Thục Vy, trưởng nữ của tôi, hơi gầy một chút nhưng không sao. Gầy là vóc Vạc mà Trịnh công sơn đã lấy cảm xúc từ sự duyên dáng quí phái của một cô gái gầy guộc để viết: “Như cánh vạc bay” ở đó chúng ta thấy sự gầy guộc và yểu điệu thục nữ được liên tưởng và so sánh với sự thanh mảnh, mềm mại, thanh thoát của con vạc.
Thục Vy hay buồn và suy tư, so với tuổi cháu. Tôi thấy cháu hay thẫn thờ, mệt mỏi, cũng dể hiểu thôi, vì tuổi thơ của cháu đã trải qua những biến cố kinh hoàng: má ra đi trong sự đau đớn và oan nghiệt. Khi mới học lớp 1, tôi bị bắt và xa cháu trong 10 năm. Mười năm dài đằng đẵng trong nhà tù từ Nam ra Bắc. Nhưng sự bất hạnh của cuộc đời không làm Thục Vy khô khan hay lạnh lùng. Thục Vy rất nhạy cảm, thông minh và xinh đẹp. Không biết tôi có chủ quan không? Nhưng người cha nào chẳng vậy, con gái mình là nhất, cho dù là Tây Thi, Ngu Cơ hay Bao Tự…, tất cả những người cha đều thế, không còn ai trên cuộc đời này đẹp bằng con gái mình. Tứ đại mỹ nhân cũng không nghĩa lý gì trong con mắt người cha.
Hai mươi năm trước, ở một vùng quê nghèo duyên hải, nơi con sông Trường Giang êm đềm như một dải lụa phất phơ giữa một bên là cánh đồng hẹp bạc màu và một bên là rẻo cát như một vệt sơn trắng - đường kẻ phân cách giữa sông và biển, có một chàng trai từ phố thị vì sự mưu sinh vất vả, trôi dạt về vùng biển ấy. Chàng trai ấy đa tình và đầy mơ mộng. Cuộc sống nghiệt ngã, đã làm mất đi một chút phong lưu của chàng trai: quần áo bạc màu, sờn rách, với những vết loang lổ của dầu nhớt. Chàng trai đó có dáng dấp thư sinh và tâm hồn nghệ sĩ, tạm gác lại những vần thơ của Nguyễn Bính, của Đinh Hùng qua một bên, để làm thợ điện phục vụ cho những người dân đánh cá và hoà mình vào cuộc sống dân dã trong những ngày lặn lội ở vùng quê đó. Định mệnh đã an bài cho chàng thư sinh đó là tôi gặp được Trần Thị Trang - một cô gái nông thôn chất phác, nhân hậu nhưng cũng mạnh mẽ và quyết đoán. Và sự quyết đoán lớn nhất trong cuộc đời nàng là đã chung chia số phận long đong với tôi.
Mùa xuân…, một cái Tết nghèo nàn và túng bấn của mọi gia đình, không có áo mới, không có hội hè lễ lạc, không có rượu ngon và mứt, chỉ có nửa kg thịt mỡ, dưa hành, không có pháo chỉ có mấy đòn bánh tét gói suông toàn nếp. Nông thôn Việt Nam ngày đó tiêu điều xơ xác. Ở đâu tôi cũng thấy vẻ mệt mỏi, an phận, nhưng sự cởi mở và những câu chào hỏi là không bao giờ thiếu khi gặp nhau. Nhất là nụ cười trên khuôn mặt hốc hác của những người già và đôi má xanh xao của trẻ thơ vẫn rạng rỡ, những nụ cười thân tình và ấm áp với bất cứ ai dù quen hay lạ …Tôi chợt nghĩ: trải qua bao nhiêu biến cố của quê hương phải chăng nụ cười mà tôi gặp trên đường, là di sản của cha ông để lại.
