Danchimviet - http://danchimviet.com
Chúa có cần đất không?
http://danchimviet.com/articles/472/1/Chua-co-cn-t-khong/TrangPage1.html
Nguyễn Minh Kiều

 
Tác Giả: Nguyễn Minh Kiều
Đăng lên/Published on 04.10.08
 
Nói đến tôn giáo, cần phải nói đến chân lý mà tôn giáo đó thờ phượng. Không lập cước trên đó, ta dễ bị cuốn vào cái nhìn nhị nguyên, đối đãi phân biệt. Từ chân lý của chính tôn giáo, đối chiếu với hành động cụ thể của họ, ta sẽ thấy ngay được bản chất của hành động. Còn đứng về phe này chỉ trích phe kia, thì chỉ là trò chơi chữ nghĩa.

Cầu nguyện đòi đất tại số 42, Nhà Chung và giáo xứ Thái Hà đã làm dư luận thời gian gần đây rất hoang mang. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng như các trang web trên xa lộ thông tin trong và ngoài nước đều đăng tải sự kiện này với những kết luận, nhận định dựa trên quan điểm chống đối hoặc ủng hộ. Thiết nghĩ hai thái cực đó không những không giải quyết được vấn đề mà trái lại còn làm cho vấn đề thêm rắc rối, mất lối tìm ra phương thế khả dĩ đem lại hòa bình. Thậm chí ủng hộ bên này, hay chống đối bên kia có thể dẫn đến đổ máu và con cháu chúng ta lại phải dựng đài tưởng niệm anh hùng dân tộc hay phải mất công làm lễ kính nhớ anh hùng tử đạo. Dĩ nhiên, chống đối bên này hay ủng hộ bên kia vẫn có một giá trị nhất định nếu cả hai bên chống đối và ủng hộ đều nhắm đến con đường hòa giải, hợp tác. Tuy nhiên, lịch sử lại ít có bằng chứng cho thấy, cả hai bên Kitô giáo cũng như chính quyền Cộng sản đạt đến tầm mức trung dung hòa hợp. Cả hai thường sẵn sàng hy sinh cá thể, lợi dụng cá nhân để đạt được mục đích. Phương châm lấy mục đích biện minh cho phương tiện đã từng được hai bên lập lại nhiều lần trong lịch sử. Độc lập tự do hạnh phúc hay Thiên đàng chính là những cái bánh vẽ để nhử mồi quần chúng ngây thơ, dễ tin lăn mình vào hy sinh, hiến mạng để mong được làm thánh, làm anh hùng. Chuyện đó không phải là không có tiền lệ trong lịch sử.

Chính vì thế, để tránh hai thái cực trên, người viết cố hết sức vận dụng con mắt linh hồn của Thiên Chúa giáo hay cái nhìn Như thị của Phật giáo để tiếp cận vấn đề. Dĩ nhiên bản thân người viết chưa bao giờ đạt được cảnh giới đó hay tự cho mình có con mắt thứ ba (Huệ nhãn). Giả như có con mắt thứ ba rồi, người viết đâu cần phải tốn công nhọc sức ngồi mỏi lưng mờ mắt để làm cái trò hý luận này, nhưng chỉ cần tập trung năng lực tinh thần, phát khởi thiện niệm như bình an, yêu thương, tha thứ vào những nơi bất an, tranh chấp, oán thù nhằm chuyển hóa, xoa dịu những xung đột đang ngày càng gia tăng giữa hai bên tranh chấp. Phương thế chuyển hóa này, tuy không được xây đài tưởng niệm, cũng không được phong thánh xếp ngày kính nhớ, nhưng lại là phương thế hữu hiệu nhất khả dĩ đem lại bình an không chỉ cho thân xác mà còn cho cả linh hồn. Bởi người đi giỏi, hay người làm việc thiện, chỉ thực sự là giỏi, là thiện khi mình đi, khi mình làm mà không để lại dấu tích của cái tôi phân biệt.

Tự thấy mình còn chưa thiện hành, chưa đi giỏi, người viết chỉ còn cách lập ngôn theo thể điệu trùng ngôn, tức là cố gắng lặp lại nguyên ngôn của thánh hiền, để từ đó bắc cầu nối nhịp, cho con người lấy được không gian, để mở mang u mê tục nhãn, tìm về nguồn chân ngôn cổ độ, thấy rằng mình còn lắm chấp mê, buông xả bỏ cái tôi hư ảnh, cõi ta bà hóa hiện phật quang… và cũng từ đó, chúng ta có cái nhìn trung dung, như thị đối với vấn đề đang nóng bỏng này.

