Danchimviet - http://danchimviet.com
Quân tử hòa nhi bất đồng
http://danchimviet.com/articles/457/1/Quan-t-hoa-nhi-bt-ng/TrangPage1.html
Đoàn Thanh Liêm

 
Tác Giả: Đoàn Thanh Liêm
Đăng lên/Published on 27.09.08
 
Con đường tranh đấu nhân bản và nhân ái đó dĩ nhiên là rất khó khăn và đòi hỏi nhiều kiên trì nhẫn nại, chứ không thể đơn giản dễ dàng được. Nhưng mà chúng ta chẳng thể vì quá nôn nóng mà “đốt giai đoạn”, gạt đi những kinh nghiệm đắt giá của cha ông từ ngàn đời đã truyền lại cho thế hệ ngày nay.

Niên khóa 1953-54, tôi học ban toán lớp đệ nhất trường Chu văn An, Hà Nội. Thầy Nguyễn ngọc Cư dạy chúng tôi về môn Pháp văn và Triết học. Về triết học, ban toán chỉ học riêng có phần Luận lý học (logique), mà cũng chỉ giới hạn về đề tài “luận lý của khoa học” (logique des sciences), chứ không học đầy đủ, chuyên sâu về môn luận lý. Tôi vẫn còn nhớ thầy Cư giảng giải khá rành mạch về cách thức “phê bình triết học” (critique philosophique). Thầy nói là trong việc phê bình triết học, các triết gia người ta phân tích lý luận rất chặt chẽ, khúc chiết, các quan điểm đối chọi nhau đâu ra đó. Nhưng mà tuy lập trường hai phía có đối nghịch nhau đến đâu, người ta cũng không bao giờ lại mạt sát, chỉ trích lăng nhục lẫn nhau. Thầy Cư còn viện dẫn câu chữ nho “Quân tử hòa nhi bất đồng”, tức là người quân tử dù có bất đồng về ý kiến, về lập trường gì đi nữa, thì vẫn giữ được sự hòa nhã, lịch sự với nhau. Thầy còn trích câu tiếng Pháp là “ Unite’ dans la Diversite’ “, tức là “thống nhất trong sự dị biệt”.

Mấy năm trước đây, khi nói chuyện với anh luật sư Nguyễn hữu Thống ở San Jose’, thì tôi lại được nghe anh ấy nói là : “Quân tử bất đồng nhi hòa”, tức là có ý nhấn mạnh đến khía cạnh khác biệt quan điểm, đối chọi về lập trường, mà người quân tử vẫn giữ được cái sự hòa khí, thuận thảo với nhau. Anh bạn Earl Martin xưa vẫn làm việc từ thiện nhân đạo ở Quảng ngãi hồi trước 1975, lại có tên tiếng Việt là anh Kiến, thì anh dịch ra tiếng Anh là : “Civility even in disagreement”. Tôi thấy câu tiếng Anh này lại sát nghĩa với câu “ Quân tử hòa nhi bất đồng” như người ta hay nói, mà cũng đúng như Thầy Cư đã dậy chúng tôi trên 50 năm trước ở Hà Nội.

Tôi vẫn còn nhớ vào năm 1960, khi du học tu nghiệp tại Mỹ, thì có lần trong một buổi thuyết trình giới thiệu về tôn giáo tại Mỹ cho các sinh viên ngoại quốc chúng tôi, một diễn giả trong số những đại diện Tin Lành, Công giáo và Do thái giáo có mặt bữa đó, đã nói : “We agree to disagree”, tức là các tôn giáo đã thỏa thuận với nhau rằng họ vẫn tôn trọng sự khác biệt, bất đồng lẫn nhau. Điều này theo ngôn ngữ ngày nay, thì được gọi là “quyền được khác biệt” (the right to be different) đối với người khác hay là đối với tập thể. Đó là biểu hiệu của sự tiến bộ trong sự tôn trọng mỗi cá nhân là một thành phần trong cộng đồng, bảo vệ nhân phẩm và nhân quyền của mỗi người và của mọi người trong xã hội ngày nay.
 
Theo dõi các án văn chung quyết của Tối cao Pháp viện Mỹ, ta cũng thấy là nhiều khi một quyết định của Tòa án này chỉ được thông qua với một đa số rất khít khao là 5/4, tức là trong tổng số 9 thẩm phán, thì chỉ có 5 vị là tán thành quan điểm được coi là thắng thế, dù chỉ với đa số hơn có một phiếu duy nhất. Nhưng Tối cao Pháp viện vẫn cho công bố ý kiến của phe thiểu số bị thua này, với tiêu đề là “Ý kiến bất đồng” (Dissent). Và sau này chính cái lập trường “dissent” này có khi lại trở thành thắng thế trong một án lệ khác. Cái truyền thống “coi trọng ý kiến bất đồng này” đã là một nét son của nền Tư pháp Hoa Kỳ từ bao nhiêu năm nay.

