Để cho nền giáo dục vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh
- Tác Giả Lê Công Đa
- Đăng ngày 25.08.08
- Giáo Dục
Một cuộc khảo cứu về khoa học nhân văn liên quan đến sự phân bố nhân loại trên địa cầu của Trường Đại học Y Khoa Stanford (CA, Hoa Kỳ) đã đưa ra một hình ảnh cụ thể về tình trạng nhân loại qua một bản thống kê thu gọn – và sau đó được cập nhật hoá hàng năm, như sau: Nếu như thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay được thu hẹp lại thành một ngôi làng với dân số chính xác là 100 người, thì so với những tỷ lệ hiện có, ngôi làng đó sẽ bao gồm:
• 57 người Á Châu
• 21 người Âu Châu
• 14 người vùng Tây bán cầu
• 8 người Phi Châu
• 52 sẽ là đàn bà
• 48 sẽ là đàn ông
• 70 người da màu
• 30 người da trắng
• 70 theo tín ngưỡng ngoài Cơ Đốc
• 30 người Cơ Đốc giáo
• 94 dị tính luyến ái
• 6 sẽ là đồng tính luyến ái
• 6 người nắm 59% của cải của toàn thế giới, và tất cả 6 người đó đều là người Mỹ
• 80 sống trong tình trạng gia cư dưới tiêu chuẩn
• 70 người mù chữ
• 50 sống trong tình trạng thiếu dinh dưỡng
• 1 sắp chết
• 1 người được sinh ra đời
• và 1 người, vâng, chỉ một người thôi, được bước chân vào đại học.
Như vậy, căn cứ vào bản thống kê nói trên, người ta thấy rằng trên thế giới này tính trung bình cứ 100 người mới chỉ có một người có được cơ may bước chân vào ngưỡng cửa đại học. Đây là một tỉ lệ đáng để cho mọi người phải suy nghĩ. Đối với những quốc gia chậm tiến như Việt Nam tỉ lệ này sẽ còn thấp hơn và đăc biệt, ở tại một số vùng trong nước, cụ thể như vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), tỉ lệ này lại còn thấp hơn nữa, vào khoảng .6% như một bản thống kê vừa được công bố vào hồi cuối năm rồi. Cái đại bộ phận 99 người không được may mắn có được một nền học vấn cao hơn theo GS/TS Bobby Fong, Viện Trưởng Viện Đại học Butler, Indiana, một trường Đại học cổ kính vào bậc nhất Hoa Kỳ với 150 năm lịch sử, trong bài diễn văn khai mạc năm học vừa rồi là do hai nguyên nhân chính: Thứ nhất là vì gia đình nghèo, cha mẹ không đủ khả năng tài chánh để trang trải những phí tổn cho con cái hoàn tất chương trình Đại học ngày càng tăng cao ở khắp nơi trên thế giới, và thứ hai, con cái được sinh ra trong một gia đình mà cha mẹ không ý thức được giá trị của học vấn nên đã không khuyến khích, tạo điều kiện cho con cái theo đuổi một nền học vấn cao hơn vì họ không thấy có nhu cầu. (1)
Cả hai nguyên nhân trên đều hoàn toàn đúng với trường hợp vùng ĐBSCL. Bao gồm 13 tỉnh (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần thơ, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) và một thành phố (Cần Thơ), ĐBSCL tuy được xem là vựa lúa của cả nước nhưng cũng tại đây số lượng những hộ đói nghèo chiếm một tỉ lệ đáng kể so với những vùng khác trên toàn quốc. Một cuộc nghiên cứu về tình trạng đói nghèo do Chương trình Phát Triển LHQ (UNDP), Viện Trợ Úc Đại Lợi (Australiaids) và Ngân Hàng Thế Giới tài trợ, thực hiện vào năm 2003 tại một số huyện tiêu biểu thuộc vùng ĐBSCL cho thấy tỉ lệ những hộ đói nghèo có nơi lên đến 15.32% (huyện Thạnh Phú, Bến Tre) hoặc 18,97% (Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp). Theo tiêu chuẩn hiện nay (năm 2005), thì ĐBSCL có đến 20% hộ nghèo. Đói nghèo là hệ quả tất yếu của tình trạng thất nghiệp dài hạn, mà tỉ lệ có nơi lên đến 35% (như xã Thạnh Lợi, Tháp Mười) và nông dân không có đất để canh tác. Đây là một điều có vẻ rất nghịch lý khi ĐBSCL là vùng đất chuyên canh nông nghiệp, thế nhưng hiện tượng nông dân không có đất canh tác lại chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng đói nghèo, có nơi tỉ lệ lên đến con số 78% nông dân không có ruộng cày (ví dụ như xã Thành Thới, huyện Mỏ Cày) (2).
Thứ hai, theo như nhận xét của những người quan tâm đến lãnh vực giáo dục, vùng ÐBSCL chưa tạo được cho mình một môi trường học tập cần thiết, hay nói một cách rõ ràng và cụ thể hơn, tâm lý và nhận thức quần chúng ở địa phương chưa đánh giá đúng mức giá trị của học vấn, giáo dục. Đã có một thời rất lâu, vùng ĐBSCL là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với đất đai màu mỡ phì nhiêu do phù sa bồi đắp, với thời tiết lý tưởng cho các hoạt động canh tác, gieo trồng, thế nên đây là một vùng đất mà con người có thể “làm chơi, ăn thiệt” với thực phẩm, cá tôm, cây trái đầy dẫy khắp nơi. Thoả mãn trong một điều kiện sống kinh tế như thế nên người dân địa phương không có ý hướng vươn lên. Đồng tình với nhận xét này, trong một hội nghị chuyên ngành về giáo dục tổ chức hồi gần đây, một nhân vật lãnh đạo TP Cần Thơ đã phát biểu: “Ở vùng đồng bằng này, do ảnh hưởng lâu đời của nông nghiệp, nông thôn, cho nên chưa tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong học tập. Thói quen thỏa mãn trình độ của nhiều người, kể cả đội ngũ cán bộ công chức còn lớn. Cũng con người đó ở địa phương chỉ dừng lại ở trình độ đại học, nhưng cũng con người đó, lên TP Hồ Chí Minh không bao lâu sẽ có bằng sau đại học, ngoại ngữ cũng tốt hơn. Môi trường học tập sẽ tạo sự cạnh tranh lành mạnh để mọi cá nhân phấn đấu vươn lên.”
