2- Bút tre hiện đại
Trên thực tế, những tập thơ của ông in ra có tuổi thọ chưa đầy một năm. Năm 1963, trên báo Cứu Quốc, ông bị nhà thơ Xích Điểu phê phán, trích dẫn hàng loạt những câu ngô nghê phản tác dụng... Tự biết mình đã đi quá đà trong việc chạy theo xu hướng tầm thường dễ dãi, khác hẳn thơ giản dị trong sáng mang tính tuyên truyền của "bác" và các bậc đàn anh lúc bấy giờ, nên ngay sau khi bị "điểm huyệt", ông như người bừng tỉnh và lập tức phanh con tàu thơ ngay tắp lự. Từ đó cho đến khi thần chết đón đi (chẵn 23 năm), không bao giờ ông dám nho nhoe vận hành con tàu thơ mang danh hiệu Bút tre lần nào nữa, kể cả khi ông là phó ban tuyên giáo tỉnh uỷ Vĩnh Phú (1971). Cán bộ phòng văn nghệ của ty văn hoá đến xin bài, ông đã từ chối khéo bằng câu đùa tế nhị: "Cậu lại xui trẻ con ăn cứt gà sáp, tớ già rồi, cậu chẳng xui được tớ đâu".
Quả là khi bước vào tuổi "tri thiên mệnh" lại tỉnh đòn sau cú nện toé khói của cả "chùm xích" xuống đầu, tê tái, choáng váng, nên khi tỉnh lại, dù đã oằn người lê lết ra khỏi đà quăng của xích một quãng dài ông vẫn bị ám ảnh vì sự trượt dốc, không phanh của mình, ông triệt tiêu mọi ý định làm và in thơ, dù đó là lời mời chân tình, tha thiết nhất.
Tuy nhiên trí tuệ dân gian đôi khi có sức sống mãnh liệt như cỏ, những vần thơ dễ dãi của ông trong 9 năm mọc um tùm tươi tốt trên những mảnh vườn hoang do điều kiện giặc giã chiến tranh, "tiếng hát át tiếng bom", bút tre, phấn gạch viết nguệch ngoạc trên nền đất, nền tường át bút bi, bút sắt, bút mực, bút chì trên những trang giấy pơ luya, trang vở ô li, giấy năm hào hai nên cứ được thể lan rộng mãi, không gì rũ nổi, cứ triệt chỗ này nó mọc ở chỗ khác, huống hồ giống cỏ ông gieo chẳng ảnh hưởng gì đến đời sống, chỉ là thứ cỏ lành làm xanh mắt, mát chân người qua lại giữa thời buổi chiến tranh bom đạn giặc dã bời bời, cỏ cây chết rũ. Vì thế sau bao năm trời yên nghỉ, từ tít tắp các phương trời tụ hội, mộ ông vẫn phủ đầy thơ, theo chính phong cách hồn nhiên dễ dãi mà ông đã chủ động gieo trồng, gặt hái.
Để bạn đọc không bị hoa cỏ làm rối mắt, rối tay, tác giả tạm phân chia ra thành vài mục sau (đầu đề do tác giả tạm đặt):
a. Bút tre trẻ với việc tham quan du lịch
Bằng ba chính quyền
Không đi không biết sài gòn
Đi rồi rỗng túi không còn một xu
Nghĩ ra mới thấy rằng ngu
Cái miệng tiêu một, thằng cu (*) tiêu mười
Nói ra sợ thủ trưởng cười
Ngờ đâu thủ trưởng hơn mười lần ta
Nhân họp chi bộ đưa ra
Liên đoàn, lãnh đạo ... bằng ba chính quyền
(*) Hiểu theo cách nói lấp lửng của dân gian, ám chỉ phái tính của đàn ông
Tam Đao (*)
Không đi không biết Tam Đao
Đi thì chẳng có chỗ nào mà ngu (1)
Một giường nó nhét hai cu
Đêm đêm phải lấy cái mu (2) gối đầu
Mu cao mà gối thì đau
Mu thấp chỉ tổ đau đầu ù tai
Xa xôi cách trở rộng dài
Ước chi được gối cái ... mai vợ nhà
Tuy già mà vẫn mặn mà
Gối mai cũng sướng như là gối mu
(*) Tức Tam Đảo
1. Từ ngủ, bỏ dấu hỏi theo luật bằng trắc
2. Mu: Hiểu theo hai nghĩa, nghĩa thực là phải gối đầu bằng mũ, nghĩa đen là gối vào mu rùa có lông... theo cách nói vui của Trạng Quỳnh gọi phái tính của đàn ông là củ lẳng, của đàn bà là mu rùa có lông.