Cái Tết đã qua tự bao giờ không ai hay biết, cũng có thể là nó bị lãng quên. Mồng hai Tết đã họp chợ …Trên bờ đê hẹp ven sông,các em nhỏ đang chăn trâu, những bóng dáng bé nhỏ lầm lui, nhếch nhác, những con trâu cũng gầy nhom vì thiếu cỏ, không có sáo, không có diều như những bức tranh Đông Hồ ngày xưa miêu tả, chỉ có những đôi vai gầy guộc và những chiếc nón lá tả tơi. Còn chợ quê thì lèo tèo dăm ba túp lèo lợp tranh xiêu vẹo. Hàng hoá chỉ là những nải chuối, những trái đu đủ cắt vội còn xanh, những mẹt cá rô, cá trê, cá lóc; vài ba cái trứng gà, trứng vịt.Người nông dân lúc đó không hề có một khái niệm gì về siêu thị hay Computer đang bùng nổ ở Phương Tây và các nước giàu có ở Á châu.
Tôi - một thư sinh nghèo trói gà không chặt đi về vùng quê. Tôi có đọc trong sách về “Đại Cách Mạng Văn Hoá” xảy ra ở Trung Quốc - những thanh niên trí thức bị “hạ phóng” về nông thôn để học tập nông dân. Tôi thì không phải như vậy, nhưng hoàn cảnh lúc bấy giờ, một thanh niên như tôi không có cơ hội để học hành và cống hiến. Tôi về nông thôn ven biển làm việc với ngư dân - những con người chất phác, hiền hoà. Tôi uống rượu với họ. Ở vùng quê này, cá nục, cá cơm, cá ngừ không thiếu, mực cũng dễ mua tuy có đắt một chút. Tửu lượng của tôi thấp cho nên tôi say nhào, mệt mỏi, rã rời, nhưng bù lại tôi được cảm tình của họ, vì đã uống hết mình với họ. Tôi sửa máy phát điện cho họ, họ trả cho tôi số tiền hậu hĩnh, so với lúc bấy giờ thu nhập của tôi cũng đủ sống. Tôi có thể mua được đôi dép Thái Lan, quần Jean và xà phòng Camay của Mỹ, vốn không rẻ chút nào so với thu nhập của người dân.
Vào một ngày biển động, tôi đi lang thang với một anh bạn. Buổi chiều đầy gió, tiếng sóng biển bên kia cồn cát ì ầm. Anh bạn nhỏ dẫn tôi vào nhà Trang. Nhà của Trang là một ngôi nhà ngói duy nhất trong thôn. Sau này tôi mới biết nó được xây bằng tiền của bà nội Trang dành dụm từ trước năm 1975. Trang lúc đó 17 tuổi, cao lớn và khẻo mạnh nhưng mà đen, rất đen. Trang ngại không muốn tiếp xúc với tôi, chắc là vì tôi là dân thành phố, trắng trẻo và thư sinh quá. Nhưng tôi đã quen khi nói chuyện với những người dân ở nông thôn. Không nhớ lúc ấy mình nói những gì, mà đã kéo Trang ra khỏi thế giới của nàng để ra tiếp chuyện cùng tôi. Và thế là chúng tôi quen nhau từ đó. Lần đó tôi ra về Trang tiễn tôi ra tận ngõ và nhỏ nhẹ:
- Lần sau mời anh đến chơi.
Đây cũng có thể là cảm tình của Trang dành cho tôi, mà cũng có thể là câu nói thường tình của người nông dân hiếu khách.
Lần sau, tôi lại đến và nhận thấy một chút ánh sáng loé lên trong mắt Trang… Và những lần sau đó, chúng tôi thân nhau.
Tối mười lăm Tết đầy mây, một chút ánh trăng mờ nhạt, tiếng loa phóng thanh rú lên: “Alô, kính mời đồng bào, đồng chí và các bạn. Tối nay, chúng tôi trình chiếu bộ phim Giải Phóng, phim màu - truyện chiến đấu của Liên Xô”. Tối nay, đoàn chiếu phim lưu động từ thị xã về chiếu, giá vé cũng rẻ. Ở nông thôn, đây là dịp người dân “mở rộng tầm mắt” và là cơ hội cho những đôi trai gái gặp nhau. Trên con đường đất đỏ chạy về phía biển, đồn công an biên phòng biến thành nơi chiếu phim.
