ĐỀ XƯỚNG GIÁO DỤC CỦA SỨ MỆNH (SỨ QUÁN HOA KỲ)

12. Thời gian đã chín mùi trong chuyện mở rộng chương trình trao đổi học vấn với Việt Nam. Lãnh đạo cũng như dân chúng Việt Nam đều đồng ý cải tổ giáo dục là chuyện tối quan trọng cho sự tiếp tục phát triển của Việt Nam, họ công nhận hệ thống giáo dục Mỹ đứng đầu thế giới, chính quyền Việt Nam mong mỏi sự trợ giúp của Hoa Kỳ, và cả hai hệ thống đại học Mỹ và Việt Nam đều sẵn sàng, mong muốn thắt chặt hợp tác này. Sự thành công sẽ mang lại lợi ích ngắn cũng như dài hạn cho mối bang giao song phương khi chúng ta rập khuôn hệ thống giáo dục Việt với Mỹ,ànhững tác dụng sâu đậm mà chúng ta đã gặt hái được khi đặt mục tiêu tài trợ đích xác để cải cách hệ thống quản trị kinh tế của Việt Nam.

13. Đương nhiên chúng ta còn nhiều rào cản phải vượt qua. Trong khi lãnh đạo chóp bu của Việt Nam đã ủng hộ sự canh tân có tính cách quyết liệt này, có nhiều người trong nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn ngán sợ sự cởi mở và tự do trao đổi ý kiến, một điều quan yếu phải có trong một hệ thống giáo dục tiên tiến của thế giới. Tuy nhiên, nếu muốn khắc phục được chuyện cưỡng lại bước tiến này, không có phương hướng nào tốt hơn ngành giáo dục. Một  bước cản nữa, một chuyện mà hiện nay làm cho Phó Thủ tướng Nhân nhức óc là phải đương đầu với quyền lợi lâu năm của các giáo sư và giám đốc hiện nay, những người có quyền lực nhất đã mua địa vị cho mình với hứa hẹn sẽ được trục lợi và sẽ không để cho người khác gạt mình qua một bên một cách yên ổn. Nói trắng ra, đây là lý do tại sao ông Thủ tướng đang kêu gọi một Đại học Mỹ và các tiến sĩ được đào tạo ở Mỹ. Trước những chống đối mãnh liệt, kế hoạch của ông là dựng lên các hệ thống song hành với cái cũ, có nhiều phẩm lượng hơn cái cũ để chứng minh sự băng hoại của những kẻ cố thủ, muốn ăn dầm nằm dề lâu đời trong các học đường hiện nay. Tiếc thay  di sản của một não trạng quyền lực trung ương là các đại học đánh giá việc làm của họ duy nhất vào số lượng thay vì phẩm lượng. Hiện nay, những lời nói và diễn thuyết được tính điểm chứ không phải kinh nghiệm được giáo dục.

14. Ngoài ra, ta có thể tranh cãi rằng mục tiêu huấn luyện tiến sĩ của ông thủ tướng mang ý tưởng tốt nhưng đặt sai hướng. Một chương trình đào tạo nhiều bằng M.A. và M.S. (Master of Arts và Master of Science: bằng cao học hai năm trước khi tốt nghiệp tiến sĩ) hơn là Ph.D. có thể gây tác dụng rộng lớn hơn, với nhiều giáo sư chú trọng vào trình độ mà Việt Nam đang cần nhiều nhất. Trong khi Việt Nam sau này có thể đi vào những phạm trù cao học và nghiên cứu, hệ thống giáo dục ngày nay quá tồi dở nên chúng ta tin rằng mục tiêu 10 năm tới phải được dùng để cải cách nền móng giáo dục để nó có thể đào tạo những lớp sinh viên sau này có thể sẽ trở nên những người biết sáng chế và khai phá. Bằng Master là một trình độ vừa đủ để giảng dạy ngành kỹ sư, và các môn như: Anh văn là ngôn ngữ thứ hai, kế toán, nông nghiệp và nhiều môn khác. Một giáo viên có bằng Master và thấu triệt quan yếu của sự tự do tư tưởng và tham gia của sinh viên trong ngành giáo dục sẽ thể hiện được cho một sự cải thiện sâu xa hơn phần lớn những giáo sư hiện nay. Một khi Việt Nam có một số lượng những người được tốt nghiệp đại học, được đào tạo kỹ càng, đi vào ngành nghiên cứu lúc đó học vấn sẽ có nghĩa lý hơn.

