Trong những năm qua đã có nhiều dấu hiệu thị trường địa ốc gặp khó khăn, trong những tháng qua đã có nhiều tin bi quan về thị trường tài chính và địa ốc nhưng không thấy ai nhúc nhích.

Trước hết “bong bóng” địa ốc đã xẹp gây nhiều khó khăn cho khu vực tài chính liên quan đến địa ốc và ảnh hưởng khá nhiều không những tại Mỹ mà còn tại nước ngoài như tại Anh, tại Thụy sĩ, v.v…

Bộ Tài chính và Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve Bank) hay Fed đã phải giúp cứu vớt ngân hàng đầu tư Bear Stearns (BS) qua việc đứng đằng sau “bảo đảm nợ” giúp ngân hàng J.P Morgan-Chase mua lại BS với giá là 30 tỷ đô. Sau đó Quỹ Fed đã phải buộc lòng “quốc hữu hóa” 2 ngân hàng chuyên tài trợ địa ốc Freddie Mac và Fanny Mae vì sợ phản ứng dây chuyền trong khu vực địa ốc. Quỹ Fed và BTC đã để cho ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản. Một tuần sau đó Quỹ Fed lại quyết định cứu công ty bảo hiểm lớn nhất của Mỹ, AIG qua một khoảng tiền vay trị giá 85 tỉ đôla. Hơn nữa Quỹ Fed giúp cứu vớt ngân hàng đầu tư Merrill Lynch bằng cách đứng đằng sau giúp Bank of America mua lại ngân hàng đầu tư này.

Việc này đã gây rối loạn trong thị trường tài chính. Trong một tuần, các ngân hàng trung ương Mỹ, Anh, Âu châu, Thụy sĩ, Nhật, vv… đã phải đổ nhiều tỷ đô vào thị trường tài chính ngân hàng trên thế giới để giúp lấy lại “niềm tin”. Quỹ Fed và các ngân hàng trung ương EU, Nhật, Canada, Thụy sĩ và Anh đã bơm trên 200 tỷ vào hệ thống ngân hàng thế giới để họ có thể tiếp tục cho vay trong khi thị trường tài chính Nga đã phải đóng cửa trong nhiều ngày và Ngân hàng trung ương Nga cũng phải đổ trên 20 tỷ để bảo vệ thị trường tài chính Nga.

Theo phản ứng dây chuyền, thị trường tài chính thế giới gặp khó khăn và các thị trường tài chính – chứng khoán tại Mỹ, Âu châu và Á châu đã sụp theo thị trường New York. Tại Anh nhiều ngân hàng dính vào địa ốc cũng bị phá sản và chính phủ Anh phải quốc hữu hóa hay giúp các ngân hàng khác mua lại.  

Hiện nay lãnh đạo các đảng tại Quốc Hội (QH) cùng các thành viên của Chính phủ Bush đang tiếp tục bàn thảo về các biện pháp cứu thị trường tài chính do Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson Jr. và chủ tịch Fed ông Ben Bernanke đề xuất cứu “niềm tin” vào thị trường tài chính với một khoản tiền khổng lồ là 700 tỷ đô.

Tổng thống Hoa Kỳ thì nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo vệ nền kinh tế và ông nói: "Nền kinh tế Hoa Kỳ đang đối mặt với những thử thách chưa từng có” và các đảng đang tranh cãi về kế hoạch của chính phủ dùng hàng trăm tỷ đôla tiền đóng thuế của dân để mua nợ xấu trong lĩnh vực tài chính. 

Đây là một đề tài chuyên môn và khô khan. Tác giả sẽ cố tóm tắt vào dưới 6000 chữ. Tác giả đã từng làm cho Viện Nghiên Cứu của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu tại Tokyo về các đề tài khủng hoảng ngân hàng và đã làm nhiều năm tại Indonesia giúp tái thiết khu vực ngân hàng Indonesia qua việc giả quyết các món nợ xấu hậu do khủng hoảng tài chính Á châu. 

Bài này có mục đích thông tin cho độc giả về

1) Tài trợ địa ốc và các khó khăn nó gây ra;

2) Khủng hoảng tài chính ngân hàng và quy định Basle;

3) Tại sao cứu AIG?

4) Ảnh hưởng trên thế giới và cố gắng của chính phủ Bush và BT tài chính và Quỹ dự trữ Fed và QH qua kế họach cứu vớt thị trường tài chính là cần thiết và bằng cách nào?