Từ chiều, khi còn rất sớm,các cô cậu đã chuẩn bị thu xếp công việc, họ làm thật nhanh những gì cần làm để đi xem phim. Tôi chợt nhớ một bài thơ của Nguyễn Bính: “Mưa Xuân”:
Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ nói: thôn Đoài hát tối nay
Và tôi cũng có cái tâm trạng rạo rực của một chàng trai đang yêu. Tắm gội một chút, mùi xà phòng Camay thơm ngát, sơ mi trắng, quần jean, tôi biết mình sẽ sang trọng hơn những chàng trai đêm nay. Lòng bồn chồn rạo rực, đi về phía cầu - từ đây, có thể nhìn về nhà Trang. Con đê nhỏ ven sông chạy dài tít tắp đến ngút mắt. Trong sương chiều, xóm nhà Trang mờ mờ. Trước nhà Trang là một khúc sông rộng. Trên sông, những dàn rớ đánh cá giăng đây đó và tiếng hát của những cô gái chèo những chiếc xuồng nhỏ dập dìu trong nắng chiều vàng nhạt, họ hát những bài tình ca, những bài vọng cổ, họ gọi nhau ơi ới. Cuộc đời dù thế nào cũng có nét đẹp muôn thuở của nó không có nó, con người sẽ là những hình nhân bằng sáp tẻ ngắt, cuộc sống sẽ mất đi ý nghĩa và không thể tồn tại.
Tôi thẩn thờ đi đi lại lại, mong sao cho chiều xuống thật nhanh và đêm đến để được gặp Trang. Tôi biết bây giờ Trang cũng như tôi,h ồn ở trên mây. Buổi cơm chiều ăn qua quýt vì lòng đang rộn ràng,nhịp tim bồn chồn vội vã.Không biết bây giờ ,Trang đang làm gì? Mặt trời đã lặn,bóng tối lan dần.Khúc sông trước mặt đã thấp thoáng những ghe chài lên đèn-những chiếc đèn Manchon sáng chói trên những dàn rớ hay bềnh bồng trên sông nước.
Tôi hình dung Trang đang gội đầu bằng chanh bằng sả thơm lừng. Tôi đã từng thấy Trang và rất nhiều những cô gái nông thôn gội đầu bằng bồ kết, lá chanh, lá sả. Ngồi bên giếng nước rong rêu phủ kín, những cô thôn nữ gội đầu, đôi tay thon nhỏ và tì vết nhiều vì công việc đồng áng. Suối tóc đen dài bồng bềnh như mây, tấm lưng thon thả và những dòng nước chảy từ gáy nõn nà, người mẹ vẫn hiền từ ngồi bên cạnh. Chiếc gáo dừa nhịp nhàng và đều đặn múc nước từ nồi lá. Tôi thấy nước và mây, thôn nữ hay tiên nga trong thần thoại. Hình ảnh đó, mùi thơm đó, nó ám ảnh tôi mãi đến bây giờ. Cho dù cuộc sống có đổi thay, Thục Vy, Khánh Vy của tôi hay nhiều cô gái khác bây giờ gội đầu bằng những thứ dầu gội đầu đắt tiền, rất thơm, nhưng sao tôi vẫn thích cái mùi hương của lá chanh, lá sả, nó thơ mộng hơn và gần gũi hơn. Chắc có lẽ tôi là người hoài cổ.
Tôi đi về phía bờ đê.Trời bây giờ đã tối,con đê nhỏ và thấp,mọc đầy những bụi cây dại mùi hăng nồng gió sông mang theo hơi nước và mùi rong rêu. Trong bóng đêm dày, nhưng được soi sáng từ ánh sáng của những chiếc đèn Manchon rải rát trên mặt sông. Tôi thấy thấp thoáng những bóng người…Tôi nhìn kĩ những người đi qua, và tiếng cười khúc khích của những cô gái, tôi không nhìn rõ mặt. Một cô nào đó nghịch ngợm:
- Anh Tuấn ơi, Trang bận việc không đi được. Tối nay em thế Trang được không?
