LTS: Sau đây là một bài tâm huyết của một người lính Mỹ gốc Việt, viết từ 3 năm trước. Tuy đọc giả có thể không đồng  ý với nhận định của tác giả trẻ này, một người vẫn còn mang nhiều ước vọng và lý tưởng cao đẹp đối với những lý tưởng tự do, dân chủ của Hoa Kỳ, anh ta chỉ viết lên những cảm nghĩ, những niềm tin, và ân nghĩa son sắt anh cưu mang đầy ắp trong lòng.  Giống như nhiều chiến sĩ từ nhiều cuộc chiến khác, đây chỉ là những xuất phát tự nhiên đến từ một  tình cảm chân chất.
Người có tuổi thường hay chua chát với cuộc đời vì những đắng cay cũng như hành trang trên những lộ trình cam go mà mình phải vượt qua. Họ có ganh tị gì với những lời bày tỏ chân tình của người lính trẻ này không?
Tỉ dụ như tâm trạng của những bộ đội miền Bắc còn sống sót đến thời nay, nếu như lý tưởng đánh đuổi thực dân Pháp hay chống Mỹ cứu nước, giải thoát cho đồng bào miền Nam là những bầu nhiệt huyết họ ôm ấp trong lòng vào tuổi hai mươi, ngày nay, ngót nửa thế kỷ nhìn lại, không hiểu họ có mang nuối tiếc gì không? Âu đó cũng là những gì đàn em đi sau rất mong tìm đến vậy.

(Đọc phần chuyển ngữ tiếng Việt bên dưới)

The American public often debates the similarities between the Vietnam War and the US military presence in Iraq. Americans wonder whether Iraq is another Vietnam. Only history will answer that daunting question. However, for me, Vietnam and Iraq are indistinguishable.  I can make this bold statement because I am a Vietnamese American that happens to serve in Iraq in support of OIF and whose childhood bears the tragedies of the Vietnam War and its aftermath.

 

US Embassy Sai-Gon-1975
Nguồn: www.losethewar.org
My story can’t be told without mentioning a dark moment in US History.  My story originated in a country that most Americans have forgotten. Just like the current foreign policy in Iraq, 31 years ago America was conducting the same tasks of promoting democracy, stabilizing a volatile country, and protecting its national interest. Instead of combating Islamic fascisms, America was countering communism.  Likewise, instead of containing Syrian and Iranian influence in Iraq, America was preventing the encroachment of Soviet and China’s influences in Vietnam.

When American forces abandoned their South Vietnamese ally in 1973 and left the South Vietnamese to fend for themselves at the end of April, 1975, panic and chaos immediately followed. The fall of Saigon marks an emotional and painful event for both my family and millions of Vietnamese living in exile abroad. When Saigon fell, millions of Vietnamese saw an end to hope, an end to a country, and a tragic end of a struggle to life, liberty, and self determination. The American withdrawal and the Communist invasion of South Vietnam resulted in one of the largest refugee migration in modern history. 

From 1975-1978, over 120,000 Vietnamese refugees settled in Camp Pendleton, CA, Fort Chaffee, AK and Fort Indiantown Gap, PA.  During the entire humanitarian relief program, the United States admitted over 200,000 Vietnamese, Australia and Canada admitted 137,000 each, France accepted 96,000 and Germany and UK allowed 19,000 Vietnamese refugees between the two countries.

 

Nguồn: www.sites.si.edu

Under the moonlit night in the spring of 1984, when I was barely three, my dad took me from my mother’s arms and put me on a small fishing boat.  I was joined by my older sister, Vanessa.  On the boat, I also saw my uncles, cousins, and other relatives.  I remembered looking for my mother and my younger sister, Sen.  My search was fruitless because unknown to me at the time, my parents agreed that my mother should stay behind to take care of my younger sister since the trip is too risky to loose an entire family.  We set sail to the east in an attempt to flee the tyranny of communism just like thousands of other Vietnamese boat people before us.  A humanitarian ship picked us up in the South China Sea and settled us in one of the many refugees camp established by the United Nation following the end of the Vietnam War.  My immediate family were granted political asylum by the United States and finally settled in Oakland, California.  My other relatives found new homes in Australia and other European Countries who were sympathetic toward our plight.

