- Trang Chủ
- Truyện Ngắn
- Tết trung thu
Tết trung thu
- Tác Giả: Huỳnh Ngọc Tuấn
- Đăng ngày 10.09.08
- Truyện Ngắn
-
Xếp hạng:




Một mùa thu đất Quảng trời dịu mát, người ta chỉ nhận ra mùa thu khi lá những cây bàng ngả màu, trời nhiều mây và rất dịu dàng - những cơn gió thoảng làm hàng cây xào xạo, hương sắc mùa thu tinh tế tuyệt vời.
Căn nhà nhỏ mái ngói vách ván xinh xinh ở một miền quê yên tĩnh thật ấm cúng nếu như hai năm trước đây vợ tôi không bỏ ba con tôi mà đi trong một tai nạn thương tâm. Ngày mai đã là Tết Trung thu. Trên khoảng sân nhỏ lót gạch với hoa móng tay và hoa mười giờ viền chung quanh, cha con tôi: Thục Vy 8 tuổi, Khánh Vy 6 tuổi, Trọng Hiếu 4 tuổi, chuẩn bị đón Tết.
Với những thanh tre nhỏ, mấy sợi dây đồng, một ít giấy màu, tôi thận trọng ghép chúng thành hình ông sao. Tôi vốn vụng về ,nhưng vì thương con nên cũng cố gắng.Thục vy dán hồ,cháu làm vung vãi,nhưng vì muốn chứng minh mình là chị, là người lớn trước mặt các em nên tôi chìu ý để cháu làm. Khánh Vy chăm chú nhìn tôi với vẻ thán phục, nét mặt rạng rỡ, đôi mắt long lanh đen nhánh, mái tóc gợn sóng thật đẹp. Còn cu Hiếu ngồi xếp bằng dưới nên gạch chiếc quần thủng đáy lấm lem, miệng nói bất tận và cũng muốn tham gia công việc, nó làm hỏng mấy cái nan tre liền.
Khánh Vy vỗ về em rất là người lớn, bàn tay bé tí mũm mĩm vuốt ve đôi má bầu bỉnh của cu Hiếu:
- Cu Hiếu ngoan, đừng phá,để ba và chị hai làm lồng đèn cho Hiếu nghe.
Hiếu “ạ” rất dễ thương và ngồi yên được một chút.
Cuối cùng, ba chiếc lồng đèn nhỏ đã xong. Lúc ấy, trời vừa chập choạng tối, các con tôi đã giục:
- Đốt đèn lên đi ba .
Ba cây nến nhỏ được đặt vào trong lồng đèn và đốt lên, toả ra muôn tia sáng màu đỏ, màu vàng, màu xanh rực rỡ nhưng không rực rỡ bằng đôi mắt của các con tôi. Một chiếc treo trong nhà, một chiếc ở mái hiên,và một chiếc trên cây mai trước sân.
Tiếng trống Trung thu đâu đó rộn ràng vọng lại, các con tôi tung tăng từ nhà ra sân ra vườn chờ trăng lên. Và ông trăng như cảm nhận được sự chờ đợi đầy háo hức của các con tôi nên cũng lên sớm, ánh bạc huyền ảo trải đầy sân, đầy vườn, vướng mắc trên những cành cây. Tôi trải chiếu ra sân bày những chiếc bánh Trung thu tôi mua từ hôm trước ra mấy chiếc đĩa con với một ấm trà thật ngon. Cả nhà vui vẻ vừa ăn bánh uống trà và hát. Các con tôi tranh nhau hát nghêu ngao, không đầu không cuối: “Ông trăng xuống chơi cây cau”.
Thục Vy đặt bàn tay nhỏ nhắn lên tay tôi và nói:
- Sang năm mình làm cỗ thật lớn, lồng đèn thật lớn nghe ba.
Tôi ừ, Khánh Vy cũng đặt tay lên tay tôi và nói như vậy tôi cũng ừ.
Trọng Hiếu với vẻ mặt thật trang trọng, nói như lặp lại từng lời của hai chị, tôi lại: “ừ” và thêm:
- Chắc chắn như vậy.
Cu Hiếu bắt chước tôi, gật gật đầu :
- Chắc chắn như vậy.