Và một cô gái khác:
- Con khỉ này nói bậy.
Rồi họ cười rất vui. Tiếng cười trẻ trung và lanh lảnh trong đêm chạy trên mặt nước chạy về phía hàng cây sẫm tối bên kia sông. Tôi thấy họ trẻ trung và yêu đời quá! Cái sức mạnh của tuổi thanh xuân không gì kiềm chế nỗi, cho dù đó là khó khăn thiếu thốn đến tận cùng. Tôi biết trong đó có nhiều cô gái chỉ có mỗi một bộ áo quần lành lặn, tuy đã tồi tàn để đi gặp người yêu. Viết lại những dòng này, quay về với kí ức một thời đã qua, tôi thấy đắng chát trong lòng và cay xè ở mắt. Tôi không thể hiểu được tại sao như vậy, khi mà người ta có thể chọn lựa khác hơn, tốt hơn cho mọi người, nhất là cho tuổi trẻ.
Tôi gặp Trang đi trong một nhóm bạn, không nhìn rõ được những ai. Có người tôi chưa biết mặt, biết tên, chào họ bằng cái cách của một thư sinh. Tôi không biết nó có khách sáo không?! Trang mặt bộ xoa đỏ (loại xoa rẻ tiền và thô). Những bộ áo mà người phụ nữ bây giờ mặc ở nhà làm bếp chắc phải tốt hơn nhiều. Loại vải xoa thô ấy bây giờ không còn tìm thấy nữa. Nhưng Trang vẫn đẹp hơn những cô gái khác. Đó là vẻ đẹp của một cô gái quê chứ không phải là của những cô diễn viên Hàn Quốc bây giờ. Trang của tôi lúc đó không nước hoa, không son phấn chỉ có mùi hoa chanh, hoa bưởi quyện trong tóc và trong da thịt. Tôi hỏi mấy cô gái cùng đi với Trang giọng thành khẩn và lịch sự:
- Anh mua vé cho các em xem phim luôn nghe. Chúng mình cùng đi. (một nửa thành khẩn ở điều này vì tôi mong họ để cho chúng tôi được riêng tư với nhau).
Một cô trong bọn trả lời:
- Thôi để tụi em đi. Anh và Trang đi chơi đi. Tụi em không dám làm ảnh hưởng đến “hoà bình thế giới”.
Họ cười thật vui và chào tôi ra đi. Còn lại hai chúng tôi. Tôi đến gần cầm tay và kéo Trang vào lòng. Trang trách tôi:
- Coi chừng người ta thấy, họ cười.
Tôi đưa Trang về phía sân chiếu bóng, dưới ánh đèn điện sáng, mọi người nhìn chúng tôi. Tôi thấy mình thật oách, bên cạnh Trang xinh xắn và khoẻ mạnh.
- Em không thích phim này lắm, chỉ toàn là bắn nhau.Trang nói.
Tôi hiểu ý Trang.
- Tụi mình đi chơi một chút nghe.
Trang lặng thinh. Tôi và nàng cùng đi về phiá đồi cát ven biển. Đồi cát chập chùng những cây dứa gai, có cây cao 2-3m, mùa này sắp ra hoa. Chúng tôi tay trong tay lang thang trên đồi cát. Cát mềm mại dưới chân, trắng và sạch như tuyết . Trang nói với tôi thẳng thắng:
- Lần sau, anh đừng mặt áo quần đẹp như vậy. Với em thì không sao, anh càng đẹp em càng hãnh diện. Nhưng trông anh xa lạ quá giữa những người ăn mặt xoàng xỉnh.
Tôi cảm nhận điều này khi đứng dưới ánh đèn sáng trưng lúc nảy. Lúc đầu thấy hãnh diện sau đó lại cảm thấy lạc lõng. Cái mùi xà phòng Camay thơm ngát lại rất vô duyên xa lạ giữa những người da đen cháy vì nắng gió.