1. Chúa có cần đất hay không?

Trước hết, xin được đưa ra ba hình ảnh thực tế của sự việc trên đó là việc một số bà con giáo dân đã cầm búa gậy cuốc xẻng đi phá hàng rào. Việc đặt ảnh tượng Chúa và Đức Mẹ trong khu đất Nhà Chung và việc cuối cùng là đoạn phát biểu của Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt.

Việc thứ nhất cho phép ta hình dung tính chất du mục, bán khai của những dân tộc dã man cách đây hàng nghìn năm đã tái hiện lại trong hình ảnh mang cuốc xẻng đi đập phá hàng rào của giáo dân Công giáo. Thật vậy, nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy, những nền văn hóa có tính chất du mục, hiếu chiến luôn dùng võ lực, lấy thịt đè người để đàn áp, chém giết và cướp đoạt những dân tộc có nền văn minh nông nghiệp lúa nước hiền hòa, chân chất và đôn hậu. Nói cách khác, tất cả những nền văn hóa có minh triết và tâm linh cao đều bị đại bại trước những đội quân xâm lăng hùng hậu của các dân tộc có minh triết và tâm linh thấp kém hơn. Bên Hy Lạp thì có người Hellens thuộc dòng Ấn Âu (indo-europeene) tràn vào tàn sát văn minh người Minoens và khiến cho người Minoens không còn duy trì và phát triển văn hóa tổ tiên của mình. Tệ hơn nữa, người Aryen khi xâm nhập Ấn Độ đã cư xử với dân bản xứ Dravidiens như một thứ vô loài, ngay cả loài vật cũng không được xếp vào. Còn bên Trung Quốc, tình hình sáng sủa hơn khi các sắc dân hiếu chiến như Kim, Nguyên, Thanh cũng xâm lược văn minh người Hán, có điều người Hán tuy thua về mặt quân sự nhưng lại đồng hóa, thống trị Kim, Nguyên, Thanh về mặt văn hóa.

Qua những chứng tích lịch sử ấy, chúng ta đều phải công nhận rằng, chỉ có những kẻ vũ phu, man rợ, hiếu chiến, hay ăn thịt mới dùng đến binh khí như giáo mác, gậy gộc, cuốc xẻng, súng đạn đi xâm chiếm, đi đòi quyền lợi cho mình. Trái lại, những kẻ nhu hòa, hiếu thuận, có minh triết cao đều dùng văn đức để cải hóa con người. Giả như có bị chính quyền cưỡng bức bạo hành, họ cũng chẳng bao giờ đánh trả, mà chủ trương nhu thuận. Câu nói : “khoan nhu dĩ giáo bất báo vô đạo” đã trở thành một kim chỉ nam cho người Á đông. Bản tính hiếu thuận nhu hòa còn được nâng lên thành tôn giáo gọi là Nhu đạo. Trong khi, Kitô giáo luôn cho mình là một tôn giáo duy nhất thánh thiện, yêu thương và công bằng vô cùng. Cụ thể là hằng ngày, giám mục, linh mục và tu sĩ nhả ngọc phun châu bằng những mỹ từ như yêu thương, bác ái, hòa bình… Vậy mà trong thực tế, lại có những hành động và lời nói đi ngược lại những gì mình rao giảng.

Giở lại từng trang Phúc âm, ai cũng phải công nhận rằng, Đức Giêsu là một người vô tổ quốc, vô gia cư, không có một tấc đất để cắm dùi, chết giữa trời vì nhân loại tội tình. Hình ảnh đó ai cũng thương, ai cũng quý và ai cũng mong muốn mình làm được như vậy. Hơn nữa, khi Philatô hỏi : “Ông có phải là vua dân Do Thái không”. Giêsu khẳng khái trả lời : “Phải, đúng như ông nói, Tôi là Vua, nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này.” Những hình ảnh đó của Phúc âm luôn được linh mục, tu sĩ, giáo dân luôn được khuyến khích họa lại hoặc làm theo, nếu toàn phần không được thì chỉ một phần thôi cũng quý lắm rồi. Người đi tu còn quyết liệt hơn khi họ định nghĩa là “theo sát Chúa Kitô”, tức là càng giống Chúa Kitô bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Nhưng nhìn những việc họ làm, ta có thể hiểu rằng : chữ “sát” ở đây là “sát hại” Chúa Kitô thì đúng hơn khi họ mang cuốc xẻng phá phách, gây mất trật tự trị an khu phố, làm náo loạn cả một vùng trời.

