trắc, khóc vì tuổi nhục và bị tổn thương. Cái quyết định vô cùng đơn giản và dễ dàng của họ đã đẩy gia đình tôi vào thế đường cùng, làm đảo lộn tất cả cuộc đời chúng tôi. Tôi không biết ở đâu trên thế giới này mà nhà cầm quyền lại quyết định số phận của công dân mình dễ dàng và vô trách nhiệm như thế. Như vậy là cuộc đời tôi đành phải hoạch định lại. Buổi tối sau một bữa cơm nặng nề và nhạt nhẽo, tôi thấy thức ăn chẳng có mùi vị gì, tôi cố nuốt như một cái máy.

Tôi bê mâm trà lên bàn như mọi lần, mời ba và ngoại. Vẫn là trà như mọi ngày, sao tôi lại không cảm nhận được những hương thơm quyến rũ của nó. Mũi tôi bị trơ rồi sao? Sau bao nhiêu biến cố dồn dập trong thời gian quá ngắn, những đổ vỡ đó như những vết thương còn quá mới mẻ. Nỗi đau đột ngột phủ chụp lên cuộc đời non nớt làm choáng váng, sự mất quân bình là điều tất nhiên, làm sao tránh được. Bà ngoại hỏi ba, nhưng trong cái nhìn của bà tôi hiểu bà đã có sẵn một kế hoạch cho tương lai.

- Con định như thế nào?.

Ba nói vẻ mặt còn ngơ ngác:

- Dạ! Con định đi xe ôm để cha con sống qua ngày chứ biết làm sao.

Bà uống một ngụm, rồi đặt tách trà xuống bàn, chiếc cốc khẽ chạm vào mặt kiếng. Cử chỉ của ngoại điềm đạm và quí phái. Mẹ kế thừa được sự quí phái đó. Có lần nghe mẹ kể chuyện, ông thân sinh của bà ngoại là một tiến sĩ. Bà cũng là con nhà trâm anh. Ông mất khi bà mới lọt lòng, mẹ bà một thân nuôi đàn con dại sáu đứa, bà ngoại là con út. Tuy bà không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng cái tư chất thông minh, lịch lãm của bà khó ai sánh kịp.

- Anh mà đi xe ôm thì hỏng. Hiền lành như anh làm sao có thể làm cái việc nhiều sự va chạm như thế được. Thôi thì “ngộ biến tòng quyền”, tôi đau lòng nhưng chẳng biết làm sao. Anh cứ nghĩ ngơi cho bình tĩnh trở lại, trông anh sắp quỵ đến nơi. Trước mắt, con Thảo theo tôi ra bán hàng ngoài chợ.

Ba hoảng hốt ngắt lời bà:

- Còn việc học của cháu?

Bà lại nâng chén trà lên với cái vẻ điềm đạm, quí phái:

- Tôi hiểu, việc học của cháu, cứ chờ má nó về sẽ học tiếp. Chuyện hệ trọng bây giờ là làm sao mình phải giữ được quầy bán trái cây ngoài chợ, mình không bán, người ta sẽ thu hồi cho người khác thuê. Ba cha con sống bằng cái gì đây, tiền trường của cu tí, còn phải nuôi con Thanh trong tù nữa. Khi nào nó về còn có chỗ để sinh nhai, không thể bỏ quầy trái cây đó được. Bỏ là đói tất.

Tuy không muốn nghỉ học tí nào nhưng tôi tán thành ý kiến của bà. Tôi rất hiểu bà. Công việc bán trái cây này là của bà truyền lại, nó mang cả tâm huyết của bà trong đó. Thời buổi này, dễ gì có được một cơ sở như vậy. Công việc hơi vất vả nhưng thu nhập rất khá, có thể bảo đảm cuộc sống cho ba cha con tôi, còn việc phải nuôi má trong tù. Tôi nghe người ta nói, vật giá trong tù đắt gấp hai, ba lần ở ngoài, chi phí cho một người trong tù bằng hai người ở ngoài. Hơn nữa, tôi không muốn ba tôi đi xe ôm, ông hiền lành quá, trời sinh ra ông là để trồng cây cảnh. Ba rất khéo tay, tỉ mẩn và đầy sáng tạo. Trong giới trồng hoa và kinh doanh cây cảnh,họ gọi ba là “đại ca”, ông là một nghệ nhân thực sự. Mất mảnh vườn, ông mất đi cái phương tiện thể hiện tài năng của mình. Ông như bị què quặt, mất cả sinh khí, như bị quẳng qua một thế giới khác, bị tách khỏi môi trường của mình, ông trở thành vô dụng.