Trên phạm vi toàn cầu, thì kể từ năm 1948 tức là đã 60 năm nay khi Liên hiệp quốc ban hành “Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền”, các quốc gia đã hợp tác với nhau để xây dựng được một bộ luật quốc tế về nhân quyền (The International Bill of Rights) cũng do Liên hiệp quốc ban hành vào năm 1976. Bộ luật Nhân quyền này bao gồm 3 văn kiện chính yếu, đó là : Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Hai Công ước quốc tế này được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua từ năm 1966, nhưng phải đến năm 1976 sau khi đa số các quốc gia thành viên phê chuẩn, thì văn bạn pháp luật này mới có hiệu lực cưỡng hành. Và bộ Luật Nhân Quyền đã được ban hành vào năm 1976.

Và riêng đối với Việt nam, thì chánh phủ Hà Nội đã ký kết gia nhập và tuân thủ hai công ước quốc tế này kể từ năm 1982. Như vậy về mặt nguyên tắc, thì Việt nam đã hội nhập với thế giới trong công cuộc tôn trọng và bảo vệ nhân quyền mà mọi quốc gia văn minh, tiến bộ ngày nay đều áp dụng đối với công dân của nước mình.

Nhưng trong thực tế, thì chánh phủ Hà Nội hiện vẫn còn tìm mọi cách hạn chế các sinh hoạt của mọi công dân nào muốn cải thiện tình trạng nhân quyền của mình, mà cốt yếu là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tôn giáo, tự do nghiệp đoàn v.v…Đảng cộng sản vẫn chưa chịu chấp nhận sự Đa nguyên về chính trị, mà vẫn còn duy trì địa vị độc tôn, độc quyền trong việc điều hành guồng máy nhà nước. Họ vẫn còn ngoan cố bấu víu vào mớ giáo điều Mác-Lênin mà nay đã quá lỗi thời, bị phá sản tại hầu hết các nơi trên thế giới rồi.

Vừa mới đây, Bản Phúc Trình về Nhân Quyền của Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng đã phải ghi nhận là chính quyền Hà Nội vẫn còn đàn áp, cầm tù những người tranh đấu bất bạo động cho Dân chủ, Tự do và Nhân quyền ở Việt nam. Các tổ chức quốc tế khác như Amnesty International, Human Rights Watch, Reporters sans Frontieres v.vv…, thì cũng đều ghi nhận về sự đán áp, trù dập như vậy đối với các người bất đồng chính kiến đối với đảng cộng sản. Như vậy rõ rệt là giới lãnh đạo cộng sản VN đã và đang đi ngược lại với truyền thống chính nhân quân tử xưa nay của dân tộc ta, và họ cũng đi ngược lại với chiều hướng nhân ái và nhân quyền của thế giới văn minh tiến bộ ngày nay.

Vì thế, những người thực sự quan tâm đến hạnh phúc của dân tộc thì phải tìm mọi cách khôi phục lại cái truyền thống nhân bản nhân ái vốn đã được thấm nhuần nơi tầng lớp sĩ phu quân tử là thành phần tinh hoa của dân tộc chúng ta từ ngàn xưa. Cha ông chúng ta vẫn thường dậy: “Lượng cả bao dung”, tức là người trượng phu quân tử thì phải có lòng bao dung, đại lượng phóng khoáng, chứ không thể nhỏ nhen, chấp nhất, hận thù như kẻ tiểu nhân được. Công cuộc phục hồi đạo lý này đã được Cụ Phan Châu Trinh kêu gọi từ đầu thế kỷ 20 với khẩu hiệu: “Nâng cao Dân trí, Chấn hưng Dân khí, Cải tiến Dân sinh”. Và mới gần đây Cụ Đỗ Vạng Lý, Vị Cựu Đại sứ và hiện là một Đạo trưởng của Đạo Cao Đài cũng đã lên tiếng kêu gọi là phải “Tranh đấu cho Tự do Dân chủ trong Đạo lý”, chứ không được dùng phương thức bạo lực mà xây dựng đất nước được.  

Con đường tranh đấu nhân bản và nhân ái đó dĩ nhiên là rất khó khăn và đòi hỏi nhiều kiên trì nhẫn nại, chứ không thể đơn giản dễ dàng được. Nhưng mà chúng ta chẳng thể vì quá nôn nóng mà “đốt giai đoạn”, gạt đi những kinh nghiệm đắt giá của cha ông từ ngàn đời đã truyền lại cho thế hệ ngày nay. Thế giới ngày nay thật đa nguyên đa dạng và mọi người đều mong ước được sống trong cảnh thanh bình, thịnh vượng. Và chúng ta cần phải truyền lại cho thế hệ kế tiếp cái ngọn lửa nhân ái nồng nàn thắm thiết của tầng lớp sĩ phu quân tử trong truyền thống tinh tuyền đích thực của dân tộc.Chỉ có tấm lòng yêu thương rất mực như vậy, con người mới sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh thử thách  để mà kiến tạo được một xã hội tốt đẹp như lòng mong muốn từ bao lâu nay.

Xin nhắc lại: Chúng ta vẫn chấp nhận sự khác biệt, bất đồng ý kiến của nhau về nhiều mặt tôn giáo, chính trị, sở thích về thẩm mỹ văn hóa v.v… Nhưng chúng ta luôn luôn tôn trọng và hòa nhã lịch sự với nhau. Đó chính là truyền thống nhân bản nhân ái rất tốt đẹp, rất đáng tự hào của cha ông chúng ta.

© 2008 www.danchimviet.com