- Anh đã nhận ra điều đó, nhưng nếu anh mặc bộ đồ công nhân để đi chơi với em thì em đừng chê anh nghe. Tôi nói.
Chúng tôi đi lang thang và vô tình đến bên một lô cốt. Lô cốt này được xây dựng để phòng thủ, khi tình hình chính sự diễn ra căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Một hệ thống lô cốt hình thành ven biển để phòng ngự. Vô cùng may mắn chiến tranh đã không xảy ra, chỉ có chiến tranh ở biên giới phía Bắc. Còn ở đây những lô cốt này là một thứ khách sạn “năm sao” và miễn phí, là thiên đường của những đôi trai gái yêu nhau. Chúng tôi đã biến lô cốt này thành “ngôi nhà của tình yêu”, chúng tôi dựa lưng vào bức tường bêtông thô nhám, nhìn ra biển. Chỉ nghe có sóng biển và gió vút qua từng rặng phi lao.
Tôi kéo Trang vào lòng. Trang run nhè nhẹ trong tay tôi, chúng tôi như chìm trong giấc mộng - hơi thở dồn dập. Tôi nghe thoang thoảng mùi lá chanh lá sả từ tóc và người của Trang .
Buổi chiếu phim đã hết. Tiếng cười nói cũng không còn, đêm tỉnh lặng và bắt đầu hơi lạnh. Sương xuống ướt đẫm tóc Trang. Tôi hỏi:
- Sao em không mang theo áo ấm?
- Áo ấm chị Thu mặc rồi. Hai chị em chỉ có một cái.
Trang nói như không có gì quan trọng và rất tự nhiên.
Trong cái thời bây giờ, mọi người ai cũng thiếu thốn nên không ai ngại ngùng hay xấu hổ khi nói về cái nghèo của mình. Thậm chí, còn có người dùng nó để châm biếm một cách cay độc. Tôi nhớ có lần gặp một người bạn, tôi nhìn vẻ mặt chán chường và đầy u uất của anh ta. Một câu hỏi như thường lệ: “Dạo này nhà cậu làm gì để sống?” -“Bán đồ ăn” -“Bán bún hay bán cơm”. Tôi hỏi chân tình. Nhưng anh ta lại trả lời bực tức: “Bán đồ ăn tức là bán đồ đạc trong nhà để ăn dần. Lúc đầu là xe Honda, kế đến là mấy chục tấm tole ở nhà dưới, rồi tủ quần áo, tủ buffer, tất cả cứ lần lượt đội nón ra đi”. Tôi vừa buồn cười, vừa đau xót. Nhà tôi cũng vậy thôi, nhưng chỉ khác với anh bạn tôi một chút tôi có 1công việc để làm để sống qua ngày.
Trang vẫn điềm nhiên khi nói về cái nghèo khổ của nhà mình, không giận hờn, không cay độc, không phẫn uất. Trang coi nó như là định mệnh, là một sự đương nhiên - họ sao mình vậy. Sau này, khi ở tù, tôi nhận ra một điều, cái đau khổ không phải là mình ăn muối, nhưng đau khổ ở chỗ khi mình ăn muối thì có một người bên cạnh lại ăn thịt gà. Không biết cái tâm trạng trên đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực. Nhưng sự thật nó là như vậy. Khi mọi người ai cũng nghèo thì mình không còn nhận ra mình nghèo nữa. Cái nghèo, nó không còn làm cho mình mặc cảm và đau khổ. Cho nên nhà Phật nói:”Vạn pháp duy tâm” cũng có cái lý.
Tôi lấy chiếc áo khoát của mình choàng lên người Trang. Nhưng chỉ một lát thôi thì Trang choàng lên cho tôi.
- Anh khoát vào đi, khéo cảm lạnh! Em chịu mưa chịu nắng quen rồi. Em mập và khoẻ hơn anh.
Tôi đưa Trang về, tay trong tay. Con đường đê nhập nhoà, ánh sáng từ mấy cây đèn dưới sông hắt lên. Xa xa có tiếng chim đêm kêu buồn buồn. Thỉnh thoảng trên mặt sông vắng lặng, mấy con cá nhảy rào rào, ánh nước lấp loáng như muôn ngàn ngôi sao tung vỡ.