Chính hai yếu tố trên là những nhân tố quan trọng đã dẫn đến sự tụt hậu nghiêm trọng của vùng ĐBSCL về mặt Giáo dục. Tình trạng tụt hậu này được phản ảnh rõ qua nội dung chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Ðào tạo Việt Nam hồi tháng 12/2005, khi đưa ra mục tiêu để toàn ngành phấn đấu thực hiện: “đến năm 2010, giáo dục ÐBSCL đạt chỉ số phát triển của các ngành học, bậc học ngang bằng mức bình quân chung của cả nước. Ðến năm 2015 bằng vùng đồng bằng sông Hồng. Cụ thể 2010, có 50% số tỉnh đạt phổ cập THPT, giảm tỷ lệ lưu ban bỏ học ở giáo dục phổ thông xuống dưới mức bình quân chung của cả nước. Ðến năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của ÐBSCL bằng trình độ phát triển của đồng bằng sông Hồng. Toàn vùng đạt chuẩn phổ cập THCS vào năm 2010. Tăng quy mô đào tạo THCN hằng năm lên 20% (chiếm khoảng 5% số dân trong độ tuổi từ 16 - 20), nâng tỷ lệ bình quân sinh viên/vạn dân từ 64 (năm 2005) lên 120 (năm 2010).” Nhìn chung, theo số liệu thống kê hiện nay, “nếu như bình quân cả nước đã đạt tỉ lệ 359,000 dân/1 trường dạy nghề, 900,000 dân/1 trường đại học, thì ở ĐBSCL hiện đang còn khoảng cách khá xa với tỷ lệ là 717,000 dân/1 trường dạy nghề và 3,370,000 dân/1 trường đại học. Dân số ĐBSCL gấp 4 lần Tây Nguyên, nhưng mỗi năm chỉ có 22,000 thí sinh trúng tuyển vào các trường cao đẳng, đại học, chỉ gấp đôi Tây Nguyên và bằng 1/3 so vớ ĐBSH. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở ĐBSCL hiện mới đạt 14.13% so với bình quân cả nước là 19.21%.” (3)
Căn cứ trên tinh thần của bản hướng dẫn này người ta có thể thấy được rằng về lãnh vực giáo dục, vùng ĐBSCL đã bị tụt hậu 5 năm so với mức phát triển bình quân chung của cả nước và 10 năm so với một số vùng có mức phát triển cao hơn. Đây là tình trạng tụt hậu trong một bối cảnh tụt hậu chung của cả nước mà bất cứ ai có lòng, nếu nhìn vấn đề trên khía cạnh lợi ích lâu dài của dân tộc, không thể không quan tâm. Bởi vì không cần phải là một nhà lý luận hay chuyên gia phân tích kinh tế, ai cũng có thể thấy được rằng, trong bối cảnh của một thế giới toàn cầu hoá hiện nay, trong khi các quốc gia tiên tiến trên thế giới và ngay cả những quốc gia trong khu vực đang đi bằng những đôi hia bảy dặm trên mọi lãnh vực, tình trạng tụt hậu của Việt Nam sẽ dẫn đến hệ quả lệ thuộc về kinh tế và ngay cả về mặt chính trị. Đứng trước vấn nạn này, đã có những hội nghị của các bộ phận chuyên môn ở trong ngành cũng như những đóng góp ý kiến của quần chúng quan tâm. Thế nên, để có thể nắm bắt được vấn đề, trước tiên ta không thể không nhìn vào sự phân tích, đánh giá và hướng giải quyết của những người “trong cuộc”, tức là những nhà trí thức, chuyên môn về giáo dục tại địa phương.
Trong một hội nghị chuyên ngành về giáo dục được tổ chức tại Thành phố Cần Thơ hồi cuối năm rồi (tháng 8/2005), Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang đưa ra nhận xét rằng: “Hai vấn đề cấp bách cần giải quyết để vực dậy Giáo Dục và Ðào Tạo ÐBSCL là tập trung nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và thay đổi quy trình đào tạo giáo viên”, vì ông cho rằng “giáo dục phổ thông ở ÐBSCL còn bất cập, quy mô và hiệu quả chưa đồng đều, nhiều địa phương vẫn còn chạy theo thành tích. Công tác đào tạo giáo viên thiếu khoa học, chưa thật sự lựa chọn được người giỏi, tâm huyết cho ngành.”
Trong khi đó, PGS.TS Lê Quang Minh, Hiệu trưởng Trường ÐH Cần Thơ nhấn mạnh tới yêu cầu thành lập trường Cao Ðẳng cộng đồng, vì “loại hình trường này là chính sách thích hợp trong bối cảnh nguồn nhân lực có trình độ thấp như hiện nay.” Ông nhấn mạnh thêm: “Muốn thay đổi diện mạo một nền giáo dục cần có thời gian và những bước đi thích hợp, quan trọng là có cơ chế, chính sách thỏa đáng. Ðại học Cần Thơ tiến hành thực hiện đề án gửi 1.300 học sinh đi du học nước ngoài để làm nòng cốt cho trí thức ÐBSCL trong tương lai.”