Xét trên khía cạnh văn hóa văn minh, ta thấy hành động đó nào có khác bọn du thủ du thực, côn đồ hiếu chiến. Còn xét trên phương diện tâm linh, thì hành động đó chứng tỏ người Công giáo chỉ thờ Chúa bằng cái miệng, tức là họ theo đạo, giữ đạo chứ không sống đạo. Chúa đối với họ chỉ là một thứ đồ cổ mạ vàng, lồng kiếng, đóng khung treo ở viện bảo tàng, chứ chẳng còn ăn nhập, can thiệp cụ thể vào đời sống. Chúa của họ làm một đằng, họ làm một nẻo. Chúa thậm chí không có dùi để cắm đất (chứ không phải có đất để cắm dùi), còn Công giáo Việt Nam, tự xưng là con của Chúa, lại bằng mọi giá phải có đất. Mệnh lệnh của Giêsu vẫn còn vang vọng bên tai: “Các ngươi hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời, rồi mọi sự đó sẽ được cho thêm” (Lu Ca 12:31). Thế mà, nước trời kiếm chưa ra, họ lại hùa nhau đi kiếm đất. Chẳng lẽ nước trời chẳng bao giờ kiếm thấy bằng mắt thịt, nên họ lấy đất để thế vào cái Nước trời chẳng bao giờ thấy được chăng? Như thế, về mặt văn hóa, hành động đó họa lại đúng hình ảnh của dân bán khai, còn về mặt tâm linh thì không xứng đáng là một tôn giáo cứu độ con người.

Nhìn hình ảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ đòi một chút tự do, tự trị của Phật giáo Tây Tạng, chứ không đòi đất đòi cát đối với chính quyền Trung Cộng mà xấu hổ cho hàng giáo phẩm và giáo dân Công giáo Việt Nam. Ngài chưa bao giờ kích động, xúi giục dân chúng đi biểu tình. Đó mới chính là cách hành xử của một người có tâm đạo, có nền văn hóa mang tính tâm linh cao vời vợi. Bởi mọi sự trong vũ trụ, có cái gì là vĩnh cửu đâu mà đua đòi tranh chấp. Nhìn những nền văn minh bị chôn vùi thăm thẳm trong lòng đại dương bao la, chỉ cần có một chút tấm lòng, ai cũng phải ngậm ngùi xót xa cho số phận con người và từ đó phải nương tựa, yêu thương nhau mà sống. Ấy thế mà một tôn giáo chuyên rao giảng bác ái yêu thương không nhận ra cái mong manh đó, lại còn khua chiêng gõ trống đòi cho bằng được cái vô thường chóng qua như mây nổi, như hoa đốm giữa trời không. Giả như một cơn sóng thần ập vào hay một trận động đất kinh hoàng xảy ra, vùi chôn mảnh đất số 42 Nhà Chung và Giáo xứ Thái Hà vào lòng đại dương sâu thẳm, lúc đó thử hỏi có còn ông tổng giám mục, giám nát nào đứng ra giang tay làm lễ cầu nguyện không?

