- Trang Chủ
- Tin Tổng Hợp
- Điêu khắc gia Phạm Thế Trung tạc lại tượng nhà ngôn ngữ học Petrus Trương Vĩnh Ký tại hải ngoại
Điêu khắc gia Phạm Thế Trung tạc lại tượng nhà ngôn ngữ học Petrus Trương Vĩnh Ký tại hải ngoại
- Tác Giả: Hải Đăng
- Đăng ngày 06.09.08
- Tin Tổng Hợp
-
Xếp hạng:




Toronto, Canada News: Ngày 1 tháng 9 năm 2008 vừa qua đúng 110 năm (1898 – 2008) kỷ niệm ngày Giỗ của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký, là người đầu tiên đã có công rất lớn trong việc dùng chữ Quốc Ngữ qua địa hạt sáng tác Văn Học với hàng trăm tác phẩm giá trị mà người đã lưu lại cho hậu thế…
Năm 1898 Cụ mất đi để lại rất nhiều thưong tiếc, mãi đến sau này, một số trí thức miền Nam, trong đó có một nhà Cách Mạng là ông Trần Chánh Chiếu đã đứng ra vận động và quyên góp khắp Nam Kỳ lục tỉnh để xây dựng Tượng Đài Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký trang trọng đặt ngay tại thủ đô Sài Gòn lúc bấy giờ. (góc công viên Thống Nhất cạnh nhà thờ Đức Bà)
Đến năm 1975 Cộng Sản tiến chiếm miền Nam Việt Nam, tên của thủ đô Sài Gòn đã bị xóa bỏ, họ đã thay đổi hết những tên đường phố, trường học và phá huỷ toàn bộ những di tích lịch sử, văn hóa …trong đó có tượng đài của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký.
Sau hơn 30 năm từ ngày tượng đài của Cụ dựng tại trung tâm thành phố Sài Gòn đã bị Cộng Sản VN hạ bệ và thủ tiêu mất tích… Cho đến ngày hôm nay đại đa số những trí thức miền Nam từng ngưỡng mộ và yêu mến nhà Bác Học khả kính này, đã rất muốn xây dựng lại tượng Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký, nhưng qua bao sự biến chuyển và thay đổi của cái gọi là “Đổi Mới” của chế độ CS Việt Nam ở trong nước… mà những yêu cầu đó đã không được đáp lời!
Tại hải ngoại, trong cùng một ý nghĩa đó, để nhớ lại công ơn của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký, điêu khắc gia Phạm Thế Trung đã thu thập tài liệu, hình ảnh để tạc lại bức tượng toàn thân cao như người thật với quốc phục Việt Nam (áo dài khăn đống) tay cầm quyển sách chữ Quốc Ngữ, với bước đi thong dong của một kẻ sĩ miền Nam. Với hoài bão sẽ cùng với Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại có thể vận động để xây dựng lại tượng của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký nơi xứ người. Tượng Đài của Cụ là một biểu tượng Văn Hóa đã gắn bó với người dân miền Nam Việt Nam tự bao giờ…
Năm 1898 Cụ mất đi để lại rất nhiều thưong tiếc, mãi đến sau này, một số trí thức miền Nam, trong đó có một nhà Cách Mạng là ông Trần Chánh Chiếu đã đứng ra vận động và quyên góp khắp Nam Kỳ lục tỉnh để xây dựng Tượng Đài Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký trang trọng đặt ngay tại thủ đô Sài Gòn lúc bấy giờ. (góc công viên Thống Nhất cạnh nhà thờ Đức Bà)
![]() |
| Điêu khắc gia Phạm thế Trung, giáo sư Nguyễn thanh Liêm (Cựu thủ trưởng bộ Văn Hóa Giáo Dục VNCH) và tượng toàn thân Petrus Trương vĩnh Ký cao 7 feet. (Ảnh: Hài Đăng) |
Đến năm 1975 Cộng Sản tiến chiếm miền Nam Việt Nam, tên của thủ đô Sài Gòn đã bị xóa bỏ, họ đã thay đổi hết những tên đường phố, trường học và phá huỷ toàn bộ những di tích lịch sử, văn hóa …trong đó có tượng đài của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký.
Sau hơn 30 năm từ ngày tượng đài của Cụ dựng tại trung tâm thành phố Sài Gòn đã bị Cộng Sản VN hạ bệ và thủ tiêu mất tích… Cho đến ngày hôm nay đại đa số những trí thức miền Nam từng ngưỡng mộ và yêu mến nhà Bác Học khả kính này, đã rất muốn xây dựng lại tượng Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký, nhưng qua bao sự biến chuyển và thay đổi của cái gọi là “Đổi Mới” của chế độ CS Việt Nam ở trong nước… mà những yêu cầu đó đã không được đáp lời!