Hai nhà trí thức tiêu biểu của vùng ĐBSCL đã đề ra một số giải pháp cụ thể nhằm giải quyết tình trạng tụt hậu về giáo dục tại địa phương. Cả hai giải pháp này đều tập trung nhằm giải quyết một câu hỏi cơ bản đã làm nhức đầu khá nhiều người quan tâm đến vấn đề cải cách giáo dục, đó là: Phải nên bắt đầu từ đâu? Không cần phải bàn cãi, mọi người chắc hẵn cũng đồng ý rằng muốn làm bất cứ công việc gì, trước tiên người ta cần phải biết mình nên bắt đầu từ đâu. Phải biết đâu là khởi điểm, nhiên hậu mới có thể nói đến chuyện bắt đầu như thế nào, bắt đầu với ai, bắt đầu với cái gì... GS Võ Tòng Xuân đề nghị nên bắt đầu với nền giáo dục phổ thông mà biện pháp chính là tập trung nỗ lực nâng cao chất lượng cả nội dung đào tạo lẫn đội ngũ giáo viên. Trong khi đó PGS Lê Quang Minh muốn dồn nỗ lực để giải quyết “nguồn nhân lực có trình độ thấp” và theo ông giải pháp khả thi là thành lập những trường đại học cộng đồng. Cả hai giải pháp đều có những mặt mạnh của nó và nên được kết hợp đồng đều, tuy nhiên nếu bắt buộc phải lựa chọn một trong hai mà mục tiêu chính là để “vực dậy nền giáo dục ĐBSCL” thì giải pháp của PGS Lê Quang Minh có sức mạnh thuyết phục hơn.
Tại sao? Bởi vì nếu quy trách tình trạng tụt hậu của nền giáo dục vùng ĐBSCL vào chất lượng đào tạo và đội ngũ giáo viên thì một câu hỏi đặt ra là, tại sao cũng với nội dung đào tạo đó và cũng con người (giáo viên) đó lại có hiện tượng giáo dục Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH: bao gồm các tỉnh thành: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hải Dương Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình) vượt trội hơn vùng ĐBSCL đến 10 năm theo như đánh giá hiện nay của Bộ GD-ĐT Việt Nam? Như vậy, nếu phân tích vấn đề dưới lăng kính khoa học, ta sẽ thấy rằng cả hai yếu tố nội dung đào tạo lẫn giáo viên không phải là những yếu tố chính đã tạo nên khoảng cách biệt về tình trạng giáo dục giữa hai vùng ĐBSCL và ĐBSH. Nguyên nhân chắc hẵn là phải nằm ở những chỗ khác mà bằng vào những phương pháp và phương tiện nghiên cứu hiện nay về lãnh vực khoa học xã hội, nhân văn, người ta sẽ tìm ra không mấy khó khăn. Mà thực ra, chúng ta cũng không cần phải tốn thì giờ và tiền bạc để thực hiện một công cuộc nghiên cứu như thế, bởi vì khi nhìn vào kết quả, người ta cũng có thể suy ra một số tiền đề. Cụ thể như khi đánh giá rằng giáo dục vùng ĐBSCL tụt hậu 10 năm so với vùng ĐBSH, người ta cũng có thể hình dung ra được rằng mức sống kinh tế của người dân vùng ĐBSH hiện nay chắc là phải cao hơn là vùng ĐBSCL và một khả năng khác cũng không thể loại trừ là, người dân vùng ĐBSH có tinh thần hiếu học hơn là vùng ĐBSCL. Hai yếu tố này chính là hai nguyên nhân cơ bản đã cản trở 99% nhân loại không bước vào được ngưỡng cửa đại học như đã nói ở trên.
Như vậy, một cuộc cải cách giáo dục muốn đạt được hiệu quả cao phải được tiến hành đồng bộ trên khắp mọi lãnh vực bởi vì sự tương quan và những ảnh hưởng dây chuyền của các bộ phận liên đới trong xã hội. Nói một cách cụ thể hơn, hai nguyên nhân cơ bản làm cản trở bước đi của giáo dục cần phải được khắc phục. Trước mắt là nâng cao mức sống kinh tế của người dân bằng những biện pháp thực tiễn trong nỗ lực xoá đói giảm nghèo và giải quyết nạn thất nghiệp. Công tác này cần được thực hiện song song với việc bảo vệ môi trường bởi vì nếu không có một chính sách bảo vệ môi trường đủ mạnh và hữu hiệu, tất cả những nguồn tài nguyên của vùng ĐBSCL sẽ mau chóng cạn kiệt mà hậu quả là với tình trạng dân số ngày càng gia tăng, người dân địa phương lại sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn đói nghèo. Một người anh em song sanh của đói nghèo là bệnh tật. Bệnh tật – hay nói một cách bao quát hơn là vấn đề y tế - đã ngốn đi một số lượng lớn ngân sách quốc gia, làm tiêu mòn và đôi khi làm phá sản luôn cả ngân sách gia đình. Vùng ĐBSCL với một hệ thống sông ngòi, kênh đào chằng chịt với tổng chiều dài hơn 28,000 km mà cư dân ở địa phương - đặc biệt là vùng nông thôn - đã xem đây là nguồn nước chính trong sinh hoạt thường nhật, thế nên vấn đề vệ sinh môi trường, chống ô nhiễm nguồn nước không thể không được đặt ra. Vấn đề đảm bảo sức khoẻ cho người dân vì thế cũng là một trong những mục tiêu ưu tiên trong nỗ lực xoá đói giảm nghèo. Trên đây chỉ là một vài nét phác chủ yếu nhằm tạo điều kiện, cơ sở thuận lợi cho việc cải cách giáo dục.
Vấn đề cơ bản thứ hai là yếu tố tâm lý. Muốn xoá tâm lý tiêu cực xem nhẹ học vấn ở người dân phải khơi dậy được tinh thần “tôn sư trọng đạo” một thời là bản sắc độc đáo của người nông dân Nam bộ. Trách nhiệm này không còn là trách nhiệm của những người lãnh đạo giáo dục mà là của tất cả các cấp lãnh đạo nhà nước và của toàn thể quốc dân. Phải nâng cao vị thế xã hội của người thầy trước mắt quần chúng và đồng thời đảm bảo được mức sống kinh tế ổn định cho đội ngũ giáo viên. Hầu như ở khắp nơi trên thế giới, thành phần giáo chức thường bị bạc đãi. Tai Việt Nam, cả xã hội ngày càng lao nhanh vào nền kinh tế thị trường trong khi bộ phận giáo dục lại không mang đến lợi nhuận, không làm nên của cải, cho nên việc “đầu tư” đã không được quan tâm đúng mức. Đã đến lúc cả bộ phận lãnh đạo lẫn quốc dân phải nhận thức đúng đắn rằng giáo dục phải là lãnh vực đầu tư ưu tiên hàng đầu, bởi vì tương lai của đất nước, dân tộc cường thịnh hay suy yếu là do ở chỗ này, là khởi đi từ đây.