Việc thứ hai là việc đặt tượng Chúa và ảnh Đức Mẹ, rồi tổ chức cầu nguyện tại khu đất Nhà Chung cho thấy tính trẻ con lẩn khuất bên trong dáng điệu khệnh khạng, giày đen bóng sáng, áo chùng thướt tha của các ông linh mục, tu sĩ. Cái tính trẻ con ấy thường được ông bà ta ví von là “chó cậy gần nhà gà cậy gần chuồng.” Hồi nhỏ, tôi đi chơi với bạn, bị chúng nó bắt nạt, đánh không lại, tôi khóc ầm chạy về méc ba. Cũng vậy, người Công giáo còn nhỏ có cha có mẹ, lớn lên mất mẹ mất cha, họ không chịu được cảnh côi cút, nói khác là vẫn còn mang tâm lý ấu trĩ, trẻ con, chưa đạt đến mức độ con người trưởng thành tự lập, nên mới lấy một đối tượng khác để gọi là Cha, đối tượng ấy chính là Thiên Chúa của họ. Bây giờ bị chính quyền lấy đất, họ đánh không lại, vội chạy về méc Chúa (Cha), méc Mẹ. Và chắc chắn trong lời cầu nguyện, họ sẽ thì thầm với Cha mẹ của họ rằng : “Chúng nó ăn hiếp con, giành mất phần đất con xây nhà thờ cho Cha Mẹ, giờ con đặt Cha Mẹ dưới đây, thằng chó nào vào đây ủi đất san tường, xin Chúa Mẹ sai thiên sứ, lấy gươm giết sạch bọn chúng, cho chúng con hết tủi hết hờn, và để cho chúng thấy uy quyền của Thiên Chúa các đạo binh và vinh quang Chúa sẽ được chúng con ca tụng đến muôn đời.” Có thể nói, tôn giáo nào mà gọi Thượng Đế là Cha thì tín đồ của tôn giáo đó không thể làm một người trưởng thành, nói khác họ chỉ là một đứa con nít đúng nghĩa, nếu không muốn nói là con vật (thực ra trong Kitô giáo, các tín đồ được gọi là con chiên). Tóm lại, hành động mang tượng ảnh ra đặt trong khu đất, rồi làm lễ thắp nến cầu nguyện chỉ là cách để hù dọa thế gian, chứ thực chất bên trong, giáo sĩ giáo dân Công giáo chẳng có gì gọi là trưởng thành tâm linh, chẳng có gì gọi là tư cách của một con người độc lập, trưởng thành.

Việc thứ ba là câu nói của Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, ông nói như sau : “Do đó, chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi rất mong muốn xây dựng một khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng.

Thế nhưng chúng ta không phải chỉ có tình cảm mong muốn là được mà phải có lý luận xây dựng thật là vững chắc trền nền tảng pháp lý. Một lần nữa chúng tôi xin hết sức cám ơn ông chủ tịch và Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội đã dành cho chúng tôi một buổi tiếp đón thật là trân trọng và thân tình và hứa hẹn những trao đổi khác thì chúng tôi thấy hy vọng như thế chúng ta hiểu nhau hơn và mới có thể làm cho Thành Phố Hà Nội chúng ta nói riêng, tiến đến kỷ niệm ngàn năm Thăng Long được vui vẻ, xứng đáng là một thành phố hòa bình và trong hòa bình thì có công lý và làm cho đất nước chúng ta càng ngày càng phát triển. Tôi xin cám ơn.” 

Ở đây, người viết không bình luận gì thêm, cũng không tách câu chẻ chữ, mà chỉ nói rằng một tôn giáo luôn tự xưng là chân lý tuyệt đối thì không có chuyện phê bình, phủ nhận hay nhục nhã cái này cái kia. Đã nắm được chân lý tuyệt đối thì phải dung nhiếp tất cả vào lòng, rồi hóa giải, điều phục tất cả tham sân si bằng cái tâm từ bi vô lượng. Trái lại, chỉ có thứ chân lý nửa vời mới phân chia xấu tốt, được mất, hơn thua, vinh nhục mà thôi. Điều này càng chứng tỏ tính chất bịp bợm, mị dân, ăn gian nói dối của Công giáo La Mã đã tồn tại từ xưa đến nay mà hầu hết dân chúng vì tất bật với cơm áo gạo tiền, nên không có thời gian để kiểm chứng hoặc cuồng tín tin theo. Thiết nghĩ, nhục nhã hay không là do ở chính bản thân mình, chứ không phải do đất nước làm mình nhục nhã. Đành rằng chính quyền hiện nay còn nhiều vấn đề bàn cãi, nhưng nếu trao chính quyền vào tay các ông, các ông có làm tốt hơn nhà nước hiện nay không? Hay các ông lại đưa đất nước này về thời Trung cổ với Tòa án dị giáo, Thánh chiến khắp nơi… Chỉ có miếng đất nho nhỏ, có nó cũng chẳng thể làm cho Công giáo lớn lên được (vì hiện nay Tây phương đã bỏ hết đạo rồi), mà không có nó, chắc gì Kitô giáo, nếu thực chất có sức hấp dẫn, sẽ bị tàn lụi đâu. Càng đi tìm mảnh đất thế trần, chứng tỏ tôn giáo đó càng không có mảnh đất tâm linh. Thượng Đế đích thực ở trong lòng con người, chứ không hề ở số 42 Nhà Chung.