Cả nhà cùng cười ngất. Đêm Trung thu thật tuyệt vời. Trăng lên cao, tròn và sáng. Ánh trăng lung linh rơi xuống sân. Mảnh sân nhỏ nhắn, chung quanh được viền bằng hoa móng tay và hoa mười giờ.
Ánh trăng thấm đẫm trên những mái tóc thiên thần của các con tôi. Từ phía trong nhà, cô Hồng cô Hường giục:
- Thôi đến giờ ngủ rồi, hẹn Trung thu sang năm.
Các con tôi miễn cưỡng lên giường. Cu hiếu vừa ngáp vừa nhắc lại:
- Hẹn Trung thu sang năm, nghe ba.
Tôi “ừ”.
* * *
Rồi một ngày cuối thu, vẫn những cơn gió nhẹ quyến luyến những hàng cây ven đường, vẫn chiều vàng nắng nhẹ trời đầy mây trắng. Tôi ngồi nắn nót chép lại những truyện ngắn của mình từ bản thảo sang quyển tập học trò. Các con tôi vẫn nô đùa trong sân .Thục Vy và Khánh Vy chơi trò nấu ăn với những vỏ sò, vỏ ốc tôi nhặt về cho các con trong những lần đi dạo ngoài bãi biển.
Trọng Hiếu ngồi trên một chiếc ghế thật thấp. Thục Vy hỏi:
- Anh ăn gì, phở bắc nhé, phở hàng tôi ngon lắm!
- Cho hai tô - cu Hiếu nói.
- Anh ăn hai tô luôn hả? Ăn chi mà kinh rứa!
Khánh Vy nói. Rồi các cháu cười vang.
Bỗng đâu, có hai chiếc xe chở đầy công an, mặc sắc phục, thường phục ập vào nhà. Một số người khác thì vây quanh, đứng rải rác trên đường ngoài ngõ, súng ống lách cách. Họ giẫm đạp lên những vỏ sò, vỏ ốc của các con tôi đang chơi ngoài sân làm các cháu hoảng sợ. Thục Vy thì nép vào một góc nhà cu Hiếu ôm chặc cổ cô Hường, Khánh vy ôm bà nội, các cháu ngơ ngác nhìn những gì đang diễn ra, kinh hoàng đến nỗi không dám khóc - một phản ứng tự nhiên của trẻ thơ trước những điều khủng khiếp. Tôi nhìn thấy các con, đôi mắt và gương mặt thất thần.
Họ đọc lệnh bắt tôi với tội danh tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa. Và lệnh khám xét nhà cũng được thực hiện. Họ lục tung tất cả sách vở của tôi và các cháu, từng hộc tủ, từng góc nhà, từng hòm quần áo. Họ thu giữ hết những gì tôi viết - cả ngàn trang bản thảo và tập thơ tôi làm từ những ngày rất bé - những bài thơ của tuổi thơ và tuổi đang yêu và hiện tại, là kỉ niệm của cuộc đời tôi. Những suy tư tình cảm của tôi, những khát vọng và đau đớn của tôi giờ đây trở thành tội chứng.
Tôi ôm hôn các con trước khi từ biệt. Ôm ba đứa con vào lòng, nước mắt tự nhiên ràng rụa. Mùi tóc của các con sao mà thơm thế, đôi mắt của các con sao mà sáng thế .“Tạm biệt các thiên thần của ba”.
Khi tôi bị còng tay dẫn đi, các con tôi chạy ùa ra giữ chặc lấy tôi, miệng méo máo kêu gào van xin:
- Con xin mấy chú đừng bắt ba con. Con xin mấy chú.
Tôi phải nói với các con:
- Rồi ba sẽ về mà, các con phải ngoan, phải chăm học.
Tôi bị còng tay dính vào ghế xe, nhìn ngôi nhà thân thương một lần nữa. Khi xe chạy, các con tôi chạy theo sau một đoạn. Tôi nhìn bóng dáng nhỏ bé của các con xa dần… Con đường đất đỏ, hàng cây và những ngôi nhà nhỏ bé, nghèo nàn, những người quen biết, tất cả dâng lên trong lòng tôi một cảm giác xót xa. Tôi tự hỏi: “Có bao giờ mình quay lại chốn này, nhìn lại quê hương, được trở về nhìn lại người thân và các con không?
