1- Bút tre cũ

Ông tên thật là Đặng Văn Đăng sinh ngày 23-8-1922 tại xã Đông Lương, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ. Từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như thầy giáo, phóng viên, giám đốc nhà in, uỷ viên  thư ký Uỷ ban cách mạng lâm thời, cán bộ tuyên huấn tỉnh, cán bộ huyện uỷ, phó trưởng ty tuyên truyền văn nghệ, tuyên huấn đoàn uỷ cải cách ruộng đất, bí thư cho thứ trưởng ngoại giao, trưởng  phòng thông tin Uỷ ban hành chính tỉnh, Tổng biên tập báo Phú Thọ, phó ban tuyên giáo tỉnh uỷ v.v… về hưu 1971, mất ngày 18-5-1987, thọ 65 tuổi. Ông lấy bút hiệu "bút tre" từ câu thơ của Tố Hữu - người anh cả trong làng Thơ cách mạng, viết về phong trào bình dân học vụ năm 1946.

Ta nghèo không mực thì son
Bút tre, phấn gạch bà con tạm dùng.
 
 Nguồn: www2.vietbao.vn

Ông quan niệm, vì điều kiện chiến tranh liên miên mà dân mình ít chữ, vì thế phải làm thơ thật nôm na dễ hiểu bà con mới tiếp thu được. Tư tưởng này ông nhận được từ chính những nhân cách "vĩ đại" như chủ tịch Hồ Chí Minh, Xuân Diệu, Tố Hữu v.v… Với bác, một "nhà văn hoá lớn", người viết cả tập "Ngục trung nhật  ký" như một bộ sách kinh điển, đầy chất hàn lâm bác học và sự lạc quan  cách mạng, nhưng khi cần vận động toàn dân đứng lên chống thực dân Pháp, bác lại viết những vần thơ hết sức "khiêm tốn, giản dị":

Hòn đá to
Hòn đá nặng,
Một người nhắc,
Nhắc không đặng,
Hòn đá nặng
Hòn đá bền
Nhiều người nhắc,
Nhắc lên đặng

Hay:

Ai có súng dùng súng,
Ai có gươm dùng gươm,
Không có gươm thì dùng cuốc xẻng gậy gộc,

Còn Xuân Diệu - bậc tiên chỉ của làng thơ Việt Nam, người nổi tiếng với các tập "Tương tư chiều", "Lời kỹ nữ", "Nguyệt cầm" khi tham gia đợt giảm tô ở làng Còng, Thanh Hoá (1953), cũng phải viết những câu thơ đi sâu đi sát trong... quần chúng :

Hỏi thăm sức khỏe gần xa
Trẻ em bớt ghẻ, cụ già lành ho

Chính vì thế một người từng đọc thơ Pháp, viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp, trong lĩnh vực tuyên truyền cũng phải hướng ngòi bút của mình vào những vần thơ nôm na dân giã, hồn nhiên dễ hiểu để bà con dù không biết đọc biết viết, nghe xong cũng có thể hiểu được. Trong vòng 9 năm (1953 - 1962), khi đã là trưởng ty văn hoá Phú Thọ ông cho in một loạt các tập thơ: "Rừng cọ đồi chè", "Phú Thọ lớn lên", "Sông Lô sông chảy", "Đồng Tâm thắm thịt thay da", "Một ngày của Phú Thọ", "Quê hương Phú Thọ" v.v… mà chủ yếu là những câu ca dao, hò vè, chạy theo vần điệu, biến đổi âm sắc, đảo lộn cấu trúc, bắc cầu từ câu trên xuống câu dưới như ta đã từng biết. Vì điều kiện trang viết có hạn, dưới đây chỉ trích dẫn một số câu trong một số bài  điển hình:

Hoan hô đại tướng võ nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về
Cờ hoa sáng rực trời quê
Nhà nhà phấn khởi hả hê nhà nhà
Cùng nhau hát khải hoàn ca
Bài ca giải phóng sáng loà Điện Biên
Hoan hô đại tướng võ nguyên...
(Trường  ca điện  biên)