Nhiệm vụ của giáo dục nói chung là đào tạo con người, là mở mang và nâng cao dân trí, trong đó nền giáo dục đại học đóng một vai trò quan trọng. Có thể nói một cách khẳng định rằng, cả bề mặt lẫn chiều sâu của một nền giáo dục quốc gia được thể hiện qua nền giáo dục đại học. Chính tại đây, thông qua những công trình nghiên cứu có chiều sâu của giới trí thức chuyên môn về khắp các mặt xã hội, kinh tế, văn hoá, chính trị mà chính sách quốc gia được hình thành. Mặt khác giáo dục gắn liền với một khung cảnh xã hội nhất định, trong một thời điểm nhất định thế nên nó không thể sống tách biệt với xã hội đang cưu mang nó. Nhiệm vụ cụ thể của Đại học vì thế là phải tiếp tay với cộng đồng, với địa phương để giải quyết những vấn nạn chung của xã hội. Đại học không xây lên những tháp ngà và cũng không phải là một thứ xa xí phẩm quá đắt giá mà quần chúng không có khả năng với tới. Từ những ý niệm căn bản này, để vực dậy nền giáo dục ĐBBSCL, không thể không dồn nỗ lực để xây dựng hai mô hình đại học song song: Đại học vùng và Đại học cộng đồng.
1. Đại học vùng:
Đây là nơi tập trung chất xám, trí tuệ của khu vực. Nói khu vực là nói theo cách khoanh vùng địa lý, nhưng thật ra đại học này mang tầm vóc của một đại học quốc gia bởi vì đây sẽ là nơi phát hiện và đào tạo nhân tài cho quốc gia trên mọi lãnh vực. Trên quy mô như thế, nó đòi hỏi một sự đầu tư lớn lao và sự đóng góp, chia xẻ không những từ phía chính quyền trung ương mà của cả 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL, để biến đai học này không những là niềm hãnh diện của khu vực mà sẽ là niềm hãnh diện chung của cả quốc gia. Tiến trình này đòi hỏi một sự chuẩn bị chu đáo từ cơ sở vật chất, nội dung đào tạo, đến đội ngũ giảng dạy cũng như sự hợp tác quốc tế.
2. Đại học cộng đồng:
Đại học cộng đồng gắn bó chặt chẽ hơn với nhu cầu của địa phương, của cộng đồng. Nó giúp cộng đồng giải quyết những vấn nạn trước mắt, trong đó kể cả việc giải quyết “nguồn nhân lực có trình độ thấp như hiện nay” theo cách nói của GS Lê Quang Minh, hay cụ thể hơn, đó là tình trạng tỉ lệ thất nghiệp của người dân ở vùng ĐBSCL tương đối khá cao hiện nay. Đại học cộng đồng bao gồm cả những chương trình huấn nghệ ngắn ngày (3 tháng, 9 tháng, 2 năm) để giải quyết nạn thất nghiệp cũng như cung ứng đủ đội ngũ chuyên viên cán sự cho tiến trình đô thị hoá các thành phố trong vùng, đồng thời nó cũng giúp đại học vùng giải quyết 2 năm đầu của chương trình đòi hỏi tổng quát và làm nhẹ gánh nặng tài chánh cho sinh viên.
Gắn liền với địa phương, Đại học cộng đồng nắm vững và khai thác được thế mạnh của địa phương để mang lại phúc lợi cho cư dân trong vùng. Hãy lấy một thí dụ cụ thể. Bến Tre là quê hương của xứ dừa. Đại học cộng đồng ở đây sẽ giúp cho người dân địa phương phát triển về kỹ thuật chế biến thực phẩm, sản xuất những đồ gia dụng từ nguồn nguyên liệu này. Những sinh viên có đầu óc thẩm mỹ, sáng tạo cũng có thể tạo ra những sản phẩm trang trí nội thất cho nhu cầu nội địa cũng như xuất khẩu. Phân khoa thương mãi có thể giúp những nhà kỹ nghệ địa phương thiết lập những mẫu chào hàng, thực hiện brochure và ngay cả việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ nội địa cũng như quốc tế…
Với diện tích gần 40 ngàn km2 - chiếm 12% diện tích cả nước, và một dân số khoảng 17 triệu người - chiếm 21% dân số cả nước, vùng ĐBSCL có những tiềm năng lớn lao về kinh tế trên khắp các mặt nông nghiệp, thủy sản, dầu khí và du lịch mà cụ thể là trong năm rồi (2005) đã góp phần lớn trong việc nâng tổng số gạo xuất khẩu lên 5.204 triệu tấn, vượt kỷ lục năm 1999 là 4.5 triệu tấn, lần đầu tiên đưa kim ngạch vượt mức 1.279 tỉ USD. Với sự quan tâm đúng mức của những bộ phận trách nhiệm và nỗ lực của địa phương, nền giáo dục vùng ĐBSCL chắc chắn có đủ mọi điều kiện để cất cánh, đó là nhận định của GS/TS Lê Phước Sang, nguyên Viện Trưởng Viện Đại học Hoà Hảo (An Giang) trước 1975. Ông cũng nói đến một khía cạnh đặc thù của vùng ĐBSCL là “trong số 17 triệu cư dân của vùng này, có đến 7, 8 triệu người là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo (gần 50% dân số) vốn xem trọng sự nghiệp phát triển TRÍ TUỆ (Duy Tuệ Thị Nghiệp), phát huy được yếu tố tích cực này sẽ tạo nên một nỗ lực đóng góp có ý nghĩa của cộng đồng Phật Giáo Hoà Hảo vào sự tiến bộ chung của đất nước và của cả khu vực.” (4)
CHÚ THÍCH:
(1) Xem diễn văn của Viện Trưởng nhân dịp lễ tựu trường, 21-8-2005: http://www.butler.edu/president/Downloads/firstyearconvo2005.pdf
(2) Báo cáo của “Nhóm Hành Động Chống Đói Nghèo”: http://www.worldbank.org.vn/TV/strategy/cprsvn/pdf/MekongPPA_Vie.pdf
(3) Thanh Hoài, Giải Pháp cho Giáo Dục ĐBSCL – Doanh Nhân CT #5, 12/08/05.