* * *
Sau hai tiếng đồng hồ xử án (với một lần đình toà), không luật sư, không có một phương tiện thông tin nào trung thực và công khai về phiên toà. Tôi bị kết án 10 năm tù giam và 4 năm quản chế.
Sau 6 tháng biệt giam, tôi được chuyển đến trại giam An Điềm trên một chiếc xe tồi tàn và chật chội, với cái còng tay quá chặt. Con đường gập ghềnh, chao lắc làm cho người tù đã khổ lại khổ thêm. Nhưng khi đi qua những nơi quen thuộc, tôi cố nhoài người nhìn cho kĩ hình ảnh của quê hương. Đây là Phước Tường - Cầu Đỏ - Hoà Cầm, hình ảnh quê hương máu thịt như đã bị cắt rời, tôi cảm thấy quê hương bây giờ không còn là của mình,mình cũng không còn thuộc về quê hương.
Trong lòng vẫn rực cháy tình yêu quê hương thiết tha nhưng sao lại thấy xa lạ quá - cái cảm giác của một người bị mất một phần thân thể một cánh tay, một bàn chân. Nó ở đó trước mắt nhưng không còn thuộc về mình nữa. Tôi thấy đau buồn và tuyệt vọng…
Xe đi ngang qua một trường tiểu học, lúc tan trường nhìn những chú bé lưng đeo balô, mái tóc, dáng đi sao mà giống con tôi quá. Không biết bây giờ Thục Vy, Khánh Vy đi học về chưa, nắng mưa ai đưa đón? Tôi thấy những cháu bé được cha mẹ đưa đón, dáng bé con ngồi sau ôm lưng cha mẹ vui mừng, nũng nịu. Tôi không cầm được nước mắt: các con tôi không còn ai để vui mừng, không còn ai để mà nũng nịu. Tôi hình dung các con tôi lầm lũi một mình trên con đường hun hút.
Đến trại An Điềm, tôi được đưa đến một hội trường để khám xét đồ đạc. Tôi bị một trận đòn theo thông lệ. Trận đòn làm tôi choáng cả người.
Sau đó là những ngày lao động khổ sai. Tôi đen và gầy đi rất nhiều, những mùa cấy - gặt lúa, dưới cái nắng cháy da, khát nước đến cháy cổ, phải uống cả nước ruộng. Rồi những cơn mưa tầm tả, dai dẳng, lạnh cóng cả người. Nhưng khủng khiếp nhất là những trận đòn, những biện pháp cách ly - không được trò chuyện với ai, không ai được trao đổi với mình. Không hoàn thành nổi chỉ tiêu lao động - cái chỉ tiêu chết người thì bị cho là “chai lười” lao động, là chống đối. Như vậy là phải “ngồi nội qui”, mọi người đi làm về được nghỉ ngơi, mình phải ngồi đối diện với những điều nội qui nghiệt ngã, mắt nặng trĩu vì buồn ngủ, cơ thể đau mỏi rả rời sau những giờ lao động nặng nhọc.
Nhưng bất hạnh lớn nhất vẫn là nỗi đau xa con, xa những thiên thần bé nhỏ. Đâu rồi những buổi chiều đi làm về, các con chạy ùa ra đón ba, tranh nhau kể những chuyện xảy ra ở trường, ở nhà, ở xóm, chuyện đôi dép mới của bạn cùng lớp, chuyện điểm 10 môn Toán, chuyện đám cưới ai đó và cả chuyện con chó nhà hàng xóm đẻ được ba con chó nhỏ xinh xinh. Còn đâu những lần cha con tôi đi viếng mộ của má, những bông hoa nhỏ các con tôi hái từ vườn nhà ngoại đem dâng cúng má và còn đâu những đêm trăng trên mảnh sân hẹp cha con tôi quây quần bên chiếc bàn nhỏ để ngắm trăng.Tôi không còn biết thời gian là gì. Không có lịch, không có tivi, không có đồng hồ. Mùa thu đã đến tự bao giờ không hay…
