Chỉ tại mùi hoa dứa (Kết)
http://danchimviet.com/articles/441/1/Ch-ti-mui-hoa-da-Kt/TrangPage1.html
Tác Giả: Huỳnh Ngọc Tuấn
Đăng lên/Published on 25.09.08
Cuộc
sống bấy giờ người ta chỉ lo hai việc: một là gạo nấu, hai là củi đốt,
còn mọi cái là phụ, nhưng chỉ với hai nhu cầu này thôi đã khó thực
hiện. Tôi nhớ đến câu hát ru mà tôi nghe được hồi nhỏ: “Nhớ thời củi
quế, gạo châu…”
Như vậy là đám cưới của tôi và Trang bé nhỏ của tôi diễn ra trong lặng lẽ, đơn giản. Nhưng chúng tôi rất hạnh phúc. Sau đám cưới, tôi đưa Trang đi thăm hết họ hàng nội ngoại, và bạn bè thân thiết. Sau đó, thì tính đến chuyện Trang phải làm gì, vì Trang đã có thai không thể tiếp tục công việc đồng áng được, theo ý kiến của mẹ tôi. Còn buôn bán ở chợ thì bán cái gì đây? Cái chợ làng nhỏ tí và nghèo nàn. Hơn nữa, chúng tôi không xin được giấy phép để buôn bán, chỉ có bán chui một vài gói thuốc lá, một vài gói đường cát, vài lít dầu phộng và rượu.Tôi vẫn đi làm như mọi khi. Và Trang, chiều chiều vẫn đón tôi trên con đường đất nhỏ hẹp. Cuộc sống của chúng tôi vẫn có một cái gì đó khác với những cặp vợ chồng nông thôn khác. Thỉnh thoảng, tôi đưa Trang đi chơi và chụp cho nàng vài kiểu ảnh bằng cái máy ảnh cũ mua từ trước năm 1975.Một buổi chiều khi tôi về, Trang đợi tôi ở trước sân với một đôi quang gánh và cào cỏ. Trang chỉ chiếc cào cỏ:- Anh đi với em.Tôi hơi ngạc nhiên:- Làm gì vậy em?- Cứ đi với em.Tôi đi theo nàng ra đồi phi lao. Bây giờ thì tôi hiểu. Rừng phi lao thấp lè tè và còi cọc. Trang cào lá trên mặt đất. Tôi gom lại cho vào quang. Buổi chiều yên tĩnh rừng phi lao vi vu gió. Đó là buổi chiều mùa hạ năm 1984.Cách đây hai mươi năm năm 1964, tôi cũng đã từng theo mẹ ra rừng phi lao gần nhà tôi để cào lá. Lúc đó chiến tranh ác liệt, còn bây giờ là thời bình yên. Nhưng đã hai mươi năm, thế mà người dân nghèo Việt Nam ở nông thôn cũng phải dùng lá phi lao làm củi đốt. Thế giới đang thay đổi chóng mặt nhưng ở đây mọi thứ vẫn vậy. Tôi bảo Trang mua củi đốt cho đỡ vất vả. Trang không chịu vì sợ tốn tiền. Cuộc sống bấy giờ người ta chỉ lo hai việc: một là gạo nấu, hai là củi đốt, còn mọi cái là phụ, nhưng chỉ với hai nhu cầu này thôi đã khó thực hiện. Tôi nhớ đến câu hát ru mà tôi nghe được hồi nhỏ: “Nhớ thời củi quế, gạo châu…”. Khi lớn lên sống trong thời Việt nam cộng hoà sung túc, tôi nghĩ cái thời ấy đã vĩnh viễn đi qua. Nhưng nghiệt ngã thay, hiện nay năm 1984 tôi đang phải đối diện với nó.Nhớ lại khi tôi còn đang học phổ thông, tôi phải thức dậy từ 3h sáng để đến xưởng gỗ, xếp hàng mua mùn cưa. Tôi tưởng mình là người đến sớm nhất, không ngờ trước tôi đã có một hàng người dài tăm tắp. Có khi may mắn thì mua được, nhưng nhiều khi đến lượt mình thì đã hết. Vậy là công cốc, đã thế lại còn bị muỗi đốt nát cả cổ, cả chân. Nhưng những đêm như vậy, cũng có cái vui của nó. Người ta kể cho nhau nghe những chuyện khôi hài, và cả châm biếm cay độc: chuyện Đông, chuyện Tây, chuyện ở Việt Nam, chuyện ở Liên Xô. Nhưng tôi nhớ nhất là câu chuyện này: Có một lần Preznef đi dạo chơi gặp một người bán dưa hấu. Vị Tổng Bí Thư của Đảng Cộng Sản Liên Xô muốn mua dưa nhưng ngặt một nỗi: người bán dưa chỉ có một trái. Preznef hỏi:“Anh chỉ có một trái làm sao tôi chọn đây?”