(4) TS Lê Phước Sang nguyên là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Giáo Dục Thanh Niên Sinh Viên, Học Sinh PGHH. Ông cũng là Thượng Nghị Sĩ, Chủ Tịch Ủy Ban Văn Hoá Giáo Dục Thượng Viện VNCH.
© 2008 www.danchimviet.com
• 57 người Á Châu
• 21 người Âu Châu
• 14 người vùng Tây bán cầu
• 8 người Phi Châu
• 52 sẽ là đàn bà
• 48 sẽ là đàn ông
• 70 người da màu
• 30 người da trắng
• 70 theo tín ngưỡng ngoài Cơ Đốc
• 30 người Cơ Đốc giáo
• 94 dị tính luyến ái
• 6 sẽ là đồng tính luyến ái
• 6 người nắm 59% của cải của toàn thế giới, và tất cả 6 người đó đều là người Mỹ
• 80 sống trong tình trạng gia cư dưới tiêu chuẩn
• 70 người mù chữ
• 50 sống trong tình trạng thiếu dinh dưỡng
• 1 sắp chết
• 1 người được sinh ra đời
• và 1 người, vâng, chỉ một người thôi, được bước chân vào đại học.
Như vậy, căn cứ vào bản thống kê nói trên, người ta thấy rằng trên thế giới này tính trung bình cứ 100 người mới chỉ có một người có được cơ may bước chân vào ngưỡng cửa đại học. Đây là một tỉ lệ đáng để cho mọi người phải suy nghĩ. Đối với những quốc gia chậm tiến như Việt Nam tỉ lệ này sẽ còn thấp hơn và đăc biệt, ở tại một số vùng trong nước, cụ thể như vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), tỉ lệ này lại còn thấp hơn nữa, vào khoảng .6% như một bản thống kê vừa được công bố vào hồi cuối năm rồi. Cái đại bộ phận 99 người không được may mắn có được một nền học vấn cao hơn theo GS/TS Bobby Fong, Viện Trưởng Viện Đại học Butler, Indiana, một trường Đại học cổ kính vào bậc nhất Hoa Kỳ với 150 năm lịch sử, trong bài diễn văn khai mạc năm học vừa rồi là do hai nguyên nhân chính: Thứ nhất là vì gia đình nghèo, cha mẹ không đủ khả năng tài chánh để trang trải những phí tổn cho con cái hoàn tất chương trình Đại học ngày càng tăng cao ở khắp nơi trên thế giới, và thứ hai, con cái được sinh ra trong một gia đình mà cha mẹ không ý thức được giá trị của học vấn nên đã không khuyến khích, tạo điều kiện cho con cái theo đuổi một nền học vấn cao hơn vì họ không thấy có nhu cầu. (1)
![]() |
| Bản đồ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long |
Thứ hai, theo như nhận xét của những người quan tâm đến lãnh vực giáo dục, vùng ÐBSCL chưa tạo được cho mình một môi trường học tập cần thiết, hay nói một cách rõ ràng và cụ thể hơn, tâm lý và nhận thức quần chúng ở địa phương chưa đánh giá đúng mức giá trị của học vấn, giáo dục. Đã có một thời rất lâu, vùng ĐBSCL là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với đất đai màu mỡ phì nhiêu do phù sa bồi đắp, với thời tiết lý tưởng cho các hoạt động canh tác, gieo trồng, thế nên đây là một vùng đất mà con người có thể “làm chơi, ăn thiệt” với thực phẩm, cá tôm, cây trái đầy dẫy khắp nơi. Thoả mãn trong một điều kiện sống kinh tế như thế nên người dân địa phương không có ý hướng vươn lên. Đồng tình với nhận xét này, trong một hội nghị chuyên ngành về giáo dục tổ chức hồi gần đây, một nhân vật lãnh đạo TP Cần Thơ đã phát biểu: “Ở vùng đồng bằng này, do ảnh hưởng lâu đời của nông nghiệp, nông thôn, cho nên chưa tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong học tập. Thói quen thỏa mãn trình độ của nhiều người, kể cả đội ngũ cán bộ công chức còn lớn. Cũng con người đó ở địa phương chỉ dừng lại ở trình độ đại học, nhưng cũng con người đó, lên TP Hồ Chí Minh không bao lâu sẽ có bằng sau đại học, ngoại ngữ cũng tốt hơn. Môi trường học tập sẽ tạo sự cạnh tranh lành mạnh để mọi cá nhân phấn đấu vươn lên.”
![]() |
![]() |
![]() |
| Cuộc sống Đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn: internet) |
Căn cứ trên tinh thần của bản hướng dẫn này người ta có thể thấy được rằng về lãnh vực giáo dục, vùng ĐBSCL đã bị tụt hậu 5 năm so với mức phát triển bình quân chung của cả nước và 10 năm so với một số vùng có mức phát triển cao hơn. Đây là tình trạng tụt hậu trong một bối cảnh tụt hậu chung của cả nước mà bất cứ ai có lòng, nếu nhìn vấn đề trên khía cạnh lợi ích lâu dài của dân tộc, không thể không quan tâm. Bởi vì không cần phải là một nhà lý luận hay chuyên gia phân tích kinh tế, ai cũng có thể thấy được rằng, trong bối cảnh của một thế giới toàn cầu hoá hiện nay, trong khi các quốc gia tiên tiến trên thế giới và ngay cả những quốc gia trong khu vực đang đi bằng những đôi hia bảy dặm trên mọi lãnh vực, tình trạng tụt hậu của Việt Nam sẽ dẫn đến hệ quả lệ thuộc về kinh tế và ngay cả về mặt chính trị. Đứng trước vấn nạn này, đã có những hội nghị của các bộ phận chuyên môn ở trong ngành cũng như những đóng góp ý kiến của quần chúng quan tâm. Thế nên, để có thể nắm bắt được vấn đề, trước tiên ta không thể không nhìn vào sự phân tích, đánh giá và hướng giải quyết của những người “trong cuộc”, tức là những nhà trí thức, chuyên môn về giáo dục tại địa phương.