Một hôm, anh đội trưởng kêu tôi lại giao cho một nhiệm vụ: dán lồng đèn cho con của một cán bộ. Tôi không thể từ chối… lưỡng lự một chút, tôi phải chấp nhận. Tôi tự nhủ công việc nào cũng là công việc, ít ra cũng được nhẹ nhàng một ngày, hơn nữa trẻ con dù là con ai cũng là trẻ con thôi. Tôi quyết định dồn tình yêu và nỗi nhớ con vào từng thanh tre nhỏ, từng mảnh giấy màu để làm một chiếc lồng đèn thật đẹp. Vừa dán những mảnh giấy đỏ vàng xanh vào khung tre chiếc lồng đèn ông sao, nước mắt chảy dài không sao kìm chế được. Nước mắt làm nhoà cả chiếc kéo trên tay và mọi vật chung quanh. Tôi phải dừng công việc rất nhiều lần…
Tôi hình dung ngôi nhà nhỏ ở một miền quê yên tĩnh, trên mảnh sân hẹp, chung quanh viền hoa móng tay và hoa mười giờ. Các con tôi đang vót những thanh tre nhỏ để làm lồng đèn đón Tết trung thu. Không biết các con tôi có bị đứt tay hay không, có dán giấy màu được không? Cu hiếu sẽ không còn phá phách và nói bi bô nữa, chắc nó sẽ buồn thiu, còn Khánh Vy sẽ vỗ về em bằng bàn tay nhỏ bé và sẽ khóc vì không có ba, cháu là một đứa bé nhạy cảm. Thục Vy sẽ trở thành người lớn giữa các em mà không cần phải chứng tỏ mình. Đêm Trung thu có bánh không? Không còn ai vỗ tay bắt nhịp cho bài “ông trăng xuống chơi cây cau”, không có ba ai đốt nến, không khéo thì lồng đèn cháy mất. Ai sẽ treo lồng đèn lên cao, không có ba, còn thức đón trăng với ai? Chắc là ngôi nhà sẽ buồn thiu… còn lời hứa với các con: “Sẽ làm cỗ lớn, lồng đèn lớn hơn, đẹp hơn” không thực hiện được. Ba đành lỗi hẹn với các con rồi. Các con sẽ buồn, sẽ khóc.
Trong nước mắt nhớ con, trong nỗi đau quằn quại, tôi vẫn tin rằng một ngày nào đó tự do và dân chủ sẽ đến với đất nước tôi, dân tộc tôi, để không còn ai phải chịu nỗi thống khổ và bất hạnh như cha con tôi nữa.
Tự truyện của Huỳnh Ngọc Tuấn - Mùa thu 1992
© www.danchimviet.com
Căn nhà nhỏ mái ngói vách ván xinh xinh ở một miền quê yên tĩnh thật ấm cúng nếu như hai năm trước đây vợ tôi không bỏ ba con tôi mà đi trong một tai nạn thương tâm. Ngày mai đã là Tết Trung thu. Trên khoảng sân nhỏ lót gạch với hoa móng tay và hoa mười giờ viền chung quanh, cha con tôi: Thục Vy 8 tuổi, Khánh Vy 6 tuổi, Trọng Hiếu 4 tuổi, chuẩn bị đón Tết.
Với những thanh tre nhỏ, mấy sợi dây đồng, một ít giấy màu, tôi thận trọng ghép chúng thành hình ông sao. Tôi vốn vụng về ,nhưng vì thương con nên cũng cố gắng.Thục vy dán hồ,cháu làm vung vãi,nhưng vì muốn chứng minh mình là chị, là người lớn trước mặt các em nên tôi chìu ý để cháu làm. Khánh Vy chăm chú nhìn tôi với vẻ thán phục, nét mặt rạng rỡ, đôi mắt long lanh đen nhánh, mái tóc gợn sóng thật đẹp. Còn cu Hiếu ngồi xếp bằng dưới nên gạch chiếc quần thủng đáy lấm lem, miệng nói bất tận và cũng muốn tham gia công việc, nó làm hỏng mấy cái nan tre liền.
Khánh Vy vỗ về em rất là người lớn, bàn tay bé tí mũm mĩm vuốt ve đôi má bầu bỉnh của cu Hiếu:
- Cu Hiếu ngoan, đừng phá,để ba và chị hai làm lồng đèn cho Hiếu nghe.
Hiếu “ạ” rất dễ thương và ngồi yên được một chút.
Cuối cùng, ba chiếc lồng đèn nhỏ đã xong. Lúc ấy, trời vừa chập choạng tối, các con tôi đã giục:
- Đốt đèn lên đi ba .