Tại hải ngoại, trong cùng một ý nghĩa đó, để nhớ lại công ơn của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký, điêu khắc gia Phạm Thế Trung đã thu thập tài liệu, hình ảnh để tạc lại bức tượng toàn thân cao như người thật với quốc phục Việt Nam (áo dài khăn đống) tay cầm quyển sách chữ Quốc Ngữ, với bước đi thong dong của một kẻ sĩ miền Nam. Với hoài bão sẽ cùng với Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại có thể vận động để xây dựng lại tượng của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký nơi xứ người. Tượng Đài của Cụ là một biểu tượng Văn Hóa đã gắn bó với người dân miền Nam Việt Nam tự bao giờ…
Rỉ Tai
2 Responses to "Điêu khắc gia Phạm Thế Trung tạc lại tượng nhà ngôn ngữ học Petrus Trương Vĩnh Ký tại hải ngoại" 
|
said this on 10 Sep 2008 12:39:49 AM EST
Đêm viết sách nhớ Nhà Học thuật ====================== Để tưởng nhớ 100 Năm Sinh Nhật Học giả Nguyễn Văn Vĩnh Từ điển kỹ thuật song ngữ dày Đêm khuya ngồi soạn hồn mê say Lộ Trấn tuyết rơi ngoài phủ trắng Người (1) hiện như hoa Xuyên Tuyết quay Tự học uyên thâm từ quan trường Làm báo truyền quốc ngữ dân hay Hiến dâng làm thăng hoa tiếng Mẹ Sạt nghiệp vỡ nợ kiếp lưu đày Sang Lào đào vàng mong trả nợ Như Thi hào Pháp giã từ Thơ Sa mạc Phi châu tay buôn súng Bạc mệnh may sao về bến bờ Còn Người chết trên thuyền độc mộc Bút trong tay viết dở ký sự cơ Như Nhà viết kịch chết trên sân khấu Sông xanh bi hùng xuôi Quê .. .. mơ .. .. Nguyễn Hữu Viện Lộ Trấn (Strasbourg) - Kỷ niệm 100 Năm sinh Nhà Học thuật Nguyễn Văn Vĩnh Đông - 1982 Học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936) một nhà trí thức nổi tiếng thời Pháp thuộc. Ông hiến dâng toàn bộ công sức cho phong trào phổ cập chữ quốc ngữ và cũng là nhà tiền phong trong ngành công nghiệp in ấn ở Việt Nam Chú bé kéo quạt trường Yên Phụ học lỏm trong lúc hầu quạt cho các ông tú ông cử trường thông ngôn tại làng Yên Phụ để thành nhà học thuật uyên bác rồi từ bỏ quan trường hiến dâng cho sự nghiệp làm báo và truyền bá chữ quốc ngữ... Chính vì thế cụ Nguyễn Văn Vĩnh lâm vào cảnh bần cùng vỡ nợ phải bỏ vợ con sang Lào đào vàng (như Thi hào Pháp Rimbaud phải giã từ Thơ qua sa mạc Phi châu buôn súng .. ..!!) mắc bệnh sốt rét và mất năm 1936 vào tuổi 54. Cụ Nguyễn Văn Vĩnh chết khi đang ở trong chiếc thuyền độc mộc trên dòng sông Sêpôn xứ Lào. Bút còn bi hùng trong tay đang viết dang dở thiên ký sự Một tháng với những người tìm vàng bằng Pháp văn như Kịch tác gia Molière tắt thở trên sân khấu .. .. !! |
|
said this on 10 Sep 2008 1:51:22 AM EST
Sinh nhật Trăm năm .. .. ================ Tưởng niệm Thiền Sư Đạo Sĩ Thiều Chửu - Nhà Học thuật yêu Nước chân chính ... Thế kỷ trước quận Đống Đa Đông Kinh Nghĩa Thục tình nhà thân sinh Tù đày Côn Đảo (1) sóng kình Nội thương dạy bảo Ngũ Kinh thuần thành Sống đạo hạnh nghĩ cao thanh Tự nghiên ngoại ngữ bao ngành thiên tư Thấm nhuần giáo lý cảo thư Túc duyên Phật pháp sĩ cư vào đời Công tác từ thiện khắp nơi Tăng ni phụ giảng ngàn lời pháp luân Dấn thân tâm nguyện cõi trần Trường chay giản dị quê chân Thời gian trân quý chia phần góp xây Dịch kinh viết sách hăng say Mồ côi chăm trẻ đêm ngày Người thương Bút hiệu: chổi quét bụi đường Tâm linh chánh đạo sáng gương soi đời Vô minh tham nhiễm muôn nơi Nỗi lòng vẩn đục bao thời trầm luân Canh tân đạo pháp ân cần Cảo thơm Đuốc Tuệ góp phần chấn hưng Khóa Hư Lục bản dịch xưng Bộ kinh cứu