Trong một hội nghị chuyên ngành về giáo dục được tổ chức tại Thành phố Cần Thơ hồi cuối năm rồi (tháng 8/2005), Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang đưa ra nhận xét rằng: “Hai vấn đề cấp bách cần giải quyết để vực dậy Giáo Dục và Ðào Tạo ÐBSCL là tập trung nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và thay đổi quy trình đào tạo giáo viên”, vì ông cho rằng “giáo dục phổ thông ở ÐBSCL còn bất cập, quy mô và hiệu quả chưa đồng đều, nhiều địa phương vẫn còn chạy theo thành tích. Công tác đào tạo giáo viên thiếu khoa học, chưa thật sự lựa chọn được người giỏi, tâm huyết cho ngành.”
Trong khi đó, PGS.TS Lê Quang Minh, Hiệu trưởng Trường ÐH Cần Thơ nhấn mạnh tới yêu cầu thành lập trường Cao Ðẳng cộng đồng, vì “loại hình trường này là chính sách thích hợp trong bối cảnh nguồn nhân lực có trình độ thấp như hiện nay.” Ông nhấn mạnh thêm: “Muốn thay đổi diện mạo một nền giáo dục cần có thời gian và những bước đi thích hợp, quan trọng là có cơ chế, chính sách thỏa đáng. Ðại học Cần Thơ tiến hành thực hiện đề án gửi 1.300 học sinh đi du học nước ngoài để làm nòng cốt cho trí thức ÐBSCL trong tương lai.”
![]() | |
| ĐH Cửu Long | ĐH Cần Thơ |
Tại sao? Bởi vì nếu quy trách tình trạng tụt hậu của nền giáo dục vùng ĐBSCL vào chất lượng đào tạo và đội ngũ giáo viên thì một câu hỏi đặt ra là, tại sao cũng với nội dung đào tạo đó và cũng con người (giáo viên) đó lại có hiện tượng giáo dục Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH: bao gồm các tỉnh thành: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hải Dương Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình) vượt trội hơn vùng ĐBSCL đến 10 năm theo như đánh giá hiện nay của Bộ GD-ĐT Việt Nam? Như vậy, nếu phân tích vấn đề dưới lăng kính khoa học, ta sẽ thấy rằng cả hai yếu tố nội dung đào tạo lẫn giáo viên không phải là những yếu tố chính đã tạo nên khoảng cách biệt về tình trạng giáo dục giữa hai vùng ĐBSCL và ĐBSH. Nguyên nhân chắc hẵn là phải nằm ở những chỗ khác mà bằng vào những phương pháp và phương tiện nghiên cứu hiện nay về lãnh vực khoa học xã hội, nhân văn, người ta sẽ tìm ra không mấy khó khăn. Mà thực ra, chúng ta cũng không cần phải tốn thì giờ và tiền bạc để thực hiện một công cuộc nghiên cứu như thế, bởi vì khi nhìn vào kết quả, người ta cũng có thể suy ra một số tiền đề. Cụ thể như khi đánh giá rằng giáo dục vùng ĐBSCL tụt hậu 10 năm so với vùng ĐBSH, người ta cũng có thể hình dung ra được rằng mức sống kinh tế của người dân vùng ĐBSH hiện nay chắc là phải cao hơn là vùng ĐBSCL và một khả năng khác cũng không thể loại trừ là, người dân vùng ĐBSH có tinh thần hiếu học hơn là vùng ĐBSCL. Hai yếu tố này chính là hai nguyên nhân cơ bản đã cản trở 99% nhân loại không bước vào được ngưỡng cửa đại học như đã nói ở trên.
Như vậy, một cuộc cải cách giáo dục muốn đạt được hiệu quả cao phải được tiến hành đồng bộ trên khắp mọi lãnh vực bởi vì sự tương quan và những ảnh hưởng dây chuyền của các bộ phận liên đới trong xã hội. Nói một cách cụ thể hơn, hai nguyên nhân cơ bản làm cản trở bước đi của giáo dục cần phải được khắc phục. Trước mắt là nâng cao mức sống kinh tế của người dân bằng những biện pháp thực tiễn trong nỗ lực xoá đói giảm nghèo và giải quyết nạn thất nghiệp. Công tác này cần được thực hiện song song với việc bảo vệ môi trường bởi vì nếu không có một chính sách bảo vệ môi trường đủ mạnh và hữu hiệu, tất cả những nguồn tài nguyên của vùng ĐBSCL sẽ mau chóng cạn kiệt mà hậu quả là với tình trạng dân số ngày càng gia tăng, người dân địa phương lại sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn đói nghèo. Một người anh em song sanh của đói nghèo là bệnh tật. Bệnh tật – hay nói một cách bao quát hơn là vấn đề y tế - đã ngốn đi một số lượng lớn ngân sách quốc gia, làm tiêu mòn và đôi khi làm phá sản luôn cả ngân sách gia đình. Vùng ĐBSCL với một hệ thống sông ngòi, kênh đào chằng chịt với tổng chiều dài hơn 28,000 km mà cư dân ở địa phương - đặc biệt là vùng nông thôn - đã xem đây là nguồn nước chính trong sinh hoạt thường nhật, thế nên vấn đề vệ sinh môi trường, chống ô nhiễm nguồn nước không thể không được đặt ra. Vấn đề đảm bảo sức khoẻ cho người dân vì thế cũng là một trong những mục tiêu ưu tiên trong nỗ lực xoá đói giảm nghèo. Trên đây chỉ là một vài nét phác chủ yếu nhằm tạo điều kiện, cơ sở thuận lợi cho việc cải cách giáo dục.