1. Tài trợ địa ốc tại Mỹ - liên quan giữa giá nhà, nợ địa ốc, ngân hàng đầu tư và bảo hiểm - ảnh hưởng dây chuyền kinh tế và thế giới

Thường khi một người đi mua nhà thì người này phải có đủ điều kiện “credit” hay khả năng trả các món nợ ngân hàng. Khi người đi vay tiền mua nhà có “tín dụng tốt” họ sẽ được hưởng “prime rate hay lãi suất ưu” dành cho khách hàng tốt. Việc này đòi hỏi các ngân hàng làm việc - kiểm tra các rủi ro một cách nghiêm chỉnh.

Khi một ngân hàng cho vay về đia ốc, thì họ phải giữ các món nợ (mortgage) trong sổ sách của họ và do đó không thể cho vay thêm vì cơ quan giám sát ngân hàng của Fed đòi hỏi có các tỷ lệ tài chính và sổ sách một cách nghiêm khắc. Muốn có thêm phương tiện cho vay thêm, các ngân hàng sẽ bán các nợ trong sổ sách của họ cho các ngân hàng chuyên về địa ốc “Fannie Mae” và “Freddie Mac” để chuyển các món nợ qua các ngân hàng này và do đó có thêm khả năng tài trợ (refinance).

Để tăng lời và có thêm thương vụ, trong thập niên 90 các ngân hàng địa ốc chấp nhận cho những người đi mua nhà không đủ điều kiện “credit” hay nói tóm tắt là không đủ điền kiện cũng đựợc mua nhà nhưng trả lãi suất cao hơn - và họ gọi “làm ăn kiểu mới” này là sub-prime. Tại California, một số người chưa đủ điều kiện mua nhà đã sắp hàng đi mua nhà làm cho giá tăng một cách “kỳ cục”. Kiểu làm việc mới này các người bán nhà có lợi, người bán nhà thấy giá tăng một cách rất cao, việc này cũng giúp những người xây nhà tăng việc, v.v... Trong việc này ai cũng có lợi. Tại sao họ có thể đi mua nhà được và các ngân hàng có thể làm việc này?

Vào thập niên 90 và tiếp đó, các ngân hàng đầu tư đã gây dựng nhiều loại tín dụng mới về địa ốc. Hai tín dụng mới về địa ốc là CDO (Collateral Debt Obligations) và CLO (Collateral Loan Obligations) – hay dùng chấp nợ (các nợ được gói ghém và bán ra cho các nhà đầu tư qua các trái phiếu đầu tư). Các mớn nợ trở thành các trái phiếu đầu tư! 
 
Các ngân hàng đầu tư như Merrill Lynch, Bear and Stearn, v.v... mua các nợ ngân hàng (mortgage), “gói ghém các nợ sub-prime” thành CDO hay CLO – nay trở thành trái phiếu đầu tư rồi bán cho các nhà đầu tư trên thế giới hay các ngân hàng đầu tư trên thế giới. Khi gói các món nợ địa ốc dưới hình thức CDO hay CLO, không ai có thể biết là các món nợ này tốt hay không – khó có thể đánh giá món nợ.

Việc biến các tín dụng thành các phiếu đầu có hai hậu quả:

- Các ngân hàng cho vay địa ốc không xét các hồ sơ một cách kỹ càng, “làm tháo” vì họ biết là các món nợ sẽ bán cho các ngân hàng đầu tư – gói thành CDOs – rồi bán ra thị trường đầu tư. Như vậy đa số ngân hàng tránh làm việc đánh giá “rủi ro”.

- Các nhà đầu tư/ngân hàng đầu tư trên thế giới sẽ mua các trái phiếu này vì lời cao (và vì họ mua bảo hiểm AIG) do đó bớt lo về rủi ro.  

Các ngân hàng tiếp tục làm việc này khi trị giá nhà tăng trong nhiều năm. Các nợ prime hay sub-prime trở thành CDOs hay CLOs do đó không còn trong sổ sách ngân hàng, đúng tỷ lệ các cơ quan giám sát ngân hàng Fed mong muốn. Nhưng khi lãi suất tăng, các người vay tiền mua nhà không đủ khả năng trả nợ, thì các CDOs và CLOs thành các nợ xấu.

Địa ốc là nguyên nhân chính của khủng hoảng tài chính nhưng trong một thế giới toàn cầu hóa, các định chế - tổ chức tài chính rất dễ bị lung chuyển vì những hợp đồng tài chính ràng buộc các ngân hàng với nhau – qua các tín dụng phụ gọi là derivatives. Khi các ngân hàng mua những dụng cụ tài chính như CDOs, CLOs và các derivatives bảo hiểm cho những ngân hàng về rủi ro sụp nợ. Derivatives là những dụng cụ tài chính chia sẻ rủi ro tài chính nhưng nó cũng gây lớn thêm những rủi ro địa ốc đã làm cho Bear Stearns và Lehman brother sụp đổ.