Ba cây nến nhỏ được đặt vào trong lồng đèn và đốt lên, toả ra muôn tia sáng màu đỏ, màu vàng, màu xanh rực rỡ nhưng không rực rỡ bằng đôi mắt của các con tôi. Một chiếc treo trong nhà, một chiếc ở mái hiên,và một chiếc trên cây mai trước sân.
Tiếng trống Trung thu đâu đó rộn ràng vọng lại, các con tôi tung tăng từ nhà ra sân ra vườn chờ trăng lên. Và ông trăng như cảm nhận được sự chờ đợi đầy háo hức của các con tôi nên cũng lên sớm, ánh bạc huyền ảo trải đầy sân, đầy vườn, vướng mắc trên những cành cây. Tôi trải chiếu ra sân bày những chiếc bánh Trung thu tôi mua từ hôm trước ra mấy chiếc đĩa con với một ấm trà thật ngon. Cả nhà vui vẻ vừa ăn bánh uống trà và hát. Các con tôi tranh nhau hát nghêu ngao, không đầu không cuối: “Ông trăng xuống chơi cây cau”.
Thục Vy đặt bàn tay nhỏ nhắn lên tay tôi và nói:
- Sang năm mình làm cỗ thật lớn, lồng đèn thật lớn nghe ba.
Tôi ừ, Khánh Vy cũng đặt tay lên tay tôi và nói như vậy tôi cũng ừ.
Trọng Hiếu với vẻ mặt thật trang trọng, nói như lặp lại từng lời của hai chị, tôi lại: “ừ” và thêm:
- Chắc chắn như vậy.
Cu Hiếu bắt chước tôi, gật gật đầu :
- Chắc chắn như vậy.
Cả nhà cùng cười ngất. Đêm Trung thu thật tuyệt vời. Trăng lên cao, tròn và sáng. Ánh trăng lung linh rơi xuống sân. Mảnh sân nhỏ nhắn, chung quanh được viền bằng hoa móng tay và hoa mười giờ.
Ánh trăng thấm đẫm trên những mái tóc thiên thần của các con tôi. Từ phía trong nhà, cô Hồng cô Hường giục:
- Thôi đến giờ ngủ rồi, hẹn Trung thu sang năm.
Các con tôi miễn cưỡng lên giường. Cu hiếu vừa ngáp vừa nhắc lại:
- Hẹn Trung thu sang năm, nghe ba.
Tôi “ừ”.
* * *
Rồi một ngày cuối thu, vẫn những cơn gió nhẹ quyến luyến những hàng cây ven đường, vẫn chiều vàng nắng nhẹ trời đầy mây trắng. Tôi ngồi nắn nót chép lại những truyện ngắn của mình từ bản thảo sang quyển tập học trò. Các con tôi vẫn nô đùa trong sân .Thục Vy và Khánh Vy chơi trò nấu ăn với những vỏ sò, vỏ ốc tôi nhặt về cho các con trong những lần đi dạo ngoài bãi biển.
Trọng Hiếu ngồi trên một chiếc ghế thật thấp. Thục Vy hỏi:
- Anh ăn gì, phở bắc nhé, phở hàng tôi ngon lắm!
- Cho hai tô - cu Hiếu nói.
- Anh ăn hai tô luôn hả? Ăn chi mà kinh rứa!
Khánh Vy nói. Rồi các cháu cười vang.
Bỗng đâu, có hai chiếc xe chở đầy công an, mặc sắc phục, thường phục ập vào nhà. Một số người khác thì vây quanh, đứng rải rác trên đường ngoài ngõ, súng ống lách cách. Họ giẫm đạp lên những vỏ sò, vỏ ốc của các con tôi đang chơi ngoài sân làm các cháu hoảng sợ. Thục Vy thì nép vào một góc nhà cu Hiếu ôm chặc cổ cô Hường, Khánh vy ôm bà nội, các cháu ngơ ngác nhìn những gì đang diễn ra, kinh hoàng đến nỗi không dám khóc - một phản ứng tự nhiên của trẻ thơ trước những điều khủng khiếp. Tôi nhìn thấy các con, đôi mắt và gương mặt thất thần.