15. Tuy vậy, người ta có thể vượt qua hay thay đổi được những rào cản và tranh cãi này trong khi ứng dụng nếu có những viện trợ đúng mục tiêu. Điều quan trọng là chúng ta nên nắm giữ lấy cơ hội hôm nay, và triệt dụng cà hai yêu cầu của ông thủ tướng lẫn sự ngưỡng mộ học vấn nói chung mà người Việt dành cho nền giáo dục Hoa Kỳ. Nếu chúng ta đi qua cánh cửa mở này, chúng ta sẽ tham gia, với sự hường ứng rõ rệt của các lãnh đạo cao cấp, một cơ hội độc nhất để ảnh hưởng sâu đậm vào hệ thống giáo dục của Việt Nam. Qua các chương trình riêng của chúng ta, cũng như tìm cách cổ động các hợp tác tư và công, chúng ta có thể đẩy mạnh các mục tiêu của Sứ Quán bằng cách giúp cho các quan chức và định chế giáo dục Việt Nam đạt được những mục tiêu sau đây:

- áp dụng giáo trình Hoa Kỳ vào một số ngành nghề;
- thực thi đường lối giảng dạy của Mỹ, như là đề cao những ý tưởng khai phóng, giải quyết vấn đề, khả năng lãnh đạo thay vì học như vẹt;
- gia tăng kiến thức về Hợp chủng quốc và định chế Hoa Kỳ qua các lớp thiên về quốc tế và những môn học Hoa Kỳ;
- cải thiện cách giảng dạy sinh ngữ Anh văn nhằm giúp sinh viên có thể tự họ thu thập tin tức về Hoa Kỳ và thế giới chung quanh;
- cổ động chuyện du học ở Hoa Kỳ, giúp cho các nhà lãnh đạo lấy kinh nghiệm đầu tay về giá trị và xã hội Hoa Kỳ;
- mở rộng sự hợp tác sâu đậm với các đại học, công ty và các cơ quan dân sự Hoa Kỳ;
- và thu thập sự huấn nghệ cần có trong ngành hành chánh giáo dục.


16. Nhằm hiểu rõ và thực thi dễ dàng những nỗ lực rộng lớn của Hoa Kỳ hiện nay tại Việt Nam, đại sứ Michalak tổ chức  Hội Nghị Giáo dục ở Hà Nội ngày 24-25 tháng Giêng, 2008. Buổi hội nghị khai phá đó đã quy tụ gần 200 người Mỹ đặt cược vào nỗ lực cải cách giáo dục Việt Nam - kể cả hơn 100 đại học, công ty và cơ quan thiện nguyện dân sự Hoa Kỳ với nhiều chương trình giáo dục đáng kể - nhằm chia sẻ tin tức về sinh hoạt và thử thách của họ cũng như bàn thảo làm thế nào để sự hợp tác có thể giúp họ thực hiện mục tiêu giáo dục hữu hiệu hơn. Hội Nghị cũng giúp cho Sứ Quán tăng triển kiến thức và hiểu biết sâu rộng về các sinh hoạt giáo dục của các tổ chức công cũng như tư nhân Mỹ, và như thế có thể hoạch định được một chiến lược tổng quát và hữu hiệu nhằm gia tăng ảnh hưởng của Hoa Kỳ vào môi trường giáo dục đang biến đổi nhanh chóng của Việt Nam. Chúng ta cũng khẳng định rằng, bằng cách phục vụ quyền lợi Hoa Kỳ, chúng ta ta có thể đáp ứng nhu cầu xin Mỹ viện trợ về giáo dục của lãnh đạo Việt Nam. Một Hội nghị thứ hai, được trù tính vào đầu năm 2009, cũng nhắm sẽ hội tụ các nhà giáo dục Mỹ và Việt Nam. Như vậy, hội nghị này cũng trực tiếp ủng hộ kế hoạch Dịch vụ Thương mại Đối ngoại nhằm phát huy sự kết nối giữa các chương trình công nghệ của đại học Mỹ và Việt Nam.

