Cầu nguyện đòi đất tại số 42, Nhà Chung và giáo xứ Thái Hà đã làm dư luận thời gian gần đây rất hoang mang. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng như các trang web trên xa lộ thông tin trong và ngoài nước đều đăng tải sự kiện này với những kết luận, nhận định dựa trên quan điểm chống đối hoặc ủng hộ. Thiết nghĩ hai thái cực đó không những không giải quyết được vấn đề mà trái lại còn làm cho vấn đề thêm rắc rối, mất lối tìm ra phương thế khả dĩ đem lại hòa bình. Thậm chí ủng hộ bên này, hay chống đối bên kia có thể dẫn đến đổ máu và con cháu chúng ta lại phải dựng đài tưởng niệm anh hùng dân tộc hay phải mất công làm lễ kính nhớ anh hùng tử đạo. Dĩ nhiên, chống đối bên này hay ủng hộ bên kia vẫn có một giá trị nhất định nếu cả hai bên chống đối và ủng hộ đều nhắm đến con đường hòa giải, hợp tác. Tuy nhiên, lịch sử lại ít có bằng chứng cho thấy, cả hai bên Kitô giáo cũng như chính quyền Cộng sản đạt đến tầm mức trung dung hòa hợp. Cả hai thường sẵn sàng hy sinh cá thể, lợi dụng cá nhân để đạt được mục đích. Phương châm lấy mục đích biện minh cho phương tiện đã từng được hai bên lập lại nhiều lần trong lịch sử. Độc lập tự do hạnh phúc hay Thiên đàng chính là những cái bánh vẽ để nhử mồi quần chúng ngây thơ, dễ tin lăn mình vào hy sinh, hiến mạng để mong được làm thánh, làm anh hùng. Chuyện đó không phải là không có tiền lệ trong lịch sử.

Chính vì thế, để tránh hai thái cực trên, người viết cố hết sức vận dụng con mắt linh hồn của Thiên Chúa giáo hay cái nhìn Như thị của Phật giáo để tiếp cận vấn đề. Dĩ nhiên bản thân người viết chưa bao giờ đạt được cảnh giới đó hay tự cho mình có con mắt thứ ba (Huệ nhãn). Giả như có con mắt thứ ba rồi, người viết đâu cần phải tốn công nhọc sức ngồi mỏi lưng mờ mắt để làm cái trò hý luận này, nhưng chỉ cần tập trung năng lực tinh thần, phát khởi thiện niệm như bình an, yêu thương, tha thứ vào những nơi bất an, tranh chấp, oán thù nhằm chuyển hóa, xoa dịu những xung đột đang ngày càng gia tăng giữa hai bên tranh chấp. Phương thế chuyển hóa này, tuy không được xây đài tưởng niệm, cũng không được phong thánh xếp ngày kính nhớ, nhưng lại là phương thế hữu hiệu nhất khả dĩ đem lại bình an không chỉ cho thân xác mà còn cho cả linh hồn. Bởi người đi giỏi, hay người làm việc thiện, chỉ thực sự là giỏi, là thiện khi mình đi, khi mình làm mà không để lại dấu tích của cái tôi phân biệt.

Tự thấy mình còn chưa thiện hành, chưa đi giỏi, người viết chỉ còn cách lập ngôn theo thể điệu trùng ngôn, tức là cố gắng lặp lại nguyên ngôn của thánh hiền, để từ đó bắc cầu nối nhịp, cho con người lấy được không gian, để mở mang u mê tục nhãn, tìm về nguồn chân ngôn cổ độ, thấy rằng mình còn lắm chấp mê, buông xả bỏ cái tôi hư ảnh, cõi ta bà hóa hiện phật quang… và cũng từ đó, chúng ta có cái nhìn trung dung, như thị đối với vấn đề đang nóng bỏng này.

1. Chúa có cần đất hay không?

Trước hết, xin được đưa ra ba hình ảnh thực tế của sự việc trên đó là việc một số bà con giáo dân đã cầm búa gậy cuốc xẻng đi phá hàng rào. Việc đặt ảnh tượng Chúa và Đức Mẹ trong khu đất Nhà Chung và việc cuối cùng là đoạn phát biểu của Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt.

Việc thứ nhất cho phép ta hình dung tính chất du mục, bán khai của những dân tộc dã man cách đây hàng nghìn năm đã tái hiện lại trong hình ảnh mang cuốc xẻng đi đập phá hàng rào của giáo dân Công giáo. Thật vậy, nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy, những nền văn hóa có tính chất du mục, hiếu chiến luôn dùng võ lực, lấy thịt đè người để đàn áp, chém giết và cướp đoạt những dân tộc có nền văn minh nông nghiệp lúa nước hiền hòa, chân chất và đôn hậu. Nói cách khác, tất cả những nền văn hóa có minh triết và tâm linh cao đều bị đại bại trước những đội quân xâm lăng hùng hậu của các dân tộc có minh triết và tâm linh thấp kém hơn. Bên Hy Lạp thì có người Hellens thuộc dòng Ấn Âu (indo-europeene) tràn vào tàn sát văn minh người Minoens và khiến cho người Minoens không còn duy trì và phát triển văn hóa tổ tiên của mình. Tệ hơn nữa, người Aryen khi xâm nhập Ấn Độ đã cư xử với dân bản xứ Dravidiens như một thứ vô loài, ngay cả loài vật cũng không được xếp vào. Còn bên Trung Quốc, tình hình sáng sủa hơn khi các sắc dân hiếu chiến như Kim, Nguyên, Thanh cũng xâm lược văn minh người Hán, có điều người Hán tuy thua về mặt quân sự nhưng lại đồng hóa, thống trị Kim, Nguyên, Thanh về mặt văn hóa.