Các ngân hàng đầu tư và các cơ quan tài chính Hedge fund không ở dưới sự giám sát của Fed mà dưới sự giám sát của SEC (Security Commission Commission - Cơ quan giám sát chứng khoán) vì vậy có nhiều sơ hở trong việc giám sát đầu tư.

Vì vậy các ngân hàng địa ốc có thể bán các món nợ của họ cho các ngân hàng đầu tư như Lehman Brothers, Bear and Stearns, Merrill Lynch, v.v… Các ngân hàng này gói ghém các món nợ “prime hay sub-prime” thành các phiếu đầu tư CDOs hay CLOs và bán ra. Các ngân hàng đầu tư này luôn hoạt động theo nguyên tắc “rủi ro cao, phần thưởng lớn” do đó kiếm lời tối đa.

Khi các ngân hàng Âu châu mua các CDOs hay CLOs đó, họ cũng mua các bảo hiểm và do đó AIG cũng nằm trong dây chuyền này. Trong việc này và trong nhiều năm các lãnh đạo ngân hàng đầu tư đã lời rất nhiều – khi giá nhà tiếp tục tăng – và đã lời rất nhiều.

Khi “bong bóng” địa ốc bắt đầu xì, giá nhà – và giá trị món nợ nhất là các “sub-prime” bị ảnh hưởng (vì các người vay tiền đi mua nhà không có khả năng trả nợ thì lãi suất tăng – thì sub-prime ngày càng trở thành gánh nợ cao).

Việc này gây khủng hoảng tài chính và hệ thống tài chính thế giới bị kẹt. Tại sao? Bình thường thì các ngân hàng vẫn cho nhau vay tiền rất ngắn hạn (1 ngày đến 2 ngày). Các ngân hàng cho vay lẫn nhau với lãi suất tương đương với lãi suất Quỹ Fed. Như khi mất “niềm tin” họ không biết là các ngân hàng có nợ xấu địa ốc có mang nhiều CDOs hay không, có khả năng thanh toán hay không cho nên các ngân hàng ngưng cho vay lẫn nhau. Vì vậy, hệ thống tài chính thế giới bị kẹt. Do đó các ngân hàng trung ương phải bơm tiền ngắn hạn cho hệ thống tài chính để họ tiếp tục có khả năng cho vay.

Khi bong bong xì, thì trị giá các món nợ CDOs và CLOs giảm trị giá và các ngân hàng bắt đầu lỗ cho nên các ngân hàng đòi bảo hiểm trả tiền. Như vậy ta thấy ảnh hưởng giây chuyền từ địa ốc, đến việc bán sub-prime trên thế giới và bảo hiểm làm kẹt dây chuyền hệ thống tài chính, gây sự mất “niềm tin”.    

Trong nhiều năm qua các ngân hàng đầu tư đã hái được quá nhiều lợi lộc khi thị trường địa ốc hưng thịnh. Giờ đây họ phải chấp nhận đi xuống.

Thị trường tài chính thế giới lâm vào “khủng hoảng” vì phản ứng dây chuyền.

2. Khủng hoảng tài chính ngân hàng và quy định Basle 2 về ngân hàng

Trong quá khứ gần đây, vào năm 1984, ngân hàng Continental Illinois đã phá sản vì các nợ xấu và chính phủ đã phải bỏ ra 3,5 tỷ để mua các nợ xấu và qua việc này đã quốc hữu hóa ngân hàng này. Sau đó có các xì-căng-đan về vụ các ngân hàng tiết kiệm Saving & Loans trong đó chính phủ mất nhiều năm mới giải quyết được.

Tại Mỹ người gởi ngân hàng được cơ quan bảo hiểm ngân hàng bảo hiểm đến mức 100.000 cho mỗi trương mục. Như vậy người gởi tiền được bảo hiểm an toàn.

Nhưng mỗi khi chính phủ đứng ra giúp giải quyết các ngân hàng thì ban lãnh đạo quản trị các ngân hàng này sẽ không cố gắng - cẩn thận nghĩ là TBTF (Too Big to fail – quá lớn để thất bại). Việc chính phủ đứng ra giải quyết sẽ đặt vấn đề “Moral hazard – rủi ro tinh thần mỗi khi chính phủ đứng ra giúp”.

Trong một kinh tế thị trường khi một ngân hàng cho vay thì họ kiếm lời. Nhưng khi họ cho vay họ phải đánh giá đúng mức “rủi ro tài chính - khả năng trả nợ”, của người đi vay trước khi họ cho vay. Nếu không làm việc này tốt thì ngân hàng sẽ mang nhiều tín dụng xấu và những người trong ban quản trị là những người phải trả giá đầu tiên phải chịu trách nhiệm – bị phá sản.