Họ đọc lệnh bắt tôi với tội danh tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa. Và lệnh khám xét nhà cũng được thực hiện. Họ lục tung tất cả sách vở của tôi và các cháu, từng hộc tủ, từng góc nhà, từng hòm quần áo. Họ thu giữ hết những gì tôi viết - cả ngàn trang bản thảo và tập thơ tôi làm từ những ngày rất bé - những bài thơ của tuổi thơ và tuổi đang yêu và hiện tại, là kỉ niệm của cuộc đời tôi. Những suy tư tình cảm của tôi, những khát vọng và đau đớn của tôi giờ đây trở thành tội chứng.
Tôi ôm hôn các con trước khi từ biệt. Ôm ba đứa con vào lòng, nước mắt tự nhiên ràng rụa. Mùi tóc của các con sao mà thơm thế, đôi mắt của các con sao mà sáng thế .“Tạm biệt các thiên thần của ba”.
Khi tôi bị còng tay dẫn đi, các con tôi chạy ùa ra giữ chặc lấy tôi, miệng méo máo kêu gào van xin:
- Con xin mấy chú đừng bắt ba con. Con xin mấy chú.
Tôi phải nói với các con:
- Rồi ba sẽ về mà, các con phải ngoan, phải chăm học.
Tôi bị còng tay dính vào ghế xe, nhìn ngôi nhà thân thương một lần nữa. Khi xe chạy, các con tôi chạy theo sau một đoạn. Tôi nhìn bóng dáng nhỏ bé của các con xa dần… Con đường đất đỏ, hàng cây và những ngôi nhà nhỏ bé, nghèo nàn, những người quen biết, tất cả dâng lên trong lòng tôi một cảm giác xót xa. Tôi tự hỏi: “Có bao giờ mình quay lại chốn này, nhìn lại quê hương, được trở về nhìn lại người thân và các con không?
* * *
Sau hai tiếng đồng hồ xử án (với một lần đình toà), không luật sư, không có một phương tiện thông tin nào trung thực và công khai về phiên toà. Tôi bị kết án 10 năm tù giam và 4 năm quản chế.
Sau 6 tháng biệt giam, tôi được chuyển đến trại giam An Điềm trên một chiếc xe tồi tàn và chật chội, với cái còng tay quá chặt. Con đường gập ghềnh, chao lắc làm cho người tù đã khổ lại khổ thêm. Nhưng khi đi qua những nơi quen thuộc, tôi cố nhoài người nhìn cho kĩ hình ảnh của quê hương. Đây là Phước Tường - Cầu Đỏ - Hoà Cầm, hình ảnh quê hương máu thịt như đã bị cắt rời, tôi cảm thấy quê hương bây giờ không còn là của mình,mình cũng không còn thuộc về quê hương.
Trong lòng vẫn rực cháy tình yêu quê hương thiết tha nhưng sao lại thấy xa lạ quá - cái cảm giác của một người bị mất một phần thân thể một cánh tay, một bàn chân. Nó ở đó trước mắt nhưng không còn thuộc về mình nữa. Tôi thấy đau buồn và tuyệt vọng…
Xe đi ngang qua một trường tiểu học, lúc tan trường nhìn những chú bé lưng đeo balô, mái tóc, dáng đi sao mà giống con tôi quá. Không biết bây giờ Thục Vy, Khánh Vy đi học về chưa, nắng mưa ai đưa đón? Tôi thấy những cháu bé được cha mẹ đưa đón, dáng bé con ngồi sau ôm lưng cha mẹ vui mừng, nũng nịu. Tôi không cầm được nước mắt: các con tôi không còn ai để vui mừng, không còn ai để mà nũng nịu. Tôi hình dung các con tôi lầm lũi một mình trên con đường hun hút.
Đến trại An Điềm, tôi được đưa đến một hội trường để khám xét đồ đạc. Tôi bị một trận đòn theo thông lệ. Trận đòn làm tôi choáng cả người.
Sau đó là những ngày lao động khổ sai. Tôi đen và gầy đi rất nhiều, những mùa cấy - gặt lúa, dưới cái nắng cháy da, khát nước đến cháy cổ, phải uống cả nước ruộng. Rồi những cơn mưa tầm tả, dai dẳng, lạnh cóng cả người. Nhưng khủng khiếp nhất là những trận đòn, những biện pháp cách ly - không được trò chuyện với ai, không ai được trao đổi với mình. Không hoàn thành nổi chỉ tiêu lao động - cái chỉ tiêu chết người thì bị cho là “chai lười” lao động, là chống đối. Như vậy là phải “ngồi nội qui”, mọi người đi làm về được nghỉ ngơi, mình phải ngồi đối diện với những điều nội qui nghiệt ngã, mắt nặng trĩu vì buồn ngủ, cơ thể đau mỏi rả rời sau những giờ lao động nặng nhọc.