. Người bán dưa bình thản trả lời: ”Ông cứ chọn đi, cũng như tôi chọn ông vậy”. Những lúc như vậy, tôi nhận ra một điều: trong bất cứ hoàn cảnh nào,con người cũng tạo ra niềm vui, tạo ra tiếng cười, cho dù phải cười trong nước mắt.**
Mùa đông năm 1984, vợ tôi bắt đầu chuẩn bị mọi thứ có thể để Thục Vy ra đời. Những chiếc áo cũ - quần cũ của gia đình được cắt lại, may tã, và quần áo trẻ sơ sinh. Tôi nhìn vợ chăm chỉ, có khi đến khuya để may mấy chiếc áo nhỏ bé tí. Tôi nhìn những chiếc áo bé tí ấy, lòng cảm thấy vui vui, trào dâng một cảm xúc lạ lùng mà tôi chưa bao giờ có.Vợ tôi chuẩn bị cả những thứ cây thuốc mà sản phụ cần dùng, và than - rất nhiều than. Tôi thấy Trang như một con chim, tha từng cọng cây nhánh cỏ để chuẩn bị cho việc sinh nở, kiên trì và chậm rãi. Mọi thứ cần dùng đã tạm đủ. Và mỗi chiều, tôi vẫn thấy Trang ngồi bên vệ đường đầy cỏ để chờ tôi về. Bây giờ thì Trang trở nên nặng nề nhưng khoẻ mạnh. Tháng mười âm lịch mưa tầm tã. Những cơn mưa lớn và kéo dài, nước sông lên rất cao, cánh đồng trước nhà mấy ngày trước còn xanh mượt, lúc bây giờ chỉ còn lại một khoảng mênh mông nước bạc. Người dân đi bắt cá, ánh sáng đèn manchon và những bó đuốc tre sáng rực ngoài bờ đê. Tôi rất muốn đi bắt cá với những người hàng xóm, nhưng ngại không biết Trang trở dạ lúc nào nên không đi. Ở nhà, tôi mở đài BBC và VOA, chiếc radio cũ kĩ mất sóng liên tục, thỉnh thoảng Trang lại nhắc tôi:- Nhỏ thôi anh, không người ta nghe thì phiền to.Tôi vặn nhỏ lại - mà gần như áp tai vào máy mới nghe rõ được.Một buổi chiều, Trang cảm thấy đau bụng, tôi đưa Trang xuống trạm hộ sinh của xã. Trạm hộ sinh là một căn nhà ba gian, lợp ngói, có một nhà bếp nhỏ xíu, một giếng nước trong vắt, nằm khuất dưới tán những bụi tre. Những chiếc giường gỗ ọp ẹp, bẩn thỉu và rất nhiều rệp (những năm đầu của thập niên 80,r ệp là một vấn nạn nan giải ). Gian phía trước là phòng làm việc của người hộ sinh (một phụ nữ khoảng 60 tuổi gầy như que củi, da trắng và nói hơi nhiều). Phòng sinh và phòng khám là một, Trang vào đó để khám. Nhà hộ sinh lúc này không có ai, chỉ có hai đứa bé - cháu của người nữ hộ sinh già. Trong gian thứ ba của căn nhà là nơi ở của sản phụ. Ở đó, có mấy người phụ nữ đã sinh.Tôi đi một vòng xem xét. Trong lòng thấy không yên tâm. Ở đây chẳng có gì hết. Nếu có thì làm sao, mọi cái ở đây đều cũ kĩ. Khi đã khám xong, tôi vào chào bà để nói chuyện xã giao. Bà tiếp tôi cởi mở, chắc có lẽ là vì lần