In America I grew up without a mother and I was constantly reminded about the Vietnam War.  My dad and his friends would often discuss the war and the homeland that they lost.  Growing up in America I would often see neglected Vietnam War veterans meandering in the streets of San Francisco and Oakland.  In the Vietnamese communities throughout the Bay Area, I would see the old South Vietnamese flag that continues to serve as a rally point for millions of Vietnamese living in exiles.

Growing up and studying history in school, I researched as much as I could about the Vietnam War.  I came to the conclusion that the intentions of America’s involvement in Southeast Asia were true.  America was promoting and protecting democracy in South Vietnam, a country under constant pressure from Chinese and Russian communists influence.  I was also overwhelmed by the fact that so many American service members served, fight, and died to defend a homeland that my dad always reminisces about.  I was also flattered by the social and public assistance programs that my family was receiving.  I was grateful for everything America did but simultaneously I was also laden with guilt.

In 1997, I decided not to attend college after graduating from High School.  Instead my mind was set in serving in the military.  I wanted to ray retribution to America for her sacrifices with service and commitment to defend America in future conflicts.  I enlisted in the Army and served 2 years in the Army as an E-4 Specialist.  In 1999, I was given the opportunity to attend the United States Military Academy at West Point.  I jumped on that offer because I knew that my contribution to America would be greater serving in a capacity as an officer than as a junior enlisted.  I wanted to make decisions and help guide national security policies. 

Prior to attending West Point, I made a visit to Vietnam Memorial in Washington, DC and National Cemetery in Arlington, VA.  I paid my respect to the thousands of service members who gave the ultimate sacrifice to defend my country.  I also had a chance to visit my mother and Sen for the first time in 15 years.  The social injustice and the lack of civil liberties in Vietnam infuriated me.  I went to West Point with a burning desire to make a difference.

 
 Vietnam Memorial Wall in Washington DC
Nguồn: www.stellapopeduarte.com

In 2001, I watched United Airline’s flight 175 crashed into the South Tower in New York City.  With the collapsed of the Word Trade Center came uncertainties in my future.  I graduated from West Point in 2003 with a degree in Systems Engineering.  Vice President Cheney spoke at my graduation and warned us about the uncertainty of war and how the war on terror would be completely different from any other war.  Like many of my classmates, I was touched by his speech and very proud of my accomplishment.  Prior to reporting to my first duty station, I revisited the Vietnam Memorial and Arlington National Cemetery hoping to find guidance. 

 
Class 2003 Graduation Day
Nguồn: www.usma.edu

Việt Nam và Iraq: một vòng lẩn quẩn
Nguyễn-Khoa Thái Anh và tivo chuyển ngữ

 
Công chúng Mỹ thường tranh cãi về sự tương quan giữa cuộc chiến tranh Việt Nam và sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Iraq.  Người Mỹ lo ngại vì không biết Iraq sẽ thành một cuộc chiến Việt Nam khác hay không. Hãy để lịch sử trả lời câu hỏi nhiều thách đố đó. Tuy nhiên, đối với tôi, không thể phân biệt hai cuộc chiến Việt Nam và Iraq. Tôi có thể phát biểu chắc nịch như vậy bởi vì tôi là một người lính Mỹ gốc Việt, đang phục vụ tại Iraq trong vai trò hổ trợ cho Chiến Dịch Tự Do Iraq (Operation Iraq Freedom), và cũng là người có một tuổi thơ mang đầy dấu tích bi thảm của cuộc chiến tranh Việt Nam và những hệ lụy của nó.