Thiền sư Shunryu Suzuki đơn giản nói rằng: “Chúng ta không nhấn mạnh điều gì. Tất cả điều chúng ta muốn làm là nhận biết sự vật như chúng là. Nếu ta biết sự vật như chúng là, chẳng có gì phải chỉ ra; không có phương pháp để nắm bắt bất kỳ điều gì; không có vật để nắm bắt. Ta không cần nhấn mạnh điểm nào... Bởi vì ta nhấn mạnh vào điểm đặc biệt nào đó, nên ta luôn có phiền muộn. Ta hãy chấp nhận sự vật y như chúng là.” (We do not emphasize anything. All we want to do is to know things just as they are. If we know things as they are, there is nothing to point at; there is no way to grasp anything; there is nothing to grasp. We cannot put emphasis on any point... Because we put emphasis on some particular point, we always have trouble. We should accept things just as they are). Nói như Thiền sư Dôgen : “Cho dù ta yêu hoa, hoa vẫn rơi; và cho dù ta ghét sậy, sậy vẫn mọc. Trong cái tâm bao la, không có yêu hay ghét, không có trung tâm.”  Còn yêu còn ghét, còn vinh còn nhục cái tấm hộ chiếu Việt Nam như ông Ngô Quang Kiệt, chẳng hiểu làm sao Vatican lại đưa ông lên lãnh đạo con chiên và toàn thể hội đồng Giám mục Việt Nam? Một người còn lệ thuộc, nô lệ vào vật chất thì làm sao có thể chăn dắt đoàn chiên về tới thiên đàng được? Mù dắt mù, cả hai đều lọt xuống hố. Hỡi những tín đồ Công giáo, các người có hiểu ra điều này không???

2. Công Cộng, mối tương quan sống còn

Từ sau năm 1954 cho đến nay, ít người có thể thấy được mối tương quan sống còn giữa Công giáo và Cộng sản. Có thể nói, nếu không có Cộng sản nắm chính quyền, chưa chắc Kitô giáo Việt Nam phát triển như ngày hôm nay. Thoạt nghe có vẻ nghịch lý, nhưng nếu nhìn kỹ vào bối cảnh Kitô giáo bên Tây phương, ta có quyền khẳng định điều đó là sự thật. Thật vậy, với chính sách tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, Tây Phương dần dần nhận ra được bản chất đích thực được khéo léo che đậy bởi lớp áo bên ngòai là hệ thống thần học, luân lý, tín lý và nhất là hàng giáo phẩm với những nghi thức tế tự hoành tráng, các phong trào giới trẻ công giáo… Hơn nữa, niềm tin vào một Thượng Đế hữu ngã không chỉ bị khoa học chối từ mà còn không thỏa mãn được những khát vọng ẩn kín trong tiềm thức sâu xa của con người.

Về khoa học, Albert Einstein nói : “Tôi không thể quan niệm một Thượng Đế thưởng phạt tạo vật do chính mình dựng lên.” (I cannot conceive of a God who rewards and punishes his creatures). Về phân tâm học, Sigmund Freud nói : “Tôn giáo giống như là chứng bệnh suy nhược thần kinh của trẻ con.” (Religion is comparable to a childhood neurosis.) Về mặt triết học, Whitehead phát biểu: “Tôi coi nền thần học Ki Tô Giáo như là một trong những tai họa lớn của nhân loại.” (I consider Christian theology to be one of the great disasters of the human race). Như thế, Vị Thượng Đế đó cao xa quá, không liên hệ đến hiện sinh con người đang trăm mối tơ vò, vùng vẫy trong vũng bùn nhân sinh nhầy nhụa, không còn thấy nẻo đường quy hồi cố quận. Cái tâm sơ nguyên tinh ròng bị cướp mất thì làm sao con người còn có thể yên ổn trong khi cứ phải lần mò trong tăm tối u minh. Chính vì thế, xã hội Tây Phương quay mặt lại với tôn giáo cổ truyền của họ mà hướng nhìn về nền minh triết Á Đông với một niềm tin giải thoát.