đầu tiên gặp tôi. Bà nói với tôi:- Không sao, chắc cũng hai ngày nữa.Tôi đưa Trang về, trong lòng hoang mang vô cùng. Không thể không lo lắng, ở đây gần như không có gì hết. Tôi nói với Trang:- Hay là về Tam Kỳ, đến bệnh viện sinh an toàn hơn.Nhưng vợ tôi lại không muốn về Tam Kỳ, vì sợ tôi vất vả, còn ở đây có mẹ và chị Thu lo lắng thì tốt hơn. Tôi chẳng có kinh nghiệm gì, vợ tôi nói cho tôi an tâm:- Anh yên tâm, em cũng như mẹ, sinh rất dễ. Hơn nữa, bà đỡ ấy rất có kinh nghiệm, chưa có việc gì đáng tiếc xẩy ra, những trường hợp sinh khó bà ấy vẫn thành công - mẹ tròn con vuông.Tôi lại chở Trang về. Đến nhà, Trang vẫn ăn cơm bình thường, tuy vẫn còn đau nhẹ nhẹ. Đến mười giờ đêm, Trang lại đau, và lần này thì mỗi lúc một đau dữ. Tôi dẫn Trang đến trạm hộ sinh. Trang đi rất khó khăn nhưng không còn cách nào khác Mưa lâm thâm. Trời tối như mực. Chiếc đèn pin trong tay tôi run bần bật. Rất may nhà hộ sinh chỉ cách nhà 2 km. Cuối cùng thì cũng đến, nhưng không có ai ở đó. Tôi hỏi thì được một người con lớn của bà đỡ cho biết:- Mẹ em đi sinh cho chị Thanh ở bên kia sông, chắc cũng sắp về.Nghe xong, tôi choáng váng đứng không vững nữa. Chị Thanh là con dâu của một quan chức có quyền nhất trong xã. Nhưng khi thấy vợ tôi đâu quằn quại thì anh ta đề nghị cùng đi với tôi ra bờ sông để gọi mẹ anh. Tôi cảm ơn anh ta rối rít. Tôi nhờ mẹ vợ coi sóc Trang, để tôi cùng đi với anh ta. Tôi không còn biết mình đi đâu trong đêm tối đen như mực, mệt mỏi, hoàn toàn xa lạ. Tôi ngã nhào mấy lần vì vội theo anh ta. Đi ngoằn ngoèo một lúc thì đến bờ sông. Tôi thấy ánh đèn sáng bên kia sông. Anh ta thật tốt bụng. Anh ta ra hiệu bằng đèn pin và gào lên rất to để gọi mẹ… Một lần, hai lần, ba lần không thấy ai trả lời tôi càng cuốn lên. Miệng khô khốc, cổ họng như hẹp lại. Tôi kêu thật to vài tiếng nhưng chẳng thấy đâu. Anh ta lại gào lên (ít có người giọng khoẻ như vậy) vài ba lần nữa. Cuối cùng cũng có người đáp lại, nhưng tôi chẳng nghe được gì. Tôi hỏi anh ta:- Sao rồi anh?- Mười phút phút nữa mẹ em về, chờ một chút.Tôi không có đồng hồ, cũng chẳng biết tôi chờ bao lâu, nhưng lúc ấy tôi như người mất hồn. Tính mạng của vợ và con tôi đang phụ thuộc vào người phụ nữ này. Ánh đèn bin từ bên kia sông chập chờn lúc ẩn lúc hiện. Anh ta nói với tôi:- Mẹ em đang qua sông.Sao mà lâu thế, khúc sông hẹp thế kia mà? Tôi tự hỏi mình.Đầu óc tôi trống rỗng, chân run lên bần bật. Anh ta đứng dậy chạy ra bờ sông. Tiếng nước khua trong đêm tĩnh mịch nghe thật rõ. Anh ta kéo chiếc thúng chai vào bờ. Bà đỡ bước lên:- Sao mà nhanh thế? Con so mà.Bà vừa nói vừa đi thật nhanh. Tôi theo sau, và cảm thấy căng thẳng đã vơi đi vài phần. Tôi dìu vợ vào một căn phòng hẹp, ở đó có đặt một cái giường của sản phụ. Tôi đỡ Trang lên đó và đi ra theo yêu cầu của bà đỡ, chỉ còn lại bà đỡ và mẹ vợ tôi. Không có