Vấn đề cơ bản thứ hai là yếu tố tâm lý. Muốn xoá tâm lý tiêu cực xem nhẹ học vấn ở người dân phải khơi dậy được tinh thần “tôn sư trọng đạo” một thời là bản sắc độc đáo của người nông dân Nam bộ. Trách nhiệm này không còn là trách nhiệm của những người lãnh đạo giáo dục mà là của tất cả các cấp lãnh đạo nhà nước và của toàn thể quốc dân. Phải nâng cao vị thế xã hội của người thầy trước mắt quần chúng và đồng thời đảm bảo được mức sống kinh tế ổn định cho đội ngũ giáo viên. Hầu như ở khắp nơi trên thế giới, thành phần giáo chức thường bị bạc đãi. Tai Việt Nam, cả xã hội ngày càng lao nhanh vào nền kinh tế thị trường trong khi bộ phận giáo dục lại không mang đến lợi nhuận, không làm nên của cải, cho nên việc “đầu tư” đã không được quan tâm đúng mức. Đã đến lúc cả bộ phận lãnh đạo lẫn quốc dân phải nhận thức đúng đắn rằng giáo dục phải là lãnh vực đầu tư ưu tiên hàng đầu, bởi vì tương lai của đất nước, dân tộc cường thịnh hay suy yếu là do ở chỗ này, là khởi đi từ đây.
Nhiệm vụ của giáo dục nói chung là đào tạo con người, là mở mang và nâng cao dân trí, trong đó nền giáo dục đại học đóng một vai trò quan trọng. Có thể nói một cách khẳng định rằng, cả bề mặt lẫn chiều sâu của một nền giáo dục quốc gia được thể hiện qua nền giáo dục đại học. Chính tại đây, thông qua những công trình nghiên cứu có chiều sâu của giới trí thức chuyên môn về khắp các mặt xã hội, kinh tế, văn hoá, chính trị mà chính sách quốc gia được hình thành. Mặt khác giáo dục gắn liền với một khung cảnh xã hội nhất định, trong một thời điểm nhất định thế nên nó không thể sống tách biệt với xã hội đang cưu mang nó. Nhiệm vụ cụ thể của Đại học vì thế là phải tiếp tay với cộng đồng, với địa phương để giải quyết những vấn nạn chung của xã hội. Đại học không xây lên những tháp ngà và cũng không phải là một thứ xa xí phẩm quá đắt giá mà quần chúng không có khả năng với tới. Từ những ý niệm căn bản này, để vực dậy nền giáo dục ĐBBSCL, không thể không dồn nỗ lực để xây dựng hai mô hình đại học song song: Đại học vùng và Đại học cộng đồng.
1. Đại học vùng:
Đây là nơi tập trung chất xám, trí tuệ của khu vực. Nói khu vực là nói theo cách khoanh vùng địa lý, nhưng thật ra đại học này mang tầm vóc của một đại học quốc gia bởi vì đây sẽ là nơi phát hiện và đào tạo nhân tài cho quốc gia trên mọi lãnh vực. Trên quy mô như thế, nó đòi hỏi một sự đầu tư lớn lao và sự đóng góp, chia xẻ không những từ phía chính quyền trung ương mà của cả 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL, để biến đai học này không những là niềm hãnh diện của khu vực mà sẽ là niềm hãnh diện chung của cả quốc gia. Tiến trình này đòi hỏi một sự chuẩn bị chu đáo từ cơ sở vật chất, nội dung đào tạo, đến đội ngũ giảng dạy cũng như sự hợp tác quốc tế.
2. Đại học cộng đồng:
Đại học cộng đồng gắn bó chặt chẽ hơn với nhu cầu của địa phương, của cộng đồng. Nó giúp cộng đồng giải quyết những vấn nạn trước mắt, trong đó kể cả việc giải quyết “nguồn nhân lực có trình độ thấp như hiện nay” theo cách nói của GS Lê Quang Minh, hay cụ thể hơn, đó là tình trạng tỉ lệ thất nghiệp của người dân ở vùng ĐBSCL tương đối khá cao hiện nay. Đại học cộng đồng bao gồm cả những chương trình huấn nghệ ngắn ngày (3 tháng, 9 tháng, 2 năm) để giải quyết nạn thất nghiệp cũng như cung ứng đủ đội ngũ chuyên viên cán sự cho tiến trình đô thị hoá các thành phố trong vùng, đồng thời nó cũng giúp đại học vùng giải quyết 2 năm đầu của chương trình đòi hỏi tổng quát và làm nhẹ gánh nặng tài chánh cho sinh viên.
