Danchimviet - http://danchimviet.com
Giáo dục Việt Nam (1)
http://danchimviet.com/articles/405/1/Giao-dc-Vit-Nam-1/Page1.html
Michael Michalak

 
Tác Giả Michael Michalak
Đăng/Published on 09.09.08
 
Hệ thống giáo dục Việt Nam đang bị khủng hoảng và chuyện thiếu sót một nguồn nhân lực có đủ trình độ và khả năng là một yếu tố lớn nhất làm trì trệ sự tăng trưởng của Việt Nam và ngăn chận phát triển kinh tế.

Nguyễn-Khoa Thái Anh chuyển ngữ
LTS. Có "thù ghét" chế độ cầm quyền Hà Nội đến mấy, người ta không thể không để tâm đến nền giáo dục của đất nước và đề nghị sáng suốt của hai ông TT Dũng và PTT Nhân. Bản tường trình dưới đây của đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak - viết nhằm thu phục chính giới  Hoa Kỳ - cho thấy ông là một người quan tâm đến sự vững mạnh và tương lai dân chủ của Việt Nam, xứng đáng là đại diện hiểu biết của Hoa Kỳ. Quý vị đọc giả có thể đọc nguyên bản Anh ngữ trong link dưới đây:

http://viet-studies.info/us_vn_education_memo.htm

Tháng Tư 2008

1. Tóm Lược:
Hệ thống giáo dục Việt Nam đang bị khủng hoảng và chuyện thiếu sót một nguồn nhân lực có đủ trình độ và khả năng là một trong những yếu tố lớn nhất làm trì trệ sự tăng trưởng của Việt Nam và ngăn chận phát triển kinh tế ủa họ. Những quan chức cao cấp nhất của Việt Nam, kể cả thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hiểu rõ sự thử thách này và đã cụ thể kêu gọi sự tiếp tay của Hoa Kỳ trong việc giúp thay đổi phong thói Việt Nam trong việc giáo dục con dân của họ. Từ bỏ hệ thống giáo huấn lụn bại ngày hôm nay - một hệ thống hủ lậu mà phần lớn gồm những nhà giáo dục không đủ điều kiện, nhưng được bao che - không phải là dễ, tuy nhiên Hoa kỳ đang có một cơ hội hiếm có để mang lại sự cải tiến và đánh dấu sâu đậm chuẩn mực của mình lên nền giáo dục Việt Nam trong một tương lai khá xa. Để bắt đầu, Thủ tướng Dũng hứa bỏ tiền xây dựng một khuôn viên đại học với mô hình Hoa Kỳ, phía Hoa Kỳ sẽ cung ứng một viện trưởng đại học, cộng với ban giảng huấn và khâu hành chánh. Ông Dũng cũng yêu cầu Mỹ giúp khai giảng các khoa học tiến sĩ (Ph.D.) tại Hoa Kỳ, có thể đào tạo ít ra là 2,500 sinh viên trẻ, với sự đồng thuận là các nam nữ sinh viên này sẽ trở về Việt Nam theo dạng các hạt nhân ưu tú trong các địa hạt chính trị và hàn lâm cho nhiều thập niên tới. Phần lớn các sinh viên này sẽ được Việt Nam tài trợ.