điện, căn phòng được thắp sáng bằng cây đèn tôi mang theo.Tôi ngồi ở chiếc ghế dài kê sát tường, nhìn ra bóng đêm. Tiếng la của vợ làm tim tôi co ép từng hồi. Ba mươi phút sau, tôi nghe tiếng trẻ con khóc rất to. Tôi chạy vào đứng ở ngưỡng cửa phòng hộ sinh. Trong ánh sáng của cây đèn dầu, tôi thấy đứa bé đỏ hỏn, nó khóc rất to. Sau khi chăm sóc cho bé, bà đỡ đặt nó lên một cái bàn, nó vẫn khóc. Mẹ vợ tôi đứng một bên trông coi bé. Rồi bà đỡ bình thản và tự tin làm những gì cần làm cho vợ tôi. Đến bây giờ,t ôi mới cảm thấy thán phục cái vẻ bình thản và tự tin của bà. Mọi việc bà làm chính xác và nhanh nhẹn.Trang ôm đứa bé vào lòng, vì không có xe đẩy nên tôi và mẹ Trang bế cả hai mẹ con về giường. Rồi tôi được bà đỡ “chỉ định” phải múc nước vào để dọn sạch phòng sinh. Tôi làm việc này rất nhanh và cũng không ý thức mình làm những gì ?! Đối với tôi, gánh nặng đã vơi đi bội phần. Chỉ còn một chút lo lắng nữa: những biến chứng hậu sản có thể có. Nhưng khi nhìn thấy Trang khoẻ mạnh và vui vẻ tôi cũng thấy yên tâm.Tôi mang đèn đến để xem bé thật kỹ. Bây giờ thì bé đang ngủ rất say, đôi môi nhỏ xinh xắn và đỏ mọng tươi tắn. Tôi thấy thật kỳ diệu. Bây giờ tôi đã có con: một sinh linh bé nhỏ, và là một con người mới xuất hiện trong gia đình tôi, trong cuộc đời tôi. Trong tôi đang dâng lên một tình yêu vô bờ, bây giờ đây, có một người đang cần tôi bảo vệ. Tôi thấy mình trở nên mạnh mẽ và tự tin vô cùng. Tôi hỏi vợ:- Em thấy khoẻ không?Trang cười và hỏi tôi sinh con gái anh có vui không?Với tôi con trai con gái cũng như nhau thôi, hơn nữa bé rất xinh. Tôi không có điều gì để mà không vui.- Anh rất vui, con trai con gái cũng là con anh. Em thấy bé thật xinh xắn phải không?Trang gật đầu. Tôi bảo:- Thôi em ngủ một chút đi, còn lâu mới đến sáng. Tôi ngồi trên ghế nhìn hai mẹ con ngủ thật là ngon. Đêm khuya thật yên tĩnh, thỉnh thoảng tôi kiểm tra xem có rệp cắn bé không? Ngọn đèn toả sáng đủ để tôi nhìn thấy một căn phòng tồi tàn và bẩn thỉu. Tôi thấy đau lòng. Con gái yêu quí của tôi lại được sinh ra trong hoàn cảnh tồi tệ như thế. Điều này thật không dự kiến nổi. Trời sắp sáng, tiếng gà gáy rộn lên ở nhà bên xóm nghe rất gần. Mẹ vợ tôi mang xuống rất nhiều thứ: cháo gà để cho Trang ăn lấy lại sức, quần áo cho Trang và cho bé, thuốc bổ mà tôi đã chuẩn bị từ trước, và tất nhiên là không thể quên một món quà cho bà đỡ. Tôi lấy cháo cho Trang ăn, thịt gà bóp muối tiêu thật cay, Trang ăn rất ngon miệng và nhiều.
Mẹ vợ tôi bảo:- Con về ngủ một chút đi,thức cả đêm rồi,với lại báo cho bà nội với các cô các bác biết luôn thể.Tôi “dạ” và chuẩn bị đi. Trước khi đi, tôi nhìn bé một chút và hôn vào bàn tay bé tí. Về nhà, tắm rửa lên giường nhưng không sao ngủ được. Đôi môi đỏ chói của bé, bàn tay bé tí, giấc ngủ say nồng. Bây giờ tôi đã làm bố. Thật kì diệu!© 2008 www.danchimviet.com