Trái lại, từ khi lên nắm được chính quyền năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam lúc đầu đã thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, không cho tôn giáo, tư tưởng, giáo dục… được thở bầu khí tự do, khiến cho Công giáo lâm vào tình trạng vô cùng khốn đốn. Họ tìm mọi cách để vùng vẫy, thoát khỏi ách thống trị kìm kẹp của chính quyền. Nhưng từ trong vô thức sâu thẳm ít khi có cơ hội nổi lên thành ý thức, Công giáo La Mã lại đồng tình vô cùng với chính sách đó. Nói cho cùng, Công giáo La Mã là một tôn giáo có rất nhiều kinh nghiệm trong việc bế quan tỏa cảng, giáo dục nhồi sọ, đàn áp tư tưởng, kìm kẹp văn minh con người trong suốt hai ngàn năm qua. John Burroughs, Văn hào Mỹ nói : “Khoa học đã đóng góp cho sự phát triển của nền văn minh Tây phương trong 100 năm nhiều hơn là sự đóng góp của Ki Tô Giáo trong 1800 năm.” (Science has done more for the development of Western civilization in 100 years than Christianity in 1800 years.)

Tại sao một tôn giáo luôn rao giảng tình thương, hòa bình, thịnh vượng lại có thể làm những điều trái ngược như vậy? Có lẽ vì tham quyền cố vị, mưu đồ độc quyền làm chủ thế giới này. Giấc mộng đó con người xưa nay có chưa ai thoát khỏi. Nhưng giấc mộng đó chỉ nên thơ, thi vị khi nó không dùng phương tiện để biện minh cho mục đích. Đằng này, lịch sử lại cho thấy, Kitô giáo đã bằng mọi giá, mọi thủ đoạn để cướp linh hồn về Chúa, làm như thể là ai cân được nhiều linh hồn hơn, người đó sẽ được phong thánh. Chính vì lẽ đó mà càng bao che, lấp liếm cái lịch sử đẫm máu của mình, Giáo hội càng duy trì được quyền cai trị trên đám dân đen. Dù chính quyền phong tỏa, can thiệp vào một số quyền tự do hành đạo, nhưng lại vô tình giúp hàng giáo phẩm che mắt giáo dân Công giáo Việt Nam, không cho tiếp cận với các tư tưởng đang được khai quật, vén mở ở bên trời Tây. Họ hoàn toàn mù tịt không biết Đức Giêsu là người Do Thái nói tiếng Hebrew, mà 4 quyển Tin Mừng, bộ sách quan trọng nhất của Công giáo mà sau mỗi lần đọc, linh mục trịnh trọng tung hô : “Đó là lời Chúa!”, lại viết bằng tiếng Hy Lạp. Chính sách ngu dân để dễ bề cai trị thì không có chính quyền nào qua mặt được Kitô giáo. Bởi thế, người Công giáo, ngay cả người bên lương, cũng đều cho rằng, hễ Cha nói là phải đúng, còn Giám mục nói thì càng đúng hơn. Giả như có muốn kiểm chứng thì họ cũng chẳng biết manh mối nào mà lần. Quả đúng là làm con chiên Công giáo thật vô cùng khổ, vì một cổ mà bị hai tròng.

Như thế, đáng lẽ Công giáo Việt Nam phải phong thánh cho Cộng sản Việt Nam, đằng này họ lại tuyên chiến, sẵn sàng dùng mọi biện pháp có thể để đòi cho bằng được mảnh đất cỏn con. Cái lợi mà chính quyền đem lại cho Công giáo thiết nghĩ nó lớn hơn nhiều so với nước Mẹ Vatican ban cho Giáo hội Việt Nam. Nói theo kiểu nhà Phật thì Chính quyền là một bồ tát nghịch hạnh, thị hiện ra làm kẻ ác để cứu độ Công giáo Việt Nam. Cho nên, đến thời buổi này, Công giáo mới còn đất để khua chiêng gõ trống. Nếu cứ để tư tưởng tự do như bên phương tây, chắc gì Công giáo còn đất sống ở Việt Nam.