17. Dùng những nguồn lực sẵn có và các tin tức thu thập được ở Hội Nghị Giáo dục đầu tiên, chiến lược giáo dục của Sứ Mệnh (của Sứ quán Hoa Kỳ) gồm có những phần tử sau đây:

- Chương trình học bổng Fulbright ở Việt Nam: Mỗi năm, chương trình này gởi khoảng 25 sinh viên xuất sắc, có triển vọng cao qua Mỹ để theo học bằng Master trong một số các ngành, kể cả Hành chánh Cao học, đồng thời gởi 10 giáo sư đại học Việt sang Mỹ để điều nghiên cách cải tiến phẩm chất trong phương pháp gỉảng dạy của họ. Ngoài ra, một số các chương trình Fulbright khác gởi khoảng 20 giáo sư và nghiên cứu sinh Mỹ đến các đại học Việt Nam trong chương trình cải huấn lại giáo án, khai giảng lớp mới và các chương trình lấy bằng (hầu khi tốt nghiệp sẽ được cấp bằng của Mỹ), huấn luyện ban giáo sư và những giám đốc hành chánh. Nhằm mở rộng chương trình Fulbright, Sứ Quán cũng tìm cách tìm các đóng góp đầu tiên của Bộ Giáo dục và Đào Tạo (MOET của Việt Nam), cũng như sắp mở một chiến dịch tìm tài trợ từ các công ty Mỹ đang hoạt động tại Việt Nam nhằm gia tăng nổ lực tiên khởi này. Sứ quán Hoa Kỳ cũng đang làm việc với Văn Phòng Fulbright của Ngoại giao Mỹ và những văn phòng khác để bảo đảm là chúng tôi đang theo những điều lệ nhằm tránh những thủ lợi trong công việc.)

- Quỹ Giáo Dục Việt Nam (VEF) hiện đang cung ứng khoảng 70 tiến sĩ một năm. Sứ Quán cũng đang tìm cách để mở rộng chương trình này, trong cả hai mặt: quỹ tiền tài trợ cũng như các môn học mà nó đang ủng hộ.

- Dạy Anh văn cho thầy cô: Giáo viên giỏi sẽ làm gia tăng con số sinh viên có thể theo học ở Mỹ và tăng triển phẩm chất tổng quát trong phương pháp giảng dạy môn Anh ngữ mà hiện nay rất kém. Xây dựng thêm trên nỗ lực đáng kể hiện thời trong môn này qua chương trình Anh văn Đồng nghiệp (English Language Fellow) và các chương trình liên hệ đến  Sĩ quan Anh ngữ Trong Vùng (Regional English Language Officer: RELO), có trụ sở tại Bangkok, Thái Lan, Sứ Quán yêu cầu và đã nhận được tiền trợ cấp ECA giúp cho 10 người trợ giáo Anh văn Fulbright (English Teaching Assistants: ETAs), những người này sẽ bắt đầu làm việc tại 10 đại học vào tháng 9, 2008, mỗi người được dạy một niên khóa. Sứ quán cũng sẽ làm việc với các quan chức và giáo sư then chốt tạo xúc tác cho sự thành lập chương trình TESOL đầu tiên tại Việt nam (VietTESOL) sẽ giúp đào tạo chuyên môn cho các giáo viên Việt dạy Anh văn.