Gắn liền với địa phương, Đại học cộng đồng nắm vững và khai thác được thế mạnh của địa phương để mang lại phúc lợi cho cư dân trong vùng. Hãy lấy một thí dụ cụ thể. Bến Tre là quê hương của xứ dừa. Đại học cộng đồng ở đây sẽ giúp cho người dân địa phương phát triển về kỹ thuật chế biến thực phẩm, sản xuất những đồ gia dụng từ nguồn nguyên liệu này. Những sinh viên có đầu óc thẩm mỹ, sáng tạo cũng có thể tạo ra những sản phẩm trang trí nội thất cho nhu cầu nội địa cũng như xuất khẩu. Phân khoa thương mãi có thể giúp những nhà kỹ nghệ địa phương thiết lập những mẫu chào hàng, thực hiện brochure và ngay cả việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ nội địa cũng như quốc tế…
Với diện tích gần 40 ngàn km2 - chiếm 12% diện tích cả nước, và một dân số khoảng 17 triệu người - chiếm 21% dân số cả nước, vùng ĐBSCL có những tiềm năng lớn lao về kinh tế trên khắp các mặt nông nghiệp, thủy sản, dầu khí và du lịch mà cụ thể là trong năm rồi (2005) đã góp phần lớn trong việc nâng tổng số gạo xuất khẩu lên 5.204 triệu tấn, vượt kỷ lục năm 1999 là 4.5 triệu tấn, lần đầu tiên đưa kim ngạch vượt mức 1.279 tỉ USD. Với sự quan tâm đúng mức của những bộ phận trách nhiệm và nỗ lực của địa phương, nền giáo dục vùng ĐBSCL chắc chắn có đủ mọi điều kiện để cất cánh, đó là nhận định của GS/TS Lê Phước Sang, nguyên Viện Trưởng Viện Đại học Hoà Hảo (An Giang) trước 1975. Ông cũng nói đến một khía cạnh đặc thù của vùng ĐBSCL là “trong số 17 triệu cư dân của vùng này, có đến 7, 8 triệu người là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo (gần 50% dân số) vốn xem trọng sự nghiệp phát triển TRÍ TUỆ (Duy Tuệ Thị Nghiệp), phát huy được yếu tố tích cực này sẽ tạo nên một nỗ lực đóng góp có ý nghĩa của cộng đồng Phật Giáo Hoà Hảo vào sự tiến bộ chung của đất nước và của cả khu vực.” (4)
CHÚ THÍCH:
(1) Xem diễn văn của Viện Trưởng nhân dịp lễ tựu trường, 21-8-2005: http://www.butler.edu/president/Downloads/firstyearconvo2005.pdf
(2) Báo cáo của “Nhóm Hành Động Chống Đói Nghèo”: http://www.worldbank.org.vn/TV/strategy/cprsvn/pdf/MekongPPA_Vie.pdf
(3) Thanh Hoài, Giải Pháp cho Giáo Dục ĐBSCL – Doanh Nhân CT #5, 12/08/05.
(4) TS Lê Phước Sang nguyên là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Giáo Dục Thanh Niên Sinh Viên, Học Sinh PGHH. Ông cũng là Thượng Nghị Sĩ, Chủ Tịch Ủy Ban Văn Hoá Giáo Dục Thượng Viện VNCH.
© 2008 www.danchimviet.com
Rỉ Tai
2 Responses to "Để cho nền giáo dục vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh" 
|
said this on 25 Aug 2008 11:42:58 AM EST
Nha nuoc Cong San khong chu truong xay truong hoc them,ma chi cap giay phep mo Quan BAR,Vu truong,Karaoke v.v ,Cac noi chon an choi lu bu de phuc vu cac con cua bon quan chuc,tieu xai phu phe,bang dong tien cuop duoc cua dan ma thoi
|
|
said this on 01 Sep 2008 3:28:23 PM EST
Nền giáo dục không khai phóng
================== Nền giáo dục nhân dân Nhồi nhét đầu chủ tâm Tạo công dân hạt bột Chăm chỉ cúi trung thành Nền giáo dục quốc doanh Hoang tưởng lỗi thời quanh Không tạo công dân tốt Thích ứng phó đổi nhanh Về đâu Giáo dục Quê Hương ??? ================== Đạo học ngày nay đã hỏng rồi 10 thằng đi học 9 thằng thôi ! Cô hàng bán sách lim dim ngủ Thầy khoa tư thông nhấp nhổm ngồi Tú Xương Where is the Life we have lost in living? Where is the wisdom we have lost in knowledge? Where is the knowledge we have lost in information? Về đâu Cuộc đời mà chúng ta đánh mất trong dòng sống ? Minh triết về đâu rồi, chỉ còn lại vài tri thức ! Tri thức về đâu rồi, chỉ còn lại mớ thông tin! Nhà văn Mỹ Eliot Tự vấn thế giới biến đổi nhanh Canh tân khẩn thiết gốc đến cành Óc cần đào tạo động não tốt Liên kết tri thức dòng đời quanh Thách thức trước Tương Lai : Sống - Chết ? Ngôi Làng Toàn cầu - lũy tre xanh Dòng chính vào biển lớn hội nhập Tuyệt đối nhường Tương đối mong manh ! * * * Trái đất lập phương rồi khối cầu Không gian sụp đổ thu vực sâu Công nghệ xích Thời gian gần múi Thế giới đang phẳng dần làng sau Bỗng chốc thành công dân thế giới Biến động phức hợp tăng tốc mau Cách tân tư duy theo nhịp sống Đui mù nhận thức chắc nhỡ tàu Sử Lịch không bao giờ quay đợi Ngậm ngùi tủi thẹn cuộc bể dâu ! * * * Giáo dục Việt Nam vươn mình lên Rượt bắt trào lưu Thời đại rền Truy đuổi vô vọng vừa kiệt sức Chiến tranh - Bảo thủ - .. .. còn bao tên ? Nhu cầu thị trường mong thực dụng Chiến thuật thay chiến lược dài quên Mì ăn liền bỏ qua hương vị Phở ! Đột phá bế điểm nhắm mũi tên * * * Âm dương hành xử nhu thắng cương Nhân bản nhân văn chất yêu thương Trước cơn bão lốc tầm thời đại Tĩnh thiền về nguồn cội tâm trường Quán triệt sâu thẳm về Chánh đạo Tự phân giải biến động nhiễu nhương Bao dung cùng tha nhân giao cảm Tâm trí ưu luyện nắm hiện trường Nghĩ về Giáo dục hôm nay ================== KHAI MINH soi mở óc giáo điều NHÂN BẢN giảm thực dụng khá nhiều Giáo dục quá trình học - hỏi - nghĩ Bao dung độc lập thành không kiêu Chào đa nguyên mở vòng tay rộng Thích nghi môi trường sống phong nhiêu Không lưỡi gỗ sơ cứng não trạng Nhà trường Nhà nước tạo bao nhiêu ??? Triệu Lương Dân Nguyễn Hữu Viện |







Author/Admin)