Qua những chứng tích lịch sử ấy, chúng ta đều phải công nhận rằng, chỉ có những kẻ vũ phu, man rợ, hiếu chiến, hay ăn thịt mới dùng đến binh khí như giáo mác, gậy gộc, cuốc xẻng, súng đạn đi xâm chiếm, đi đòi quyền lợi cho mình. Trái lại, những kẻ nhu hòa, hiếu thuận, có minh triết cao đều dùng văn đức để cải hóa con người. Giả như có bị chính quyền cưỡng bức bạo hành, họ cũng chẳng bao giờ đánh trả, mà chủ trương nhu thuận. Câu nói : “khoan nhu dĩ giáo bất báo vô đạo” đã trở thành một kim chỉ nam cho người Á đông. Bản tính hiếu thuận nhu hòa còn được nâng lên thành tôn giáo gọi là Nhu đạo. Trong khi, Kitô giáo luôn cho mình là một tôn giáo duy nhất thánh thiện, yêu thương và công bằng vô cùng. Cụ thể là hằng ngày, giám mục, linh mục và tu sĩ nhả ngọc phun châu bằng những mỹ từ như yêu thương, bác ái, hòa bình… Vậy mà trong thực tế, lại có những hành động và lời nói đi ngược lại những gì mình rao giảng.
Giở lại từng trang Phúc âm, ai cũng phải công nhận rằng, Đức Giêsu là một người vô tổ quốc, vô gia cư, không có một tấc đất để cắm dùi, chết giữa trời vì nhân loại tội tình. Hình ảnh đó ai cũng thương, ai cũng quý và ai cũng mong muốn mình làm được như vậy. Hơn nữa, khi Philatô hỏi : “Ông có phải là vua dân Do Thái không”. Giêsu khẳng khái trả lời : “Phải, đúng như ông nói, Tôi là Vua, nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này.” Những hình ảnh đó của Phúc âm luôn được linh mục, tu sĩ, giáo dân luôn được khuyến khích họa lại hoặc làm theo, nếu toàn phần không được thì chỉ một phần thôi cũng quý lắm rồi. Người đi tu còn quyết liệt hơn khi họ định nghĩa là “theo sát Chúa Kitô”, tức là càng giống Chúa Kitô bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Nhưng nhìn những việc họ làm, ta có thể hiểu rằng : chữ “sát” ở đây là “sát hại” Chúa Kitô thì đúng hơn khi họ mang cuốc xẻng phá phách, gây mất trật tự trị an khu phố, làm náo loạn cả một vùng trời.
Xét trên khía cạnh văn hóa văn minh, ta thấy hành động đó nào có khác bọn du thủ du thực, côn đồ hiếu chiến. Còn xét trên phương diện tâm linh, thì hành động đó chứng tỏ người Công giáo chỉ thờ Chúa bằng cái miệng, tức là họ theo đạo, giữ đạo chứ không sống đạo. Chúa đối với họ chỉ là một thứ đồ cổ mạ vàng, lồng kiếng, đóng khung treo ở viện bảo tàng, chứ chẳng còn ăn nhập, can thiệp cụ thể vào đời sống. Chúa của họ làm một đằng, họ làm một nẻo. Chúa thậm chí không có dùi để cắm đất (chứ không phải có đất để cắm dùi), còn Công giáo Việt Nam, tự xưng là con của Chúa, lại bằng mọi giá phải có đất. Mệnh lệnh của Giêsu vẫn còn vang vọng bên tai: “Các ngươi hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời, rồi mọi sự đó sẽ được cho thêm” (Lu Ca 12:31). Thế mà, nước trời kiếm chưa ra, họ lại hùa nhau đi kiếm đất. Chẳng lẽ nước trời chẳng bao giờ kiếm thấy bằng mắt thịt, nên họ lấy đất để thế vào cái Nước trời chẳng bao giờ thấy được chăng? Như thế, về mặt văn hóa, hành động đó họa lại đúng hình ảnh của dân bán khai, còn về mặt tâm linh thì không xứng đáng là một tôn giáo cứu độ con người.