- Một nỗ lực Ngoại giao Công: Chúng ta đang xúc tiến ở nhiều mặt nhằm khuyến khích một số lớn các sinh viên Việt Nam có giỏi tận dụng cơ hội theo học các cấp cao học. Nhiều thống kê liên tục cho thấy Việt Nam nhận thực rằng Hoa Kỳ cung ứng nền giáo dục có phẩm chất cao nhất, tuy rằng cho đến nay đã có hàng ngàn sinh viên Việt vẫn tìm cơ hội du học ở Úc châu và các quốc gia khác, vì họ cho rằng tiêu chuẩn của Hoa Kỳ quá cao, nhất là trong việc xin chiếu khán xuất ngoại. Chúng ta đang cố gắng đổi thành tích này bằng cách với tay đến với họ. Những trình bày, chat trên mạng, và những cố gắng khác để "tìm đến họ" - thường do các viên chức lãnh sự quán đảm nhiệm - sẽ là điều cần thiết nhằm đảm bảo một số lớn các sinh viên Việt Nam biết được và tận dụng cơ hội du học ở Mỹ. Kết quả đáng mừng, với số sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ gia tăng một cách vượt trội.

- Nới rộng chương trình Trao Đổi: Chúng ta sẽ lợi dụng những chương trình sẵn có để giúp các viên chức đại học có cơ hội quan sát phương pháp giáo dục của Hoa Kỳ. Đại học Quôc Gia Việt Nam cho chúng ta biết mục tiêu hàng đầu của họ gồm có chuyện đào tạo các viên chức hành chánh của Đại học Quốc gia này (Vietnam National University: VNU) và các giáo sư trẻ trong các lớp quản trị cao học, phương pháp giảng dạy, và Anh ngữ, tốt nhất là huấn luyện tại Mỹ . Ngoài ra,  Bộ Giáo dục và Đào Tạo có ý định gởi một viện trưởng và một phó viện trưởng của mỗi đại học cũng như một hiệu trưởng và phó hiệu trưởng của mỗi trường trung học sang ngoại quốc huấn luyện. Post sẽ tìm cách ủng hộ những chương trình này, kể cả chuyện sử dụng chương trình Quốc Tế và Người Tình nguyện Thăm viếng và các đại học Hoa Kỳ nào muốn tiếp nhận những người tham gia trong chương trình này.

- Chánh phủ Hoa Kỳ ủng hộ các hợp tác công và tư: Những nhân viên của Sứ quán thường xuyên gặp đại diện các đại học Mỹ, những người thích khai phóng hay mờ rộng sự hợp tác với các đại học Việt Nam nhằm cung ứng những chỉ dẫn và tham vấn hay tiền bạc để trợ giúp các chương trình trao đổi. Hiện nay hơn 60 đại học Hoa Kỳ đã tham gia hợp tác với các đại học Việt Nam, gồm có chương trình trao đổi hai chiều giữa giáo viên hai nước và chuyện hợp tác viết giáo trình, chương trình chuyển trường "2+2" (sinh viên Việt Nam trong chương trình này học tiếp hai năm cuối cùng của 4 năm đại học tại một đại học Mỹ và sẽ được cấp bằng của Hoa Kỳ), và huấn luyện phương pháp giảng dạy cho các giáo sư trong những phân khoa chuyên môn như Anh văn, ngành y tá, kỹ sư, và doanh thương.

-  Dịch vụ Đề xướng Giáo dục Nước Ngoài: USDOC đang thực thi một chương trình quảng cáo mạnh mẽ, còn chờ chấp thuận tiền tài trợ, nhằm tiếp tục tạo hứng thú về các định chế giáo dục cao đẳng của Hoa Kỳ trong thị trường giáo dục Việt Nam. Chương trình này gồm sự thành lập trang mạng duhọchoakỳ.vn (tiếng Anh là "StudyInTheUS.com") các trang mạng hội chợ trao đổi, và các sinh hoạt liên quan đến việc giới thiệu các trường đại học Hoa Kỳ đến với các học đường Việt có tiếng nhất Việt Nam và những người truy lùng sinh viên giỏi, và các chương trình tiếp thị và hậu cần  cho chương trình hội chợ giáo dục hằng năm IIE ở Hà Nội và Sài gòn. Chiến dịch quảng cáo nhằm tăng cường sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ cũng như gia tăng chương trình giáo dục Hoa Kỳ tại Việt nam. Chú trọng đặc biệt về các lớp Anh ngữ cấp tốc, các trường đại học cộng đồng và thị trường các sinh viên sắp lên đại học 4 năm.