Tôi không thể kể được câu chuyện của tôi nếu không nhắc đến một giai đoạn đen tối của lịch sử nước Mỹ.  Nó đã bắt đầu từ một đất nước mà hầu hết người Mỹ đã lãng quên. Tương tự như chính sách đối ngoại tại Iraq hiện nay, ba mươi mốt năm trước, Hoa Kỳ đã thực hiện nghĩa vụ quảng bá dân chủ, ổn định một đất nước đầy sôi động, và bảo vệ quyền lợi quốc gia của họ. Thay vì chống chủ nghĩa phát xít Hồi giáo, Hoa Kỳ đã đánh chủ nghĩa cộng sản. Tương tự, thay vì ngăn cản ảnh hưởng của người Syrian và Iran lên Iraq, Hoa Kỳ đã chỉ ngăn ngừa sự xâm lăng của Sô Viết và ảnh hưởng của Trung Cộng lên Việt Nam. 

Khi quân đội Mỹ bỏ rơi đồng minh của mình và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, sự hoang mang và hỗn loạn kéo đến trong những ngày cuối tháng Tư năm 1975.  Sài Gòn thất thủ, đánh dấu một sự kiện đau lòng cho gia đình tôi và hàng triệu người Việt lưu vong.  Mất Sài Gòn, hàng triệu người Việt Nam đã nhìn thấy sự kết liễu của một đất nước, của hy vọng, và một kết thúc thảm thương cho một cuộc đấu tranh cho cuộc sống tự do và quyền tự quyết. Sự cưỡng đoạt miền Nam của Cộng Sản và cuộc rút quân của quân đội Hoa Kỳ đã tạo nên một trong những làn sóng tỵ nạn lớn nhất trong lịch sử cận đại.

Từ 1975-1978, hơn 120,000 người Việt tỵ nạn đã ổn định cư tại Camp Pendleton, CA, Fort Chaffe, AK và Fort Indiantown Gap, PA.  Trong toàn chương trình cứu trợ nhân đạo, Hoa Kỳ đã nhận tổng cộng hơn 200,000 người Việt, Úc và Canada mỗi nước nhận 137,000 người, Pháp nhận 96,000 người, hai quốc gia Germany và UK nhận khoảng 19,000 người Việt tỵ nạn.

Vào một đêm trăng sáng mùa xuân năm 1984, khi tôi vừa tròn ba tuổi, ba tôi đã giành tôi khỏi vòng tay mẹ và đặt tôi vào một con thuyền nhỏ.  Sau đó là người chị cả của tôi, Vanessa.  Trên thuyền, tôi nhận ra các cậu, anh em chú bác, và nhiều người thân khác.  Tôi nhớ đã cố gắng tìm mẹ và Sen, em gái tôi.  Nhưng sự tìm kiếm của tôi đã vô vọng bởi lúc đó tôi không biết rằng do chuyến đi quá nguy hiểm có thể mất cả gia đình, ba mẹ tôi đã quyết định để mẹ tôi ở lại lo cho em tôi. Thuyền của chúng tôi đã đi về hướng Đông với mục đích trốn khỏi sự bạo ngược của cộng sản như bao nhiêu thuyền nhân khác trước đó.  Một chiếc thuyền nhân đạo đã cứu vớt chúng tôi tại vùng biển Nam Hải và giúp chúng tôi được ổn định trong một trại tỵ nạn được LHQ dựng lên sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Cuối cùng, gia đình tôi đã định cư tại thành phố Oakland, California sau khi được chính phủ Mỹ cấp quy chế tỵ nạn chính trị. Những quốc gia Âu Châu và Úc đã cảm thông được nỗi thống khổ của chúng tôi nên đã giúp đỡ những người thân khác của tôi tạo dựng lại đời sống mới.

Ở Mỹ, tôi lớn lên không có mẹ, và lúc nào cũng bị nhắc nhở đến chiến tranh Việt Nam. Ba tôi và những người bạn của ông thường tranh luận về cuộc chiến và một quê hương mà họ đã đánh mất. Trưởng thành tại Mỹ, tôi thường đuợc chứng kiến cảnh những người cựu chiến chiến binh Việt Nam bị bỏ rơi, lang thang trên các đường phố của San Francisco và Oakland. Trong cộng đồng người Việt vùng Bắc California, tôi cũng đã nhìn thấy lá cờ vàng tiêu biểu cho miền Nam Việt Nam vẫn được dùng làm tụ điểm cho hàng triệu người Việt lưu vong.