2. Tôi tin rằng có lẽ cách đáp ứng tích cực với những yêu cầu này đã đi đôi với cuộc gặp gỡ trong mùa Hè qua giữa Tổng thống Bush và Thủ tướng Dũng, sẽ nằm trong chiều hướng ích lợi cho Hoa Kỳ. Bằng cách hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Nam, chúng ta không những sẽ bảo đảm cho hàng chục triệu sinh viên Việt mà còn giúp cho phụ huynh hay bố mẹ hãy trân-quý-nền-học-vấn của con em, thấy được Hoa Kỳ là đối tác then chốt trong tương lai cá nhân cũng như tương lai chung của họ. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ được nhìn nhận là gương mẫu "Tiêu chuẩn Toàn Cầu" mà Việt Nam đang cố theo và sẽ vượt qua. Sự quan hệ tích cực ngay lúc này của chúng ta sẽ tạo ra một cơ hội thuận tiện cho cả Sứ Mệnh của Hoa Kỳ (thông qua Đại sứ quán) giúp người Việt có thiện cảm với Hoa Kỳ, cũng như tạo hậu thuẫn cho một chính quyền dân chủ có sự tham gia đóng góp của nhiều người trong nước (Việt Nam). Dùng những nguồn lực sẵn có, chúng ta đã tham gia nhiều chương trình và những đề xướng nhằm giúp Việt Nam hiện đại hóa hệ thống giáo dục của họ và đào luyện cho một thế hệ lãnh đạo mới của Việt Nam. Gia tăng nguồn tài trợ đối ngoại lúc này và nâng đỡ chuyện xây dựng những hợp tác có chiến lược công và tư rộng lớn sẽ triển khai tối đa ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên nền giáo dục của Việt Nam và do đó định hướng tương lai của xã hội Việt Nam. Những yêu cầu cụ thể cho các đề xướng với Bộ Ngoại Giao mới, USAID (United States Agency for International Development Cơ Quan Phát Triển Thế Giới của Hoa Kỳ) và Dịch vụ Thương Mại Đối Ngoại (Foreign Commercial Service: FCS) được liệt kê trong đoạn 18.

TÌNH TRẠNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

3. Việt Nam hiện đương đầu với một khủng hoảng trong hệ thống giáo dục ở mọi tầng lớp, đe dọa sự tiến bộ về kinh tế và hội nhập toàn cầu mà họ đang đeo đuổi. Quan chức bị thiếu đào tạo về giáo dục hành chánh, giáo chức bị đào tạo kém cỏi với mức lương thiếu hụt, tệ tham nhũng hoành hành ở khắp mọi tầng lớp trong ngành giáo dục. Lại nữa, cơ hội vào đại học rất giới hạn, vì hệ thống chỉ có thể tiếp nhận một tỉ số nhỏ so với lượng sinh viên đang tìm cách nhập học. Năm 2007, các đại học Việt Nam có chỗ cho 300,000 sinh viên trên tổng số 1.8 triệu thí sinh đã thi vào đại học. Mặc dù số sinh viên vào đại học đã tăng gấp hai từ 1990, con số giáo viên gần như vẫn không thay đổi, một số liệu làm cho những chuyên gia lo ngại. Bất kể con số sinh viên tăng trưởng, Việt Nam đứng chót trong vùng, tính theo phần trăm số sinh viên theo học ở trình độ thứ ba (đại học), chỉ có 10 phần trăm so với Trung quốc 15%, Thái Lan 41% và Nam Hàn 89%, theo thống kê của Ngân Hàng Quốc Tế/World Bank. Ngay cả đối với những sinh viên may mắn được theo học đại học, họ phải đối đầu với một hệ thống mà giáo viên chỉ được trả độc nhất theo từng lớp dạy mà không dựa trên một cơ chế tối thiểu nào để đảm bảo cho một sự giảng dạy có chất lượng. Bằng tiến sĩ được mua bán, và được bổ nhiệm vào một chân giáo sư chỉ là một thủ tục giấy tờ rối rắm, không phải một danh dự có liên hệ đến một sự nghiệp giảng dạy.