Trong tác phẩm Ca Ngợi Cô Đơn, Kahlil Gibran đã viết một câu chuyện mang tựa đề Quỷ Sa Tăng. Câu truyện kể đại ý là trong một lần đi giảng đạo về ngang qua một khu đất, Cha Samaan nghe thấy tiếng rên rỉ kêu la, đến gần cha mới thấy một người đang hấp hối. Anh ta nài nỉ xin cha ra tay cứu giúp. Khi được biết người đàn ông đó chính là tên quỷ Sa Tăng, cha định bỏ đi. Nhưng tên quỷ nói rằng : “Cha ơi, đừng đi vì chúng ta là bạn thân của nhau lâu lắm rồi.” Rồi hắn tiếp tục thuyết phục cha bằng vài nguyên tắc như : “…Cha đang nguyền rủa tôi trong giờ chiến bại của tôi, dù tôi đã, và vẫn là, nguồn yên ổn và hạnh phúc của cha.” Chỗ khác, Sa Tăng thuyết phục : “…hẳn cha đã thấy khó có thể lấy vàng bạc của tín đồ, nếu cha không mang uy tôi ra dọa nạt hay sao? Ngày mai cha sẽ làm gì nếu hôm nay tôi chết… Thiên chức của cha sẽ chết theo tôi vì con người không còn tội lỗi”. Cuối cùng, cha Samaan bị thuyết phục, cha nói : “Tôi biết rằng sự hiện hữu của anh trong thế giới này tạo nên cám dỗ và cám dỗ là tiêu chuẩn mà Thượng Đế dùng để cân linh hồn, tôi chắc chắn  rằng, nếu anh chết, cám dỗ sẽ chết… Anh phải sống, vì nếu anh chết đi thì mọi người sẽ biết, nỗi sợ hãi địa ngục của họ biến mất và họ sẽ không còn thờ phượng nữa, vì không còn là tội lỗi. Anh phải sống, vì trong cuộc sống anh là sự cứu vớt nhân loại khỏi xấu xa và tội lỗi.” nghe vậy quỷ Sa Tăng đáp lại : “Nhờ năng lực trí thức, cha đã tìm thấy mục đích cho cuộc tồn sinh của tôi và bây giờ chúng ta thấy rõ rằng mình cần có nhau.”

Như vậy, từ trong tiềm thức thâm u, ẩn áo Kitô giáo không thể tồn tại nếu không có đồng minh là bầy quỷ dữ do Sa Tăng làm trùm. Không có lửa hỏa ngục, thiên đàng chỉ là một bãi tha ma hoang lạnh không hơn không kém. Phân tâm học đã cho thấy : Cái gì mình chống đối, cái đó ở ngay trong lòng mình. Mình căm ghét mình lắm, nhưng lại không dám lên án mình, nên mới đem cái niềm căm phẫn đó gán cho người khác và hậu quả là chiến tranh, đổ máu. Ngay cả quỷ dữ còn là đồng minh của Công giáo, thì chính quyền cộng sản làm sao thoát khỏi móng vuốt của Vatican. Như vậy, nếu không có Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền, Công giáo Việt Nam không có cái ngày hôm nay. Cũng như không có Giuđa hy sinh làm kẻ bán Chúa ba mươi đồng, Giêsu không có cơ hội đền tội cho nhân loại. Và cũng từ đó, Kitô giáo mới thành hình trên thế gian.

3. Tạm kết

Cái nhìn trung dung chỉ có khi người quan sát không lệ thuộc bất kỳ một ý thức hệ nào, dù cho ý thức đó có thật sự thuộc về Thượng Đế. Nói theo nhà Phật là chỉ có cái nhìn Như thị, cái lý Trung đạo mới vén mở, khai nguyên chân tính u tàng, ẩn mật trong lòng vạn pháp thế gian. Còn lệ thuộc vào bên này bên kia, bấy lâu ta còn có cái nhìn lệch lạc, vong thân. Nói đến tôn giáo, cần phải nói đến chân lý mà tôn giáo đó thờ phượng. Không lập cước trên đó, ta dễ bị cuốn vào cái nhìn nhị nguyên, đối đãi phân biệt. Từ chân lý của chính tôn giáo, đối chiếu với hành động cụ thể của họ, ta sẽ thấy ngay được bản chất của hành động. Còn đứng về phe này chỉ trích phe kia, thì chỉ là trò chơi chữ nghĩa.

