Hà Nội những ngày trở thành đầu to (9-2008)
1- Bút tre cũ Ông tên thật là Đặng Văn Đăng sinh ngày 23-8-1922 tại xã Đông Lương, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ. Từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như thầy giáo, phóng viên, giám đốc nhà in, uỷ viên thư ký Uỷ ban cách mạng lâm thời, cán bộ tuyên huấn tỉnh, cán bộ huyện uỷ, phó trưởng ty tuyên truyền văn nghệ, tuyên huấn đoàn uỷ cải cách ruộng đất, bí thư cho thứ trưởng ngoại giao, trưởng phòng thông tin Uỷ ban hành chính tỉnh, Tổng biên tập báo Phú Thọ, phó ban tuyên giáo tỉnh uỷ v.v… về hưu 1971, mất ngày 18-5-1987, thọ 65 tuổi. Ông lấy bút hiệu "bút tre" từ câu thơ của Tố Hữu - người anh cả trong làng Thơ cách mạng, viết về phong trào bình dân học vụ năm 1946.Ta nghèo không mực thì sonBút tre, phấn gạch bà con tạm dùng.  |
| Nguồn: www2.vietbao.vn |
Ông quan niệm, vì điều kiện chiến tranh liên miên mà dân mình ít chữ, vì thế phải làm thơ thật nôm na dễ hiểu bà con mới tiếp thu được. Tư tưởng này ông nhận được từ chính những nhân cách "vĩ đại" như chủ tịch Hồ Chí Minh, Xuân Diệu, Tố Hữu v.v… Với bác, một "nhà văn hoá lớn", người viết cả tập "Ngục trung nhật ký" như một bộ sách kinh điển, đầy chất hàn lâm bác học và sự lạc quan cách mạng, nhưng khi cần vận động toàn dân đứng lên chống thực dân Pháp, bác lại viết những vần thơ hết sức "khiêm tốn, giản dị":Hòn đá to Hòn đá nặng, Một người nhắc, Nhắc không đặng, Hòn đá nặng Hòn đá bền Nhiều người nhắc, Nhắc lên đặng Hay:Ai có súng dùng súng, Ai có gươm dùng gươm, Không có gươm thì dùng cuốc xẻng gậy gộc, Còn Xuân Diệu - bậc tiên chỉ của làng thơ Việt Nam, người nổi tiếng với các tập "Tương tư chiều", "Lời kỹ nữ", "Nguyệt cầm" khi tham gia đợt giảm tô ở làng Còng, Thanh Hoá (1953), cũng phải viết những câu thơ đi sâu đi sát trong... quần chúng :Hỏi thăm sức khỏe gần xaTrẻ em bớt ghẻ, cụ già lành ho Chính vì thế một người từng đọc thơ Pháp, viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp, trong lĩnh vực tuyên truyền cũng phải hướng ngòi bút của mình vào những vần thơ nôm na dân giã, hồn nhiên dễ hiểu để bà con dù không biết đọc biết viết, nghe xong cũng có thể hiểu được. Trong vòng 9 năm (1953 - 1962), khi đã là trưởng ty văn hoá Phú Thọ ông cho in một loạt các tập thơ: "Rừng cọ đồi chè", "Phú Thọ lớn lên", "Sông Lô sông chảy", "Đồng Tâm thắm thịt thay da", "Một ngày của Phú Thọ", "Quê hương Phú Thọ" v.v… mà chủ yếu là những câu ca dao, hò vè, chạy theo vần điệu, biến đổi âm sắc, đảo lộn cấu trúc, bắc cầu từ câu trên xuống câu dưới như ta đã từng biết. Vì điều kiện trang viết có hạn, dưới đây chỉ trích dẫn một số câu trong một số bài điển hình: Hoan hô đại tướng võ nguyên Giáp ta thắng trận Điện Biên trở vềCờ hoa sáng rực trời quêNhà nhà phấn khởi hả hê nhà nhàCùng nhau hát khải hoàn caBài ca giải phóng sáng loà Điện BiênHoan hô đại tướng võ nguyên...(Trường ca điện biên)IITrăm năm ở một làng vè Nghìn câu lục bát mấy đề vè nômKhi khuya sáng lúc hồi hômBà con kể lại xóm thôn vọng lờiBút tre nối bước những aiMột dòng thơ mở đường quai kể vèNăm năm dân dã lắng ngheMột bút tre thành vạn bút tre các làng (Tra lửa làng quê) IIIBút tre ngồi ngẫm tàn canhCho mai bén trúc cho anh bén nàng Tứ thơ thấu khắp dân làng Đưa chàng cập bến vui chàng đó đâyQua sông bao chuyến đò đầy Mỗi ngày công việc đổi thay hoàn toànNhịp sống mới ai lo cho hết Lòng người ta hồ biết đến cùngMột vùng trời đất soi chung Đẹp tươi hình ảnh trăm vùng nên gương Bút tre chúc bạn lên đường Thơ ngâm ngợi khúc lòng vương vấn lòng (Một ngày ở Phú Thọ, 1961) IVGiặc Mỹ leo thang đến Phú ThọNa pan đốt cháy cả rừng co Sẵn sàng chiến đấu, chị em bắnRớt trước tay mình một ... dù đo("Bắt giặc lái") VHoan hô các chú giữ cầuMặc cho bom đạn trên đầu nó rơiBút tre chẳng như mọi ngườiQua sông nhớ mãi ... nụ cười chú em VINgước nhìn lên đỉnh con voiĐủ cả đầu đuôi đủ cả vòiVoi cũng như người voi sản xuất Đầu thì trồng sắn,đít trồng khoai VIICầu tiêu giếng nước đủ đầy Chuồng lợn hai bậc dựng xây từng nhàĐồng lưng Phú thọ, Sai NgaBao nhiêu lợn nái, trâu cà bấy nhiêuVIIIMùa thu cách mạng sao bayAnh về công tác ở ngay quê nhàNăm đầu kháng chiến nổ raKhu mười dìu dắt dân ta diệt thù(Tặng anh Bùi Quang Tạo)IXAnh thăm hợp tác xuống từng nhàVang lừng tiếng trống đỏ cờ hoa Đàn bò béo múp coi bụ bẫmĐẹp vườn mía tía đẹp luống cà(Tặng anh Nguyễn Duy Trinh )XĐồng chí uỷ viên trung ươngĐi trên tàu bật một que diêmMắt lim dim nhìn lên đồi cọMỉm cười khen tỉnh Phú Thọ ta (Tặng anh Ung Văn Khiêm)Tiếp theo là một loạt thơ hai câu của ông mà sự trôi trượt trong cách gieo vần theo kiểu ca dao, hò vè thể hiện rất rõ : Chú về công tác bảo tàngCũng là nhiệm vụ cách màng giao cho ***Bỗng nghe một tiếng xoẹt ngangBác Hồ đang sống chuyển sang ... từ trần***Bỗng nghe một tiếng xoẹt gầnBác Hồ đang sống ... từ trần ... chuyển sang***Trông ra một đống đen xìLại gần mới biết rằng thì ... là than***Anh đi đồng ruộng lắng ngheLúa mừng phân bắc, khoai che mảnh vườn ***Tàu xe đi lại nhịp nhàngThái nguyên, Yên Bái lại càng ... Lào Cai
***Hôm nay trời nhẹ mây caoAnh Ga ga rỉn bay vào ...vũ tru... v.v…(Còn tiếp)© 2008 www.danchimviet.com