Cửa lò
Không đi không biết cửa lò
Đi thì mới biết cửa lò chưa tôn (1)
Ai về nhắn với bảo tồn
Lo thêm kinh phí để tôn cửa lò (2)
1. Cửa lò chưa tôn (nói lái) thành cửa ... chưa to
2. Để tôn cửa lò (nói lái) thành để to cửa...
Cà mau cà chậm
Không đi không biết cà mau
Đi thì thấy chẳng hơn đâu cà nhà
Cà nhà hạt ghém hơi già
Nhưng là ... cà chậm hơn là cà mau
Cửa mình ... Quảng Ninh
Không đi không biết Quảng Ninh
Đi thì mới biết cửa mình (*) mở ra
Hàng gần cho tới hàng xa
Muốn đi xuất ngoại phải qua cửa mình
Hàng thô cho tới hàng tinh
Xuất nhanh khi nhập cửa mình ... Quảng Ninh
(*) Tác giả cố tình bỏ đi chữ "biển" để câu thơ vừa mang tính dân gian, vừa theo đúng phong cách Bút tre. Nếu hiểu chính xác theo lối văn xuôi phải là "cửa biển Quảng Ninh hoặc cửa biển của nước mình ".
Cô nàng Hơ mông
Không đi không biết Hà Giang
Đi thì mới gặp cô nàng Hơ mông (*)
Lửa trại sưởi đốt giữa đồng
Hơ tay rồi lại ... hơ mông cùng nàng
(*) Tác giả cố tình lập lờ đánh lận giữa tên của dân tộc Hơ mông với một việc làm cụ thể gắn với một bộ phận trên cơ thể con người (hơ mông) nhằm tạo ra tiếng cười nghịch ngợm, vui vẻ.
Chàng trai Mường Tè
Cô gái ... Hơ mông bên bếp lửa
Chàng trai Mường ... Tè đứng ngay bên
Lửa tắt rồi cô còn lần lữa
Chàng trai xấu hổ bước đi liền
Gió xuân tốc váy
Không đi không biết Hà Giang
Đi thì mới gặp cô nàng Hơ mông
Cô đi dự hội lồng tồng
Gió xuân tốc váy, tồng ngồng ... anh mê
Váy em vừa rộng vừa xoè
Giang tay anh chắn, anh che ... cô mình
Theo anh
Theo anh đến thị xã Phan...
Rang cơm xào thịt liên hoan một chầu
Chén xanh xong vội vã lên tàu...
Hoả ra Hà Nội mau mau để chuồn
Nếu sớm thì phải đi buôn
Nếu muộn thì phải đi luôn kịp tàu
Buồn tình
Buồn tình cô gái Củ Chi
Chỉ cu cô hỏi: - củ chi... hỡi chàng?
Chàng trai Bố Hạ mơ màng
Há bộ thì há, bộ nàng tưởng chi ?
Biết ngày nào ra
Anh đi công tác Plây
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra
Còn em nằm lại ... Buôn Ma
Thuột đi thuột lại với cha láng giềng
Cô gái vùng me
Hỡi em : - cô gái vùng me
Me chua sao đựng chật ghe (*) thế này ?
Cho anh nắm lấy bàn tay
Nghển cao nòng súng, mê say quên về
Mỉm cười cô lái mũi ghe
Tình dân nghiã nước duyên xe mặn nồng
Dẫu cho em đã có chồng
Súng này anh nhớ lập công, ghe chờ
(*) Ghe tiếng Nam bộ có nghiã là thuyền, hiểu theo cách hiểu dân gian của người miền Bắc lại có nghĩa ngầm thứ hai, cũng như từ "nòng súng" vậy, vừa là nghĩa thực vừa là nghĩa bóng, khi được đặt cùng từ "ghe" thì mang tính ám chỉ theo nghiã bóng (là phái tính của phụ nữ) nhiều hơn.
Kỳ sau dẫn đầu
Chị em quê ở bến tre
Hôm nay mở hội đua ghe giữa làng
Ghe em bé lướt nhẹ nhàng
Ghe chị bự, béo ... nên toàn tụt sau
Chị về nắn lại dài, sâu
Vượt lên, chúi xuống ... kỳ sau dẫn đầu
Đóng băng vào cốc
Băng Cốc tưởng cốc đóng băng (1)
Ngờ đâu cho lửa chói chang mặt đường
Rên la nhức nhối đêm trường
Đóng băng vào cốc kẻo giường ... gãy thang (2)
1. Tác giả chơi chữ
2. Nóng quá không ngủ được nên nan giường cọt kẹt suốt đêm
(Còn tiếp)
© 2008 www.danchimviet.com