4. Tệ hại hơn nữa, tham nhũng tràn lan như ung thư, xâm lấn cả một hệ thống giáo dục. Các hiệu trưởng và thầy giáo ít lương phải mua chức vị của mình, rồi lại làm tiền phụ huynh, khi họ phải trả tiền nhập học cho con, rồi phải trả thêm tiền cho giáo viên chấm điểm cho con mình. Cho đến gần đây, gian lận bởi thầy cô trong những cuộc thi toàn quốc là chuyện thường tình, nhất là khi kết quả xấu mang lại phản ảnh không tốt cho "chế độ." Thật dễ đoán khi Việt Nam bị bỏ rơi sau lưng các nước lân cận trong công tác đào tạo kiến thức và phát minh. Năm 2006, hai đại học thuộc hàng đầu Hà Nội -- Đại học Quốc Gia và Đại học Công Nghệ Hà Nội - chỉ xuất bản được 34 luận án về khoa học so với 4.556 luận án của Đại học Quốc Gia của Seoul, Nam Hàn và gần 3.000 luận án của Đại học Bắc Kinh. Việt Nam cũng xếp hạng rất thấp trong chuyện đo lường khả năng sáng chế, trong năm 2006, Việt Nam chỉ nộp võn vẹn 2 bản đơn xin cầu chứng bản quyền, so với 40.000 ở Trung quốc.

Sự lụn bại trong hệ thống giáo dục của Việt Nam cũng đã mang lại hệ quả là các đại học không thể đào tạo nổi các giám đốc và quản lý có đủ trình độ học vấn cần thiết cho một nền kinh tế canh tân của đất nước.  Chuyện thiếu hụt một nguồn nhân lực là một nhân tố nghiêm trọng nhất, ngăn chận sự thăng tiến của quốc gia cũng như sự phát triển của kinh tế họ, đây là một dữ kiện được thị trưởng thành phố Sài gòn nhấn mạnh trong buổ họp ngày 17 tháng 4 với Tổng thư ký Y tế và Dịch vụ Con Người, Leavitt (Hoa Kỳ). Để lấy thí dụ cho chuyện thiếu hụt này, một công ty công nghệ cao/hi-tech Hoa Kỳ cho biết đã phỏng vấn 2.000 sinh viên mới ra trường - thành phần sinh viên được kể là ưu tú và sáng giá nhất - thế mà họ phát hiện chỉ có 40 người là hội đủ những đòi hỏi tối thiểu để được nhận việc. Tình trạng này không phải là hậu quả thiếu hụt của nguồn tài trợ cho nền giáo dục công lập, hiện nay là 4.3 % trên tổng sản lượng quốc gia. Trong trường hợp này, mức  đầu tư của Việt Nam cho hệ thống gíáo dục cao hơn các nước láng giềng như Trung quốc, Hàn quốc, Phi luật Tân, hay Thái Lan. Đây là một điều trớ trêu đáng buồn, vì rất nhiều bậc cha mẹ trong xã hội Khổng học này có thể cầm cả linh hồn họ để củng cố cho một nền giáo dục tốt đẹp con em có thể theo. Nếu tính tất cả mọi khoản chi phí nhằm lo toan cho giáo dục của con cái mình, phụ huynh ở Việt Nam đã tiêu pha khá rộng rãi với hy vọng đẩy mạnh học vấn cho con em mình, nhưng thảm thương thay họ chẳng thu nhặt được bao nhiêu.

DỰ HOẠCH VÀ MỤC TIÊU GIÁO DỤC VIỆT-NAM

6. Lãnh đạo tối cao của Việt Nam nhận diện ra vấn đề, họ muốn cải thiện phạm trù giáo dục hiện nay. Người được Thủ tướng Dũng chọn để đẩy mạnh chuyện này là phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, đồng thời cũng là Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo, một học giả trong chương trình Fulbright. Ông Nhân đã vạch ra một chương trình to lớn để tái thiết nền giáo dục quốc gia nhằm đương đầu với những khiếm khuyết lớn lao hiện nay. Ưu tiên được dành cho chuyện mở rộng giáo dục toàn diện (đề cao chuyện ghi danh cho nữ giới, dân tộc thiểu số và những kẻ bị khốn khó, những người cho đến nay vẫn thiếu vắng trong hệ thống giáo dục), tu bổ lại chương trình huấn luyện giáo chức, sửa đổi toàn diện gíáo trình quốc gia trong mọi môn, mọi trình độ, phát triển một chương trình thẩm định và thừa nhận giáo trình một cách nhất quán, chính thức và toàn diện, thiết lập một nền học vấn ở môi tầng  thứ ba, một đại học được quốc tế công nhận, cũng như cải tổ phẩm lượng của giáo chức bằng cách cho họ tu bổ, theo học một chương trình học vấn tiếp nối và cạnh tranh. Ông ta cũng nhấn mạnh chuyện thu thập một nguồn sinh ngữ - nhất là Anh văn - cho học sinh, bắt đầu từ tiểu học, cũng như tăng thêm phần hiệu năng về Tin học. Nhằm thực thi hữu hiệu những cải cách này, ông cũng nhấn mạnh sự huấn luyện cho các hiệu trưởng, viện trưởng và phân khoa trưởng và ông cũng yêu cầu nhà nước đầu tư một ngân sách lớn ở mọi trình độ giáo dục và tăng lương  một cách đáng kể cho giáo chức.