Do vậy, đặt nền trên khía cạnh tâm linh, Công giáo hữu thần chắc chắn phải có cái gì tiến bộ hơn, văn minh hơn vô thần. Nhưng giáo dân, linh mục, giám mục của họ đã hành xử chẳng khác người vô thần xét cả trên phương diện văn hóa. Điều đó cho thấy, họ chống chính quyền chỉ ở môi miệng, họ thờ Thiên Chúa bằng mỹ từ rỗng không, còn thực tế, họ có làm cho con người đạt đến cảnh giới Bát Phong suy bất động  đâu. Bằng chứng là ngay cả Giáo hoàng Gioan Phaolô II sau khi bị ám sát đã phải chui vào xe chống đạn, cộng với đội quân vệ sĩ hùng hậu thì làm sao Tổng Giám Mục Kiệt lại để mất khu đất số 42 Nhà Chung một cách dễ dàng được. Đời sống tôn giáo đích thực không bao giờ lệ thuộc vào vật chất, tài sản bên ngoài. Cái nghèo của Tin mừng không thể dừng lại ở mức từ bỏ hết của cải thế gian, mà còn đồng nghĩa với việc từ bỏ luôn cả ý niệm về Thượng Đế. Nói theo Long Thọ là Sự im lặng toàn triệt của tâm trí. Đứng trên phương diện này thì Công giáo Việt Nam chỉ là một phong trào trẻ con được ngụy trang, trá hình bằng nhiều hình thức tinh ma xảo quyệt. Bởi cái nghèo vật chất, tự bản thân họ không bỏ được, chính quyền đã giúp họ lấy đi để họ sống đúng Tin Mừng hơn, họ không biết tự thẹn cám ơn chính quyền mà còn hô hào giáo dân chiếm lại bằng mọi giá. Cái đó không là trẻ con thì còn là cái gì…

Xin được mượn câu chuyện của nhà thiền sau đây để kết thúc bài viết lan man này : “Ryuokan là một Thiền sư sống một cuộc đời đơn giản trong một căn lều nhỏ dưới chân một hòn núi. Một buổi chiều, có một tên trộm đột nhập vào lều của Ryuokan lục soát để lấy đồ. Ngay lúc đó, Ryuokan về và bắt gặp hắn đang lục soát, ông nói : “Có lẽ anh từ xa đến đây để thăm tôi. Chẳng lẽ anh trở về tay không sao. Hãy lấy quần áo của tôi và xem nó như món quà tôi tặng cho anh. Tên trộm ngạc nhiên. Nhưng hắn cũng lấy quần áo của Ryuokan rồi tẩu thoát. Ryuokan ngồi trần truồng, ngước mắt nhìn ánh trăng thơ mộng : “Hỡi người bạn nghèo khổ! Ước gì ta có thể tặng anh vầng trăng tuyệt vời này.”

Tóm lại, tôn giáo có tính tâm linh cao vời vợi thì không những không thể ghì giữ, bám víu vào những thứ vô thường mà còn phải dâng hiến, trao ban cho đến tận cùng, tức trao ban đến giọt máu cuối cùng, cho đi đến nỗi không còn một niệm tưởng, dù là thiện niệm, khởi sanh. Ấy mới là tôn giáo khả dĩ mang tính cứu độ. Trái lại, tôn giáo đó chỉ là một thứ ung nhọt, một thứ của nợ của xã hội con người mà theo lý cần phải loại bỏ, bởi nó chỉ ăn bám, hút máu tâm lực, làm con người mất nẻo về quận cố nguyên thôn. Hơn nữa, nếu Chúa không cho phép, Chính quyền cũng chẳng dám lấy mảnh đất đó để làm gì. Nhưng Chúa đã cho y như việc Chúa năn nỉ Giuđa bán Chúa và chính quyền đã dùng miếng đất đó làm công viên cây xanh cho bà con khu phố có chút không khí trong lành hít thở trong kiếp người tất bật lo toan. Điều đó, đáng ra Công giáo còn phải khuyến khích cổ vũ mới phải lòng phải đạo, đàng này lại ngăn cản không cho chính quyền xây dựng, thi công với những lý lẽ công lý, công bằng, lấy đất để phục vụ con người. Coi bộ, trên thế gian này, chỉ có mình Kitô giáo mới biết phục vụ con người hay sao? Câu trả lời xin dành cho độc giả ngẫm nghĩ.