Khi lớn lên và được học sử trong trường, tôi cố gắng học hỏi và tìm tòi thật nhiều về chiến tranh Việt Nam.  Và tôi có thể kết luận rằng đích thực lý tưởng của Hoa Kỳ khi tham chiến ở Đông Nam Á là nhằm quảng bá và bảo vệ dân chủ cho miền Nam Việt Nam, một đất nước luôn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản từ Trung Quốc và Nga Sô. Tôi đã bàng hoàng khi biết được sự thật rằng biết bao nhiêu quân nhân Hoa Kỳ đã dấn thân, chiến đấu, và hy sinh để bảo vệ cho một đất nước mà ba tôi thường hồi nhớ đến.  Những chương trình trợ giúp xã hội mà gia đình tôi được hưởng cũng đã làm tôi cảm động.  Tôi biết ơn tất cả những gì đất nước Mỹ đã giành cho chúng tôi, nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy xấu hổ vì tủi nhục.

Năm 1997, tôi quyết định không thi vào đại học sau khi tốt nghiệp trung học.  Trái lạ tôi đã chọn phục vụ trong quân đội Mỹ.  Tôi muốn được tri ơn sự hy sinh của nước Mỹ bằng sự dấn thân phục vụ và góp phần bảo vệ Hoa Kỳ trong những xung đột trong tương lai.

Tôi nhập ngũ và phục vụ hai năm trong quân đội Mỹ với cương vị đặc nhiệm E-4. Năm 1999, tôi có cơ hội được gia nhập trường Sĩ Quan Quân Đội Hoa Kỳ tại West Point.  Tôi đã mừng rỡ chụp lấy cơ hội vì tin chắc rằng mình sẽ được đóng góp nhiều hơn trong môi trường sinh hoạt của các sĩ quan, thay vì chỉ là một người lính ở cấp dưới.  Tôi muốn được quyền quyết định và góp phần lèo lái chính sách an ninh quốc phòng.

 
 Ngày khai giảng khóa sĩ quan năm 2003
Nguồn: www.usma.edu

Trước khi nhập học tại West Point, tôi đã viếng thăm Đài Tưởng Niệm Việt Nam tại Washington, DC và nghĩa trang quân đội tại Arlington, VA. Tôi muốn được tỏ lòng ngưỡng mộ đến những anh hùng đã hy sinh chính bản thân mình để bảo vệ cho đất nước của tôi.  Tôi cũng có cơ hội trở về thăm mẹ và Sen sau mười lăm năm xa cách. Sự bất công và thiếu vắng quyền tự do căn bản của con người trong xã hội Việt Nam đã làm tôi phẩn nộ. Tôi trở về West Point với ưóc muốn  nung cháy trong lòng sẽ làm nên một công cán gì.

Năm 2001, tôi được chứng kiến chuyến máy bay 175 của United Airlines đâm thẳng vào Tòa Nhà Phía Nam của thành phố New York. Và tương lai của tôi cũng bấp bênh theo sự xụp đổ cuả Trung Tâm Thương Mại Thế Giới. Tôi tốt nghiệp West Point vào năm 2003, ngành Kỹ Sư Hệ Thống. Phó Tổng Thống Cheney đã phát biểu tại lễ ra trường và cảnh báo chúng tôi về sự đe dọa của chiến tranh, sự khác biệt của cuộc chiến chống khủng bố và những cuộc chiến tranh khác. Như các bạn, tôi đã xúc động về bài diễn văn của ông và rất hảnh diện về thành tích của mình.  Trước khi trình diện nhiệm sở đầu tiên, tôi trở lại viếng thăm Đài Tưởng Niệm Việt Nam và Nghĩa Trang Quân Đội Arlington với hy vọng tìm một hướng đi cho mình.

 
Trung tâm thương mại thế giới 11/09/2001
Nguồn: www.mass-murderers.com 

© 2008 danchimviet.com