7.  Bộ trưởng Nhân cũng bày tỏ một ước muốn không có tiền lệ: mở rộng nền giáo dục Việt Nam nhờ Hoa Kỳ tham gia trong quá trình cải tổ. Ông đề nghị cải thiện theo một số mô hình và đường lối thực thi của Hoa kỳ kể cả có pháp lệnh bắt buộc học sinh phải đi học, thiết lập một tiêu chuẩn giáo án có chất lượng tối thiểu, lập phương án thẩm định và phê chuẩn giáo trình toàn quốc, lập kế hoạch phát triển giáo trình và dự án, thiết lập một hệ thống giáo dục tổng quát ở cấp đại học bằng cách ấn định hệ số cho các môn học và thời gian theo học bằng tín chỉ (credit).  Hơn nữa, các giám đốc ở Đại học Quốc Gia Việt Nam đã tìm ra mục tiêu khẩn thiết cho viên chức và ban giáo sư trẻ của họ, nhất là trong những phạm trù như quản trị cao học, phương pháp giảng dạy, và Anh văn. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã vạch rõ những mục tiêu tương tự cho lãnh đạo các trường trung học và đại học. Quan chức cũng cho chúng tôi biết họ mong muốn các chương trình này được thực thi ở Mỹ.

8. Một thí dụ cho thấy sự cởi mở của Việt Nam, mong áp dụng mô hình thực hành phương pháp giáo dục của Hoa Kỳ: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã cho phép mười phân khoa trong chín trường đại học được áp dụng toàn bộ chương trình giáo dục của Hoa Kỳ từ trên xuống dưới, kể cả chương trình giáo khoa, cách thiết lập các môn học, giáo khoa và ấn phẩm, các phương pháp giảng dạy lấy sinh viên làm chuẩn, và tất cả các môn học được dạy bằng tiếng Anh. Thí dụ như đại học Cần Thơ đã rập khuôn áp dụng chương trình Sinh vật phân tử học cũng như các môn Sinh Hóa học của Đại học Michigan State, và Đại học Kinh Tế học Quốc gia đã lập Phân khoa Tài Chánh của họ dựa theo chươmg trinh của Đại học California State ở Long Beach. Ngoài ra, một chương trình tốt nghiệp với bằng Luật sẽ được khai giảng tại Đại học Cần Thơ khoá mùa Thu này, chương trình sẽ có một bước đi khai phá với đường lối, lý thuyết và cách học như vẹt hiện đang được áp dụng tại các trường Luật ở Việt Nam bằng cách thu nhận phương pháp học theo từng án lý (vụ án) như các trường Luật của Tây phương. Chương trình Luật ở Đại học Cần Thơ sẽ được hình thành nhờ những nỗ lực không ngừng nghỉ của một giáo sư tốt nghiệp Luật khoa tại Harvard và một đại học ở Hà Lan. Một đại học khai phóng nữa là Đại học Quốc Gia ở thành phố Hồ chí Minh (VNU-HCMC), một nơi mà một "Đại học Quốc tế" đã được mở, dùng Anh ngữ là ngôn ngữ giảng dạy và tất cả các ngành học đều theo mô hình của Mỹ, Úc hoặc Âu châu. VNU-HCMC mướn nhiều giáo sư Việt kiều (kể cà người Mỹ) và các giáo sư Việt có bằng quốc tế.