- Làm việc Văn Phòng Giao Thương Tiểu bang: Nỗ lực này nhắm quảng bá lợi ích mà các tiểu bang Hoa Kỳ có thể nhận được nếu họ trờ nên chủ động hơn trong ngành giáo dục hay thương mại ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ lấy thí dụ của tiểu bang Oklahoma, là một trong các cơ quan Mỹ đầu tiên tìm đến sinh viên và cách doanh thương ở Việt Nam, và hiện nay là tiểu bang đứng thứ ba về số sinh viên du học từ Việt Nam.

- Hội Nghị Giáo dục Thượng Đỉnh: Sứ Quán đang gởi hai viện trưởng đại học đến dự Hội Nghị Giáo dục Thượng Đỉnh và theo dõi sự kiện trong vùng do Ngoại Trưởng Rice chủ trì, Bộ trưởng Giáo dục Spelling, và giám đốc Fore của USAID đã diễn ra vào cuối tháng 4, 2008. Qua sự tham gia của họ, chúng tôi hy vọng thấy được sự gia tăng về số lượng và thứ loại trao đổi sinh viên giữa các đại học Mỹ và Việt Nam.

HÀNH ĐỘNG CẦN THIẾT: CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MỚI CẦN ĐƯỢC TÀI TRỢ MỚI CỦA HOA THỊNH ĐỐN

18. Trong khi chúng ta đã đạt nhiều tiến bộ, nguồn lực lớn hơn sẽ giúp chúng ta đi xa hơn trong mục tiêu này. Ở mức tối thiểu, chúng ta có thể giúp Việt Nam đào tạo các chuyên gia và các nhân viên có năng khiếu cần thiết để giữ chuyện phát triển kinh tế trên đà tiến của nó và nâng cấp dân số ra khỏi sự nghèo đói của họ. Nhìn một cách bao quát hơn, Hoa Kỳ có cơ hội uốn nắn hệ thống giáo dục Việt Nam theo một chiều hướng mà về lâu về dài Việt nam sẽ trở nên dân chủ hơn, trân trọng nhân quyền và tự do ngôn luận hơn, do đó sẽ bang giao mật thiết với Hoa Kỳ. Trong quan điểm này, ủng hộ chuyện cải cách giáo dục đồng nghĩa với sứ mạng cơ bản nhất của chúng ta. Cho nên, chúng ta đã nhận thức rằng những đề xướng dưới đâ đang cần hậu thuẫn của Hoa Thịnh Đốn:

$3 triệu Mỹ kim trong vấn đề giáo dục đã được yêu cầu trong bản Kế Hoạch Sứ Mệnh Chiến Lược niên khóa tài chánh 2010 vừa được hoàn tất gần đây. Mặc dù quyết định trong việc xử dụng số tiền này ra sao chưa được hoàn tất, chúng ta hình dung việc Cơ quan Phát Triển Quốc Tế của Hoa Kỳ (USAID) sẽ gởi một đội ngũ đến để lượng định những mục tiêu được nhà nước Việt Nam hoạch định thông qua Hội Nghị tháng Giêng vừa rồi. Một chuyện chúng ta có thể làm là phát triển một chương trình cải tổ đường lối giáo dục quốc gia (VN) ở những khâu như giảng dạy Anh ngữ, đào tạo và thẩm định giáo viên. Đề nghị này có thể làm theo mô hình STAR của USAID, một chương trình mà Hoa Kỳ đã gặt hái được nhiều cải cách đáng kể về kinh tế, cơ chế và pháp lý. Viện trợ nhắm về khâu giáo dục sẽ mang lại kết quả tương tự, những thay đổi tích cực và đáng kể sẽ giúp Việt Nam chuẩn bị ngõ hầu được thành công trong nền kinh tế toàn cầu. Ngoài ra, USAID sẽ tìm cách tăng trưởng những công trình hiện có như STAR, hầu phát huy chương trình huấn luyện giám đốc và đào tạo lãnh đạo giáo dục như là một phần của kế hoạch.

- Thiết lập một đại học Hoa Kỳ tại Việt Nam. Như đã nhắc đến phía trên đây, ủng hộ chuyện xây dựng một đại học Hoa Kỳ ờ Việt Nam sẽ cần đến $100 triệu Mỹ kim trong vòng 10 năm nhằm trả lương cho 100 giáo sư Hoa Kỳ và giám đốc.