Nhưng bất hạnh lớn nhất vẫn là nỗi đau xa con, xa những thiên thần bé nhỏ. Đâu rồi những buổi chiều đi làm về, các con chạy ùa ra đón ba, tranh nhau kể những chuyện xảy ra ở trường, ở nhà, ở xóm, chuyện đôi dép mới của bạn cùng lớp, chuyện điểm 10 môn Toán, chuyện đám cưới ai đó và cả chuyện con chó nhà hàng xóm đẻ được ba con chó nhỏ xinh xinh. Còn đâu những lần cha con tôi đi viếng mộ của má, những bông hoa nhỏ các con tôi hái từ vườn nhà ngoại đem dâng cúng má và còn đâu những đêm trăng trên mảnh sân hẹp cha con tôi quây quần bên chiếc bàn nhỏ để ngắm trăng.Tôi không còn biết thời gian là gì. Không có lịch, không có tivi, không có đồng hồ. Mùa thu đã đến tự bao giờ không hay…
Một hôm, anh đội trưởng kêu tôi lại giao cho một nhiệm vụ: dán lồng đèn cho con của một cán bộ. Tôi không thể từ chối… lưỡng lự một chút, tôi phải chấp nhận. Tôi tự nhủ công việc nào cũng là công việc, ít ra cũng được nhẹ nhàng một ngày, hơn nữa trẻ con dù là con ai cũng là trẻ con thôi. Tôi quyết định dồn tình yêu và nỗi nhớ con vào từng thanh tre nhỏ, từng mảnh giấy màu để làm một chiếc lồng đèn thật đẹp. Vừa dán những mảnh giấy đỏ vàng xanh vào khung tre chiếc lồng đèn ông sao, nước mắt chảy dài không sao kìm chế được. Nước mắt làm nhoà cả chiếc kéo trên tay và mọi vật chung quanh. Tôi phải dừng công việc rất nhiều lần…
Tôi hình dung ngôi nhà nhỏ ở một miền quê yên tĩnh, trên mảnh sân hẹp, chung quanh viền hoa móng tay và hoa mười giờ. Các con tôi đang vót những thanh tre nhỏ để làm lồng đèn đón Tết trung thu. Không biết các con tôi có bị đứt tay hay không, có dán giấy màu được không? Cu hiếu sẽ không còn phá phách và nói bi bô nữa, chắc nó sẽ buồn thiu, còn Khánh Vy sẽ vỗ về em bằng bàn tay nhỏ bé và sẽ khóc vì không có ba, cháu là một đứa bé nhạy cảm. Thục Vy sẽ trở thành người lớn giữa các em mà không cần phải chứng tỏ mình. Đêm Trung thu có bánh không? Không còn ai vỗ tay bắt nhịp cho bài “ông trăng xuống chơi cây cau”, không có ba ai đốt nến, không khéo thì lồng đèn cháy mất. Ai sẽ treo lồng đèn lên cao, không có ba, còn thức đón trăng với ai? Chắc là ngôi nhà sẽ buồn thiu… còn lời hứa với các con: “Sẽ làm cỗ lớn, lồng đèn lớn hơn, đẹp hơn” không thực hiện được. Ba đành lỗi hẹn với các con rồi. Các con sẽ buồn, sẽ khóc.
Trong nước mắt nhớ con, trong nỗi đau quằn quại, tôi vẫn tin rằng một ngày nào đó tự do và dân chủ sẽ đến với đất nước tôi, dân tộc tôi, để không còn ai phải chịu nỗi thống khổ và bất hạnh như cha con tôi nữa.