Hằng ngày tôi thấy những người đi xe ôm, tụ tập ở những ngã ba ngã tư, họ chờ khách từ những xe khách Bắc Nam. Mỗi lần có một xe khách dừng lại, họ đổ nhào đến bất kể nguy hiểm. Họ lôi kéo, chụp giật hành khách. Người nào cũng hốc hác và đen cháy vì nắng. Tôi thấy công việc này vừa vất vả, tạm bợ vừa không vẻ vang gì. Nhưng ở cái thành phố nhỏ này nhan nhản những người chạy xe ôm, người ăn xin, người bán vé số. Bà ngoại thường nói với má: “Cái xã hội bây giờ, đầy rẫy những kẻ lưu manh, bọn cò mồi gái điếm, người làm nghề xe ôm, bán vé số và ăn xin. Tôi đã sống qua hai chế độ, chưa thấy như vậy bao giờ”. Còn một lí do nữa, là tôi rất sợ, nếu ba làm nghề xe ôm rong ruổi trên đường, vừa nguy hiểm vừa vất vả. Tôi thấy mấy người làm nghề xe ôm, họ có những thói xấu như cờ bạc và uống rượu. Khi vắng khách, họ xúm tụm đánh bạc ngay trên vỉa hè. ”Con người thời nay không có được những quyền cơ bản như thông tin ngôn luận, lập hội và tôn giáo, nhưng họ được tự do uống rượu và đánh bạc”. Bà ngoại nói với tôi như vậy mỗi lần bà cháu tôi đi dạo quanh thành phố. Ở đâu, cũng thấy nhà hàng quán rượu đủ loại từ sang trọng đến bình dân. Trong những quán rượu sang trọng, các cô gái tiếp viên mặc những chiếc quần short ngắn củn cỡn, te tua, bó sát người, trễ xuống quá rốn. Con đường ven sông (dòng sông đục ngầu, bẩn thỉu lềnh bềnh rác và xác súc vật ) có rất nhiều người đi câu cá cũng rất nhiều người uống rựơu đánh bạc và cả đá gà. “Những hạng người này thật bạc nhược và hèn hạ, không dám đối diện với sự bất công, họ đi tìm những thú vui tầm thường. Họ đi tìm sự bình an cho chính mình - cái cảm giác bình an của người thua cuộc và chạy trốn. Hào khí nam nhi đất Việt đã mất rồi….”. Ngoại vẫn thường ta thán như thế.

Trong những quán cafe vườn sang trọng và tao nhã, vào những buổi chiều mùa hạ thật đẹp, khu vườn với những lùm cây si đong đưa những chùm rễ, hồ cá rộng và giả sơn thâm u, những người dáng vẻ trí thức bảnh bao, mày râu nhẵn nhụi, trầm tư bên tách càfê hoặc những ấm nước trà. Ở đây, người ta bán trà Ô Long, được phục vụ theo phong cách Tàu. Bà hỏi tôi:

- Cháu có biết họ đang nói chuyện gì với nhau không?

Tôi hơi ngạc nhiên, tại sao bà lại hỏi mình một câu như vậy.

- Dạ không.

Bà mỉm cười mỉa mai, giọng chua chát:

- Bọn trí thức ”dỏm” này đang bàn đến chuyện áp phe làm ăn, bao giờ thì lên chức, lên lương. Làm sao để đưa con đi học nước ngoài, làm sao để mua đất ở trung tâm thành phố, làm sao để kiếm một ghế trong kỳ bầu cử sắp tới, cần phải tìm đến ai có thế lực đây, gõ cửa sếp nào đây?. Đại loại như vậy - những chuyện bẩn thỉu.  Ai cũng nghĩ đến chiếc ghế và cái ngân khoản của mình ở ngân hàng. Chẳng ai nghĩ đến đất nước, dân tộc, đến tương lai thế hệ trẻ. Ai cũng lo hưởng thụ và thủ đắt. Trí thức thời nào cũng là nguyên khí quốc gia. Trí thức mà tầm thường, bạc nhược như vậy thì nguyên khí quốc gia suy sụp.

Tôi nghĩ ở các nước văn minh, suốt một tuần làm việc cật lực, người ta đi câu cá để thư giản, tìm sự tỉnh lặng cho đầu óc bớt căn thẳng. Nó là một thú vui tao nhã. Còn ở đây, những con người này, họ tìm gì nơi sự tĩnh lặng của dòng sông. Họ câu được gì nơi lềnh bềnh xác súc vật, rác và phân người. Dòng sông ô nhiễm, có đựơc mấy con cá sống nổi ở đó. Họ là những người thất nghiệp,cuộc sống nghèo đói về vật chất, và bế tắc về tinh thần, cuộc sống không tương lai, không sinh khí. Còn những người say rượu, ở Việt Nam cái gì cũng đắt, chỉ có rượu là rẻ, 4 ngàn đồng /1lít, chưa bao giờ và không ở đâu mà rượu rẻ đến như vậy. Hai người, một lít rượu, 1 gói thuuốc lá (thuốc lá cũng rất rẻ), một dĩa mồi, tổng cộng mười ngàn đồng. Chiều nào, tối nào những quán nhậu bình dân cũng chật ních người, xe máy xe đạp để lung tung, lấn cả con đường giao thông vốn đã quá nhỏ và quá tồi tàn. Họ trở về, “chân nam đá chân chiêu”, mồm nồng nặc rượu và thuốc lá. Có người phóng xe bạt mạng chẳng còn biết trời đất là gì. Họ mang lại tai hoạ đến cho chính mình và người khác. Họ say để khỏi đối diện với cuộc sống nghiệt ngã, say để quên đi thân phận thấp kém nghèo hèn của mình, say để chấm dứt tất cả kể cả tương lai. Chưa bao giờ tôi thấy người say nhiều đến thế. Việt Nam bây giờ là một dân tộc bạc nhược và sợ hãi, một dân tộc ích kỉ và hèn nhát, tham lam và bất lực. Ở nông thôn và ở cả những khu nhà ổ chuột, người ta tìm mọi thủ đoạn để lấn chiếm, tranh giành một rẻo đất của người hàng xóm, của anh em ruột thịt làm cho hàng xóm ghen ghét nhau, gia đạo bất hoà, anh em li tán. Nhiều trường hợp đánh cãi nhau dẫn đến án mạng. Nhưng họ lại cúi đầu để cho chính quyền lấy đi cơ ngơi cả đời họ nỗ lực mới có, mà không một phản ứng bảo vệ, chỉ biết lặng thinh, nhẫn nhục, nhận mấy đồng xu bố thí, gọi là:”bồi thường” thoả đáng. Thật là một bi kịch hãi hùng và tủi nhục!
(Còn tiếp)

© 2008 www.danchimviet.com