khổ hiến dâng cho đời Trúc Lâm Thiền phái đày vơi Nhân Tông Thánh Tổ muôn lời thiền tông Người thương yêu Nước hết lòng Chiến tranh khốc liệt long đong khắp vùng Khó khăn xây dựng chốn bưng Cất nhà trường học không dừng mở ra Chối chức Bộ trưởng (2) vẫn ta Đường tu trì lợi tha mà chọn xin Lương dân quý trọng niềm tin Bậc Thầy đạo hạnh nổi chìm nhân gian Cải cách ruộng đất lan tràn Đau buồn thống khổ hàm oan dân lành Thêm lời vu cáo gian manh Trầm luân Nửa kiếp (3) xin đành tử ly Sông Đuống kết thúc đời ni Tâm thư bày nổi lòng vì Nhân dân Nên làm lợi Nước ích Dân Tâm thư gởi học trò thân tu hành Trăm Năm sau Ánh sáng Xanh Đuốc Tuệ ngời chiếu kinh thành Thăng Long Chùa Quán Sứ - Hồ Gươm trong Mạch thơ kính trọng gởi vong linh Người Nguyễn Hữu Viện Paris - Tháng Bảy Mưa Ngâu - 2002 1. Cư sĩ Nguyễn Hữu Kha, pháp danh Thiều Chửu sinh năm 1902 trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Trung Tự, phường Đông Tác cũ, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Thân phụ là Nguyễn Hữu Cầu, từng tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục nên bị thực dân Pháp đày đi Côn Đảo (1). Từ thuở bé, ông được bà Nội nuôi. Bà văn hay chữ giỏi lại là Phật tử mộ đạo thuần thành. Do đó, ông đã tiếp cận được nếp sống đạo hạnh, tập ăn chay từ năm lên 8 tuổi, và cũng nhờ bà Nội chỉ dạy cận kẽ về Nho học, nên ông đã sớm tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh. Tuổi thiếu niên học chữ Quốc ngữ, đồng thời tự nghiên cứu thông thạo các ngoại ngữ Anh, Pháp, Hoa và Nhật. Bằng tâm nguyện cư sĩ, ông phụ giảng cho Tăng Ni và làm từ thiện . Ông trường chay ngày chỉ ăn một bữa. Đơn giản như người chân quê. Dịch kinh, viết sách, tu học và dành nhiều thời giờ chăm sóc trẻ em mồ côi. Khi phong trào chấn hưng Phật Giáo ở Bắc Kỳ được khởi xướng, ông cùng với các cụ Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Vĩnh, ... thành lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo năm1934 và năm sau ra đời tạp chí Đuốc Tuệ do ông làm quản trị tại chùa Quán Sứ - Hà Nội và là cây bút đắc lực góp phần cổ vũ phong trào chấn hưng Phật giáo. Ông còn là tác giả bộ Hán Việt Tự điển được sử dụng rộng rãi trên cả nước. Năm 1945, nạn đói xảy ra ở miền Bắc. Thể hiện lòng từ bi, ông lập Tổng hội Cứu tế, đặt tại chùa Quán Sứ để giúp những người đói khổ, và dựng nên một Cô nhi viện, nuôi dạy hơn 200 trẻ mố côi. 2. Năm 1945, Hồ Chí Minh mời ông ra làm Bộ trưởng Giáo Dục, nhưng ông từ chối, để tiếp tục con đường đã chọn. 3. Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, miền Bắc tiến hành phong trào cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản địa chủ. Nhận thấy những đau khổ của không ít nông dân bị hàm oan, ông rất đau buồn, cộng vào sự kiện có lời vu cáo ông về mặt uy tín, và thuộc tầng lớp trí thức tư sản. Ngày 15.7.1954, sau khi từ biệt học trò, lễ tạ bốn phương, ông đã kết thúc đời mình vào tuổi 52 tại sông Đuống, thuộc Đồng Mỹ - Thái Nguyên, để giữ toàn khí tiết của người yêu nước chân chính, cư sĩ hoàn thành nhiệm vụ giáo hóa cho đạo và đời. Để chứng minh cho sự trong sáng và thanh bạch của mình, ông dã viết bốn tâm thư, ba bức gởi cho chính quyền trình bày nổi lòng của ông với ý kiến đóng góp những điều nên làm và nên tránh để lợi nước ích dân. Một bức thư còn lại, ông gởi cho các học trò của mình, dặn dò cố gắng tu hành, tu tập để giáo hóa đời mà đừng để bị đời hóa. |



Author/Admin)