VIỆT-NAM TÌM TRỢ GIÚP Ở CÁC NƯỚC NGOÀI

9. Việt Nam phải đối đầu với sự thâm hụt ngân sách khoảng $100 triệu Mỹ kim một năm trong việc tài trợ chương trình giáo dục của họ và họ đang tìm cách thu hẹp khoảng cách bằng cách tìm nguồn tài trợ quốc tế để trang trải và trợ giúp cho các khâu cải cách giáo dục. Trong một cuộc họp với Đại sứ Michalak, phó thủ tướng Nhân yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ giúp Việt Nam cụ thể trong hai khâu chính, một điều mà ông cho sẽ có ảnh hưởng nhiều đến bang giao giữa hai nước:
1) Thành lập một đại học Mỹ ở Việt Nam; và,
2) Đào tạo từ nay cho đến năm 2020, 2,500 tiến sĩ (Ph.D.) Việt Nam tại Hoa Kỳ.

10. Đại học Hoa Kỳ sẽ là một đại học Mỹ xuyên suốt, với ban quản trị, giáo án, phương pháp và đường lối giảng dạy hoàn toàn Mỹ. Giáo sư Mỹ sẽ cho biết cần những thiết bị và máy móc gì và sẽ đảm trách tất cả mọi quyết định về giáo lý và hành chánh nhằm đảm bảo đại học sẽ hội đủ tiêu chuẩn của Hoa Kỳ. Viện trưởng của Đại học sẽ là người Mỹ trong vòng 10 năm đầu, và tất cả mọi lớp sẽ được giảng dạy bằng tiếng Anh. Đại học sẽ, ở một dung lượng tối đa, thâu nhận từ 5.000 đến 10.000 sinh viên một năm, và sẽ có một số chuyên khoa (có thể) là 7, kể cả Doanh thương, Quản trị Hành chánh và Sinh học Công nghệ. Trong mô hình này, mỗi phân khoa hay ban giảng huấn sẽ được một đại học Hoa Kỳ khác nhau đảm nhiệm. Để thành lập Đại học Hoa Kỳ, ông Thủ tướng Việt Nam cho biết sẽ dự tính vay khoảng $100 triệu để mua đất, xây cất các phòng ốc, và trang bị các phòng thí nghiệm. Ông ta đang trông vào Hoa Kỳ trong việc tuyển chọn và trả lương cho ban giáo sư và ban quản trị trong 10 năm đầu. Trong kế hoạch này, 80% ban giáo sư sẽ là Mỹ khi đại học mới khai giảng, con số này sẽ giảm xuống 20 phần trăm sau 10 năm khi những thành viên Việt Nam hội đủ tiêu chuẩn sau khi được đào luyện xong. Ước tính sơ khởi cho thấy phí tổn cho nhân lực Hoa Kỳ trong 10 năm vào khoảng 100 triệu Mỹ kim.

11. Huấn luyện 2.500 tiến sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ nằm trong một chương trình bao quát hơn nhằm đào tạo 20.000 tiến sĩ, một nửa ở Việt Nam, một nửa ở ngoại quốc. Hoa Kỳ, xuyên qua Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF: Vietnamese Education Fund), hiện đang tài trợ du học ở Mỹ cho 70 tiến sĩ Việt Nam mỗi năm, nhưng chỉ nằm trong các môn chuyên về khoa học kỹ thuật. Do đó Việt Nam đang nhờ Mỹ viện trợ trong việc tạo ra một hệ thống để tìm ra các trường Mỹ cũng như gia giảm phí tổn hoặc tìm thêm tiền tài trợ cho 160 thí sinh tiến sĩ mỗi năm hầu có thể đạt được mục tiêu to tát này. Chương trình du học của Việt Nam hiện nay chỉ tài trợ cho một số phần hay trọn gói kinh phí cho một số sinh viên này.


© 2008 www.danchimviet.com