Tự truyện của Huỳnh Ngọc Tuấn - Mùa thu 1992
© www.danchimviet.com
Rỉ Tai
3 Responses to "Tết trung thu" 
|
said this on 10 Sep 2008 3:09:56 AM EST
Vừa cắn miếng đầu tiên, bỗng tôi cảm thấy như có cái gì đó đằng sau, ngoảnh mặt lại, thì thấy 3 đứa trẻ mình trần như nhộng, đầu tóc bù xù, gương mặt tiều tuỵ với 6 con mắt đang nhìn hau háu vào thanh lương khô trên tay tôi. Nhìn vào ánh mắt của chúng, tôi hiểu chúng đang muốn gì. Mỉm cười thân thiện,
Nhìn những mâm cỗ quá dư thừa, những con cá hàng kg còn nguyên trên mâm, những ly rượu bổ rót đến tràn ly... tôi lại thấy xót thương cho thân phận của những búp trên cành ấy! Một ngày dài trôi qua. Đêm cuối cùng trên đất Pa Ủ sao mà khó ngủ! Tôi lại miên man với bao suy nghĩ về những mảnh đời và số phận của những đứa bé nheo nhóc, phải đến trường với cái bụng nép kẹp... Nhìn hình Em - tôi thấy nỗi nhục đau ....… ================================== Nhìn Em …trên không gian phi ảo Mắt vỡ lệ ý thơ đẫm mạch trào Khuông mặt không cúi đầu nhìn thẳng Thần khí khôi minh triết làm sao ! Hỡi người tự hào văn thi sĩ Lãnh cảm làm ngơ không dòng nào Đôi mắt em xa vời tương tác Chẳng còn cõi ảo hiện thực chao .. .. Triệu Lương Dân cảm xúc ngẫu hứng khi xem hình EM.... PARIS 15/8/2008 bạn đọc bấm vào đây xem tiếp HÌNH ẢNH EM BÉ VIỆT NAM bạn đọc bấm vào đây xem tiếp bài "THƯƠNG LẮM NHỮNG BÚP MĂNG TRÊN CÀNH !" Tôi không sao quên được những ánh mắt trẻ thơ ấy. Chúng ám ảnh tôi qua từng giấc mơ, và cả những khi vui vẻ nhất trong những bữa tiệc chiêu đãi. Nhìn những mâm cỗ quá dư thừa, những con cá hàng kg còn nguyên trên mâm, những ly rượu bổ rót đến tràn ly... tôi lại thấy xót thương cho thân phận của những búp trên cành ấy! Địa chỉ của liên kết của bài báo "THƯƠNG LẮM NHỮNG BÚP MĂNG TRÊN CÀNH !" NAY ĐÃ XÓA vì KIỂM DUYỆT trên báo Thể thao & Văn hoá Cập nhật : 15/08/2008 và đăng lại tại trang nhà "Dân Chủ Cho Việt Nam" bạn đọc bấm vào đây xem tiếp |
|
said this on 10 Sep 2008 5:50:59 AM EST
Tết Trung Thu đốt đèn đi chơi thì tốt thôi. Nhưng vui chơi đừng quên nơi quê nhà dân tộc đang đắm chìm trong đau khổ! Hiện ở quê nhà thì như thế nầy dân quá đói nghèo chỉ có đảng viên đảng CSVN là giàu trên xương máu người dân! cho nên thưc tế trung thu bên nhà như thế nầy: " Tết Trung Thu Ba đi ở tù Má khóc hu... hu... mà mấy em thì cũng chẳng có bánh trung thu!"
Trung cộng sắp sữa đem quân qua đánh chúng ta băng qua từ ngã Lào và Miến Điện. Nuí rừng Bắc Việt không ngăn cản được kẻ thù truyền kiếp phuơng Bắc! Miền Bắc Việt Nam bị CSTQ toàn quyền sanh sát trong tay. Nước mất rồi tầu xâm lấn không tiếng súng! Chúng ta chẳng còn gì nữa để mà mất, vùng lên đánh tầu, kiên định lập trường đánh tầu cứu nước Việt Nam! Michael Trần |
|
said this on 13 Sep 2008 4:44:08 PM EST
Mấy chục năm qua, chưa bao giờ được đọc một tự truyện hay như vậy. Tình yêu quê hương thắm thiết và những cay đắng tận cùng này chỉ có thể tìm thấy trên mảnh đất thống khổ mang tên Việt Nam đang bị đày đọa bởi cái chế độ cùng hung cực ác mệnh danh là “xã hội chủ nghĩa”.
|


Author/Admin)