- Gia tăng tài trợ để giúp quỹ du học Hoa Kỳ và giúp chính phủ Việt Nam đào tạo 2.500 tiến sĩ tại Hoa Kỳ cho đến năm 2020. Sự ủng hộ của chính phủ Mỹ đối với mục tiêu này có thể sẽ được thông qua từ chương trình Quỹ Giáo Dục Việt Nam (VEF) nới rộng, có thể bằng hai cách: tăng tiền cho quỹ VEF cũng như mở thêm những môn mà sinh viên đang theo học, như đã ghi nhận trong phần 11 trên đây. Hơn nữa, tiền tài trợ có thể được thu bằng cách mở một Chương trình Học bổng Tổng Thống tương tự như ở Nam Dương, một nơi mà mỗi năm đã gởi sang Hoa Kỳ từ 30 đến 40 sinh viên. Một chương trình tương tự ở Việt Nam có thể làm gia tăng con số sinh viên theo học chương trình M.A. hay M.S.

- Hội Chợ Dịch Vụ Thương mại Giáo dục Ngoại quốc ở Việt Nam. Ý kiến này hiện nay được đang được cứu xét, đồng thời với Dịch Vụ Thương mại Giáo dục Ngoại quốc sẽ xuất cảng những sinh hoạt tiếp thị, sẽ được xây dựng trên những nổ lực của Sứ quán bằng cách mang đến Việt Nam những đại học Mỹ muốn thu nạp sinh viên Việt và gầy dựng những mối tương quan với đại học Việt Nam. Tài trợ cho những đề xướng của Thẩm Quyền Đào Tạo Trao Đổi (Trade Development Authority: TDA) liên quan đến chuyện tuyển cử các sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ đã được đề nghị và hợp lý, vì sự "trao đổi trong dịch vụ" này có thể mang lại hàng triệu Mỹ kim một năm cho một kỹ nghệ nòng cốt cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ.

- Phát triển của một chương trình đặt trên mô hình mới của chính phủ Hoa Kỳ  "Đề Xướng Giáo dục Phi châu" (Africa Education Initiative: AEI) thực hiện qua cơ quan USAID. Trong một thời hạn 4 năm, Hoa Kỳ sẽ cung cấp $400 triệu Mỹ kim để đào tạo nửa triệu giáo chức và cấp học bổng cho 300.000 thanh niên. Một chương trình tương tự, rút nhỏ cho thích hợp với mục tiêu của Việt Nam, sẽ mang lại kết quả rất khả quan.

KẾT LUẬN

19. Nhiều người sẽ đọc thông tin này như một sớ Táo quân, và có lẽ họ sẽ lắc đầu thắc mắc vì sao một người xếp của Đại sứ quán lại đưa ra những đề nghị to tát như thế. Rõ ràng rằng đề xướng của chúng ta phải được cứu xét trong một thế giới với nhiều nhu cầu tranh giành ảnh hưởng khác nhau. Tuy vậy, tôi hy vọng rằng độc giả sẽ nhận ra chúng tôi đã thực hiện được những gì với những tài nguyên giới hạn sẵn có và hiểu thấu đáo rằng chúng ta đang đương đầu với một cơ hội trọng yếu và hiếm có hôm nay. Những yêu cầu 'khai phóng' mà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, một người sẽ gặp tổng thống Bush trong vòng vài tháng tới đây, đã thúc đẩy tôi viết thông điệp này. Chỉ cần một phần nhỏ ngân quỹ đang tiêu dùng cho những chương trình và hoạt động khác trong vùng, chúng ta có thể giúp uốn đất nước này theo chiều hướng sẽ đảm bảo có những ảnh hưởng  sâu đậm và khả quan trong nhiều thập niên tới. Nếu chúng ta muốn Việt Nam trong năm 2020 sẽ giống Nam Hàn hơn là Trung quốc, ngay bây giờ là lúc chúng ta phải hành động.

© 2008 www.danchimviet.com