Nhìn hình ảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ đòi một chút tự do, tự trị của Phật giáo Tây Tạng, chứ không đòi đất đòi cát đối với chính quyền Trung Cộng mà xấu hổ cho hàng giáo phẩm và giáo dân Công giáo Việt Nam. Ngài chưa bao giờ kích động, xúi giục dân chúng đi biểu tình. Đó mới chính là cách hành xử của một người có tâm đạo, có nền văn hóa mang tính tâm linh cao vời vợi. Bởi mọi sự trong vũ trụ, có cái gì là vĩnh cửu đâu mà đua đòi tranh chấp. Nhìn những nền văn minh bị chôn vùi thăm thẳm trong lòng đại dương bao la, chỉ cần có một chút tấm lòng, ai cũng phải ngậm ngùi xót xa cho số phận con người và từ đó phải nương tựa, yêu thương nhau mà sống. Ấy thế mà một tôn giáo chuyên rao giảng bác ái yêu thương không nhận ra cái mong manh đó, lại còn khua chiêng gõ trống đòi cho bằng được cái vô thường chóng qua như mây nổi, như hoa đốm giữa trời không. Giả như một cơn sóng thần ập vào hay một trận động đất kinh hoàng xảy ra, vùi chôn mảnh đất số 42 Nhà Chung và Giáo xứ Thái Hà vào lòng đại dương sâu thẳm, lúc đó thử hỏi có còn ông tổng giám mục, giám nát nào đứng ra giang tay làm lễ cầu nguyện không?
Việc thứ hai là việc đặt tượng Chúa và ảnh Đức Mẹ, rồi tổ chức cầu nguyện tại khu đất Nhà Chung cho thấy tính trẻ con lẩn khuất bên trong dáng điệu khệnh khạng, giày đen bóng sáng, áo chùng thướt tha của các ông linh mục, tu sĩ. Cái tính trẻ con ấy thường được ông bà ta ví von là “chó cậy gần nhà gà cậy gần chuồng.” Hồi nhỏ, tôi đi chơi với bạn, bị chúng nó bắt nạt, đánh không lại, tôi khóc ầm chạy về méc ba. Cũng vậy, người Công giáo còn nhỏ có cha có mẹ, lớn lên mất mẹ mất cha, họ không chịu được cảnh côi cút, nói khác là vẫn còn mang tâm lý ấu trĩ, trẻ con, chưa đạt đến mức độ con người trưởng thành tự lập, nên mới lấy một đối tượng khác để gọi là Cha, đối tượng ấy chính là Thiên Chúa của họ. Bây giờ bị chính quyền lấy đất, họ đánh không lại, vội chạy về méc Chúa (Cha), méc Mẹ. Và chắc chắn trong lời cầu nguyện, họ sẽ thì thầm với Cha mẹ của họ rằng : “Chúng nó ăn hiếp con, giành mất phần đất con xây nhà thờ cho Cha Mẹ, giờ con đặt Cha Mẹ dưới đây, thằng chó nào vào đây ủi đất san tường, xin Chúa Mẹ sai thiên sứ, lấy gươm giết sạch bọn chúng, cho chúng con hết tủi hết hờn, và để cho chúng thấy uy quyền của Thiên Chúa các đạo binh và vinh quang Chúa sẽ được chúng con ca tụng đến muôn đời.” Có thể nói, tôn giáo nào mà gọi Thượng Đế là Cha thì tín đồ của tôn giáo đó không thể làm một người trưởng thành, nói khác họ chỉ là một đứa con nít đúng nghĩa, nếu không muốn nói là con vật (thực ra trong Kitô giáo, các tín đồ được gọi là con chiên). Tóm lại, hành động mang tượng ảnh ra đặt trong khu đất, rồi làm lễ thắp nến cầu nguyện chỉ là cách để hù dọa thế gian, chứ thực chất bên trong, giáo sĩ giáo dân Công giáo chẳng có gì gọi là trưởng thành tâm linh, chẳng có gì gọi là tư cách của một con người độc lập, trưởng thành.