Mỗi khi Quỹ Fed cứu vớt các ngân hàng như trường hợp Freddie Mac và Fanny Mae, thị trường thấy là “rủi ro tinh thần” được chính phủ gánh gây thêm tình trạng gọi là “Moral Hazard.”

Trong việc này, cơ quan giám sát địa ốc FHFA (Federal Housing Finance Agency) đã cho thay thế ban quản trị của Freddie Mac và Fanny Mae. Fannie và Freddie là hai ngân hàng lo về địa ốc và chính phủ “thay thế ban quản trị” qua ngã “conservatorship”. Nếu lỗ địa ốc quá lớn, nó sẽ cao hơn vốn của ngân hàng và không cho phép họ tiếp tục hoạt động ảnh hưởng nặng nề đến khu vực địa ốc tại Mỹ. Khi chính phủ quản lý hai ngân hàng này cố cho lãi suất địa ốc không lên quá cao để giúp chính sách “người dân có nhà” phải đi đôi với việc rủi ro lỗ lãi vì các nợ không trả.

Việc này làm cho các chủ ngân hàng không mấy lo đánh giá đúng mức các rủi ro và do đó cho vay bừa bãi, “nếu thất bại thì khu vực công sẽ lãnh trong khi nếu lời thì khu vực tư hưởng”. Đó là tình trạng trong 8 hay 9 năm vừa qua, vì thiếu giám sát và vì vậy nay Quỹ Fed và Bộ tài chính không muốn lúc nào họ cững cứu vãn các ngân hàng suy sụp, vì vậy, Quỹ Fed để Lehman Brothers phá sản.

Trên thế giới đều có nhiều quy định giám sát ngân hàng như quy chế Basle 1 và nay có quy chế Basle 2 trong đó các ngân hàng phải theo để giảm rủi ro tài chính.

Quy định Basle 2 nhằm đòi hỏi các ngân hàng phải giữ một số tỷ lệ tài chính để tránh rủi ro, tỷ lệ giữa vốn và cho vay, tỷ lệ rủi ro tài chính, v.v… Các nước kể cả Hoa kỳ đều theo quy định này.

Tiếc thay, “khủng hoảng tài chính” này không phải là khủng hoảng “ngân hàng” mà là khủng hoảng do các định chế “ngân hàng đầu tư” mà việc giám sát là do cơ quan SEC đã không làm việc của họ.

Cơ quan giám sát SEC không làm nhiệm vụ đúng mức

Chủ tịch SEC ông Christopher Cox công nhận là việc giám sát và theo dõi Bear Stearns đã không đúng. Ông đã công nhận là việc giám sát các cơ quan tài chính tại Wall Street (các ngân hàng đầu tư và các cơ quan Hedge Fund) đã làm tăng gia khủng hoảng tài chính và SEC đã không làm nhiệm vụ giao phó.

Các ngân hàng đầu tư theo một chương trình giám sát “tự nguyện” và theo Tổng thanh tra của SEC chương trình này không thành công. Như vậy là khủng hoảng tài chính một phần là do cơ quan SEC không làm nhiệm vụ của mình theo dõi giám sát các cơ quan tài chính. Ngược lại trong vụ khủng hoảng tài chính này, cơ quan giám sát ngân hàng Fed đã làm nhiệm vụ của họ. 

Cơ quan SEC giám sát (một cách tự nguyện) các ngân hàng đầu tư Bear Stearns, Lehman Brother, Merrill Lynch, Morgan Stanley và Goldman Sachs. Nay JPMorgan mua lại Bear Stearns, Lehman Brothers phá sản, Merrill Lynch bị Bank of America mua, trong khi Morgan Stanley và Goldman Sachs trở thành ngân hàng do đó đặt dưới sự giám sát của Fed.

Theo luật Gramm-Leach-Bliley Act, SEC giám sát các ngân hàng đầu tư và các định chế dính vào thị trường chứng khoán, nhưng không giám sát các chi nhánh. Vào 2004, SEC giám sát các chi nhánh ngân hàng đầu tư tại nước ngoài trên bình diện “tự nguyện” cho nên các ngân hàng này vay rất nhiều mà không cần có vốn cao.

Nay SEC chỉ còn giám sát các công ty chứng khoán (brokerage and security firms) trong khi Fed giám sát các ngân hàng hay công ty chứng khoán vay tiền Fed. Khủng hoảng tài chính là do SEC không hoàn thành nhiệm vụ của họ.


Bài do tác giả gửi Đàn Chim Việt