Đã đến nhà Trang. Tôi ngồi trên khoảng sân lát gạch, Trang chạy vào nhà lấy cho tôi một bát nước thật đầy vì biết tôi khát khô cả cổ họng, và đặt vào tay tôi một quả ổi thơm lừng.
- Lúc chiều định mang lên cho anh, nhưng sợ mấy đứa kia nó xin mất. Cho cũng kẹt mà không cho cũng kẹt.
Trang nói hồn nhiên và cười giòn tan, lại tiếp:
-Trái ổi này ngon lắm, em chọn cả cây mới được một trái, giấu luôn cả chị Thu, để dành cho anh.
Trước tình cảm của Trang đơn sơ nhưng chân thật, tôi thật sự choáng ngợp. Nó biểu lộ một cách tự nhiên từ một tâm hồn trong sáng. Những lời nói ấy là chính từ con người của Trang, nó không được trang bị bởi kiến thức, kinh nghiệm.
- Cảm ơn em! Tôi nói theo thói quen.
- Việc chi phải cảm ơn!
Tôi biết Trang không quen với cách ăn nói đó. Nó làm cho tôi trở nên xa lạ. Tôi sửa chữa sai lầm bằng cách ôm chặt Trang vào lòng. Trang dịu dàng và ngoan ngoãn trong tay tôi.
Trở về trên con đường đê cũng nhập nhoà ánh sáng, cũng tiếng chim đêm buồn bã, cũng ánh ngờicủabầy cá quẫy nước trên sông. Nhưng bây giờ chỉ có một mình tôi, tôi cảm thấy con đường trông rất xa. Gần về tới nhà, gặp một vài người quen trên đường, tôi chào họ:
- Chào chị.
Họ cười với tôi và hỏi để trêu tôi:
- Chú Tuấn có “mối” rồi phải không?
Tôi dạ.
Trên đường đi, có nhiều người như vậy. Trên vai kẻo kịt đôi bầu cá kho hay là vài món hàng nào đó. Họ phải gánh như vậy lên tận Tiên Phước cách đó 30 km để bán rồi lại gánh về: nào lúa, bắp, chuối , mía, trà. Có người đi ngày một như vậy. Tôi không hiểu, họ lấy sức đâu mà chịu đựng. Họ là vợ, con gái của ngư dân. Được mùa cá nhưng giá rẻ như bèo, chỉ một buổi mai, có khi cá, mực thay đổi ba, bốn giá - lúc đầu 1kg cá đổi lại 1kg muối, đến trưa 1kg muối đổi 2kg cá, lúc về chiều thì không còn muối để mà đổi nữa. Trong cơ chế bao cấp nghiệt ngã, ngăn sông, cấm chợ, mọi cái đều đứng yên tại chỗ. Sự lưu thông và cạnh tranh là hai động lực phát triển xã hội. Không lưu thông, không cạnh tranh, tất cả đều đóng băng.
Mỗi tối,tôi vẫn lén lút nghe đài VOA, BBC để thoát khỏi cái không khí ngột ngạt bưng bít một chiều, và để biết thêm về sự thay đổi của thế giới. Tôi biết lúc này đây, ở các nước văn minh, người ta đang sống, làm việc và hưởng thụ. Những người phụ nữ các nước văn minh giờ này có thể họ đang chạy bộ để cho gầy bớt, có thể họ đang phơi nắng trên bãi biển. Tôi đã từng thấy những phụ nữ thật đẹp trong tờ Thế Giới Tự Do phát hành ở miền Nam trước năm 1975. Họ phô bày những đường cong tuyệt mỹ, làn da nõn nà, còn người phụ nữ quê tôi đen đủi, lem lút và gầy như que củi. Họ chỉ đẹp ở tấm lòng người mẹ, người vợ vì suốt đời tần tảo lo cho chồng cho con.
(Còn tiếp)
© 2008 www.danchimviet.com