II
Trăm năm ở một làng vè
Nghìn câu lục bát mấy đề vè nôm
Khi khuya sáng lúc hồi hôm
Bà con kể lại xóm thôn vọng lời
Bút tre nối bước những ai
Một dòng thơ mở đường quai kể vè
Năm năm dân dã lắng nghe
Một bút tre thành vạn bút tre các làng
(Tra lửa làng quê)

III
Bút tre ngồi ngẫm tàn canh
Cho mai bén trúc cho anh bén nàng
Tứ thơ thấu khắp dân làng
Đưa chàng cập bến vui chàng đó đây
Qua sông bao chuyến đò đầy
Mỗi ngày công việc đổi thay hoàn toàn
Nhịp sống mới ai lo cho hết
Lòng người ta hồ biết đến cùng
Một vùng trời đất soi chung
Đẹp tươi hình ảnh trăm vùng nên gương
Bút tre chúc bạn lên đường
Thơ ngâm ngợi khúc lòng vương vấn lòng
(Một ngày ở Phú Thọ, 1961)

 IV
Giặc Mỹ leo thang đến Phú Thọ
Na pan đốt cháy cả rừng co
Sẵn sàng chiến đấu, chị em bắn
Rớt trước tay mình một ... dù đo
("Bắt giặc lái")

V
Hoan hô các chú giữ cầu
Mặc cho bom đạn trên đầu nó rơi
Bút tre chẳng như mọi người
Qua sông nhớ mãi ... nụ cười chú em

VI
Ngước nhìn lên đỉnh con voi
Đủ cả đầu đuôi đủ cả vòi
Voi cũng như người voi sản xuất
Đầu thì trồng sắn,đít trồng khoai

VII
Cầu tiêu giếng nước đủ đầy
Chuồng lợn hai bậc dựng xây từng nhà
Đồng lưng Phú thọ, Sai Nga
Bao nhiêu lợn nái, trâu cà bấy nhiêu

VIII
Mùa thu cách mạng sao bay
Anh về công tác ở ngay quê  nhà
Năm đầu kháng chiến nổ ra
Khu mười dìu dắt dân ta diệt thù
(Tặng anh Bùi Quang Tạo)

IX
Anh thăm hợp tác xuống từng nhà
Vang lừng tiếng trống đỏ cờ hoa
Đàn bò béo múp coi bụ bẫm
Đẹp vườn mía tía đẹp luống cà
(Tặng anh Nguyễn Duy Trinh )

X
Đồng chí uỷ viên trung ương
Đi trên tàu bật một que diêm
Mắt lim dim nhìn lên đồi cọ
Mỉm cười khen tỉnh Phú Thọ ta
(Tặng anh Ung Văn Khiêm)

Tiếp theo là một loạt thơ hai câu của ông mà sự trôi trượt trong cách gieo vần theo kiểu ca dao, hò vè thể hiện rất rõ :
 
Chú về công tác bảo tàng
Cũng là nhiệm vụ cách màng giao cho

***
Bỗng nghe một tiếng xoẹt ngang
Bác Hồ đang sống chuyển sang ... từ trần

***
Bỗng nghe một tiếng xoẹt gần
Bác Hồ đang sống ... từ trần ... chuyển sang

***
Trông ra một đống đen xì
Lại gần mới biết rằng thì ... là than

***
Anh đi đồng ruộng lắng nghe
Lúa mừng phân bắc, khoai che mảnh vườn
 
***
Tàu xe đi lại nhịp nhàng
Thái nguyên, Yên Bái lại càng ... Lào Cai

***

Hôm nay trời nhẹ mây cao
Anh Ga ga rỉn bay vào ...vũ tru... v.v…

(Còn tiếp)

© 2008 www.danchimviet.com